Trầu Quế

Nguyễn Thị Ngọc Hà

Từ bé, tôi đã thấy mẹ tôi nghiện trầu, ở góc vườn đã có giàn trầu lúc nào cũng xanh tốt. Loại trầu này lá dày không to, gân lá nổi, ngọn lá nhọn cong, trầu vừa tới ăn cay nồng, lốm đốm vàng ăn cay ngọt, đó là Trầu Quế.

Giàn trầu ấy có từ ngày mẹ tôi về làm dâu, nghe nói bố tôi đã lên tận Chèm xin về ươm cho mẹ. Mẹ tôi chăm sóc nó kĩ lắm, không cho tưới nước gạo chua, nước rửa bát, nước điếu hay bất cứ nước bẩn nào khác, và rất khoát không cho tay người lạ hái, nếu đêm nào nhỡ trầu ăn, khi bảo tôi ra vườn hái bao giờ bà cũng dặn: “Con nhớ đánh thức nó rồi hãy hái nhé”. Vào những đêm sương giáng, mẹ tôi gỡ cả màn đang nằm ra che cho nó. Cuối năm đông tàn, khí hậu hanh khô giá buốt, trầu ở đâu cũng lụi, chỉ có giàn trầu nhà tôi mẹ che chắn tốt nên không những đủ trầu ăn mà còn biếu bà con quanh xóm mỗi nhà đôi liền ăn tết.

Trầu Quế - ảnh 1Những ngày lễ hội hàng năm, tôi thấy mẹ thắp hương ở bàn thờ nhà xin hái hết lứa trầu ấy dâng lên góp vào lễ làng. Trước khi lên đình, bao giờ mẹ cũng tắm gội rồi lấy “bộ cánh” ra mặc. Đầu vấn khăn nhung đen, quần lĩnh đen, phía trong mặc chiếc áo cánh nõn màu mỡ gà, phía ngoài khoác chiếc áo dài tứ thân nối vai với hai màu nâu đậm, nâu nhạt, đôi tà áo trước buộc hờ hững ngang eo, để lộ vạt áo cánh mỏng và dải thắt lưng phơn phớt hồng.

Một tay mẹ tôi đỡ xảo trầu ở trên đầu, một tay khoát gió nhịp nhàng, mỗi bước mẹ đi tà áo lại nhún nhảy theo, hai dải thắt lưng chạm gió bay lất phất về phía sau.

Mẹ tôi đẹp nền nã đằm sâu, kín đáo, không lồ lộ như mấy bà mấy cô trên phố thời bấy giờ. Tôi rất thích ngắm mẹ mình, nhất là những ngày hội làng. Mỗi khi ăn miếng trầu, trông mẹ tôi càng đẹp, đẹp đến huyền ảo, y như Người từ trong cổ tích bước ra. Thuở ấy bao giờ tôi cũng được mẹ cho đi theo, trước các bạn đồng lứa trong làng, tôi ngấm ngầm tự hào về mẹ.

Tôi lớn dần và học ở mẹ mình từng nét đẹp, từ cách đi đứng ăn nói, đến các đối nhân xử thế trước đời, chỉ có ăn trầu là không sao học nổi. Có lần tôi thử một miếng, vừa nhai giập lá trầu, toàn thân đã nóng ran, chếnh choáng, nghiêng ngả, hèn nào các cụ xưa nói: “Ăn miếng trầu dễ say nhau” là vậy.

Bố tôi mất từ ngày chị em tôi còn bé, mẹ đứng lại lặng lẽ nuôi dạy chúng tôi, cho chúng tôi ăn học nên ngời, rồi lại lặng lẽ tiễn em trai tôi vào tiền tuyến. Những năm giặc Mỹ đánh phá ác liệt ở miền Bắc, mẹ tôi nhất định không đi sơ tán, chỉ vì không muốn xa bàn thờ bố và không thể bỏ giàn trầu không ai chăm sóc. Chiến tranh đã qua từ lâu, nhưng những năm tháng cùng cực ấy còn theo gia đình tôi mãi, nó bào mòn thân thể mẹ tôi. Từng nét xưa chỉ còn phảng phất trên gương mặt xanh xao võ vàng. Sau này tôi tự dằn vặt mình mãi vì hồi ấy đã không cố ngăn mẹ ra ngồi bán trầu cau ở đầu làng.

