Thơ lục bát Xứ Thanh

(Toquoc)- Chào mừng Đại hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thanh Hoá lần thứ VIII, một tập thơ lục bát đã ra mắt bạn đọc - tập tuyển: “Thơ Lục bát Xứ Thanh (Phần hiện đại)” do các nhà thơ Huy Trụ, Đào Phụng, Trịnh Ngọc Dự tuyển chọn.

Đây là cuộc tập hợp “biểu dương lực lượng” thơ lục bát của nhiều thế hệ các nhà thơ Thanh Hóa - hình như cũng là tỉnh đầu tiên có một tập tuyển thơ lục bát quy mô như thế!. “Có bột mới gột nên hồ!” Thanh Hoá là địa phương có nhiều nhà thơ độc đáo và nổi tiếng, thời kỳ nào cũng có, đông đảo và đa dạng. Thơ lục bát là thể thơ thông dụng, hầu như người làm thơ nào cũng có trong hành trang của mình. Tập tuyển với hơn ba trăm bài thơ của hơn một trăm tác giả qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng đất nước. Nhiều gương mặt, nhiều giọng điệu, cung bậc... nhiều thế hệ các nhà thơ góp mặt trong một tập tuyển nhiều ý nghĩa.

Nền thơ Thanh Hoá nói chung và thơ lục bát nói riêng, ghi danh các nhà thơ, các vị tiền bối, các chiến sĩ cách mạng: Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Thanh Đàm (Võ Quyết)... Thơ các ông ghi lại tâm sự trong tù, lúc trên đường công tác, khi lo thoát khỏi vòng vây giặc, là lời nhắn nhủ bạn tù và đồng bào đứng lên đấu tranh, vô hình chung trở thành những người đặt nền móng cho thơ lục bát cách mạng Thanh Hoá sau này.

Đó là những vần lục bát cất lên từ những năm bốn mươi của thế kỷ trước: “Mây che u uất cánh đồng/ Sầu thu gợi mối sầu trong tiếng diều” (Chiều thu - Thôi Hữu), “Nắng hường tô đậm mái hiên/ Hỡi ngàn phương bạn, đứng lên động rừng” (Tương tư - Trần Mai Ninh), “Cây im rủ lá bụi mờ/ Cây ơi, nắng lắm rồi mưa đó mà!” (Chiều hè - Thanh Đàm)... Đấy là những vần thơ diễn tả tâm trạng, những khoảnh khắc chợt đến của những người “dứt áo” ra đi làm cách mạng, không thể không “động lòng” khi mùa thu đến, cảnh lúa mùa sắp gặt, mây quấn ngang đèo, nỗi nhớ bạn “chung thuyền”... nhưng không hề bi lụy mà tràn đầy lạc quan tin tưởng “nắng lắm rồi mưa đó mà!”

Nhưng nói thơ lục bát, phải kể từ trước đó - thời Thơ mới, Thanh Hoá với Hồ Dzếnh, Đái Đức Tuấn... thơ lục bát đã song hành cùng cuộc sống và vận mệnh dân tộc. Bằng âm thanh trầm bổng, nhịp điệu êm ái, dịu dàng, thơ lục bát đã đi vào muôn nẻo tâm hồn con người. Từ nỗi nhớ quê hương, quá khứ thanh bình, đến buồn nhớ trong tình yêu, bè bạn... thơ lục bát đã tỏ ra đắc dụng.

Khi Hồ Dzếnh viết:

Tôi về giữa xứ bâng khuâng

Nghe thơ lục bát gieo vần nhớ xưa ta cảm được cái buồn man mác, sự “nhập hồn” giữa tâm trạng nhà thơ và lời thốt ra qua thể lục bát! Xứ bâng khuâng! Không phải chỉ là vùng quê bên dòng sông Yên hiền hòa, thơ mộng - quê hương của hai nhà thơ Hồ Dzếnh, Đái Đức Tuấn và Mai Ngọc Thanh, Mai Linh, Trần Đương, Đào Phụng, Hữu Kim... sau này, còn là cả Xứ Thanh với những miền lục bát: Hoằng Hoá, Nga Sơn, Hà Trung, Yên Định, Vĩnh Lộc...

Giai đoạn chống Pháp, chống Mỹ là thời kỳ thơ văn phát triển mạnh mẽ, nhưng sắc thái, biểu cảm của thơ từng giai đoạn có khác nhau. Dù sao thì lục bát vẫn là thể thơ thiên về “hồi tưởng”, ít khi “trực diện” trước những gì quyết liệt, nóng rãy: “Thắng rồi trận đánh thọc sâu/ Lại về với mái tăng - bầu trời vuông” (Nguyễn Duy). Nếu chống Pháp số nhà thơ sử dụng thể lục bát không nhiều với một số bài của Thôi Hữu, Hà Khang, Minh Hiệu... thì giai đoạn chống