Cái mẹt kê trên cái thúng có mấy liền Trầu Quế, mấy quả cau tươi, ở giữa mẹt là cái bình vôi bên ngoài đã xù xì hóa đá. Có lần tôi đứng trước mẹt hàng của mẹ mình, nén hơi thở thật sâu, giữ cho không bật khóc, nhìn hai bàn tay rõ từng đường gân nổi, gân chìm đang mê mải lần chọn những lá trầu mặt, tôi nói: “Bà ơi! Cho cháu mua…” Chưa kịp nghe hết câu, bà trả lời vội như sợ khách mua bỏ đi mất: “Cháu mua đi Trầu Quế nhà bà đấy, không phải trầu rừng đâu”. “Không! Cháu mua tất cả mẹt trầu cau, cả những vất vả đầu hôm sớm mai của bà…” Lúc ấy bà mới ngẩng đầu lên nhìn tôi: “Tiên nhân nhà chị, lỡm cả mẹ”. Bà lúng túng như trẻ con mắc lỗi, vừa nói vừa nhìn con gái với nụ cười mà sau này tôi không còn gặp lại ở bất kỳ ai, nụ cười ấy lúc nào cũng như ngọn lửa nhỏ, lay lay trong tâm tưởng tôi, vừa ấm lại vừa buồn.

Khó khăn thiếu thốn lùi dần về phía sau mỗi cuộc đời, mỗi gia đình. Xây xong nhà mới, vợ chồng tôi đón mẹ lên chơi. Ngày nào tôi cũng mua trầu cho mẹ, không hiểu sao bà cứ đi ra đi vào bần thần không vui, gặng mãi bà mới nói: “mai các con cho mẹ về, vắng mẹ giàn trầu héo mất”. Tôi thầm nghĩ, chắc không có Trầu Quế nên mẹ nói thế, chả nhẽ tôi lại bỏ hoang nó. Hôm đưa mẹ về, tôi xin mẹ một dây trầu ươm tại khoảnh vườn trước ngõ, để mỗi khi đón mẹ lên chơi, có Trầu Quế cho mẹ dùng. Tôi ươm mãi, đến lần thứ ba mới bén rễ.

* * *

Dây Trầu Quế tôi trồng giờ đã trổ rất nhiều lá, nhưng mẹ đã về một nơi xa lắm. Chẳng bao giờ tôi còn được đón mẹ lên chơi nữa. Mỗi đêm nhớ mẹ tôi thường ra đứng bên gốc trầu rất lâu. Sương khuya trong vắt từ những nõn trầu rớt xuống, chảy qua đêm, chảy qua muôn âm thanh của cỏ cây trong vườn, chảy qua tiếng kêu rỉ ri của lũ côn trùng ngoài bãi sông Hồng, rồi âm thầm chảy về tôi. Tôi úp mặt xuống hai lòng tay vừa hứng đầy những giọt sương lạnh. Không biết có phải mẹ đã hóa thân vào cây Trầu Quế tôi trồng hay không, mà từng giọt sương ấy như có vị thơm nồng, cay cay, mằn mặn thấm vào hồn tôi những tháng năm lận đận của một đời người, thấm đến tận cùng kí ức về mẹ.

Từ ngày ấy đến bây giờ, tôi chăm sóc giàn trầu của tôi cẩn thận như ngày xưa mẹ chăm sóc giàn trầu của mẹ. Mỗi độ xuân, tôi hái hết tất cả lứa trầu mang về dâng lên đình làng một mâm đầy. Đứng giữa sân đình, ngước nhìn lên bao la lồng lộng, lấp loá nắng xuân lẫn trong hương khói, phút ảo ảnh chập chờn, chợt tôi thấy thấp thoáng dải thắt lưng phơn phớt hồng, vấn vít giữa hai vạt áo dài màu nâu non của mẹ, hình như tôi vẫn về hội làng như thuở nào.


(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác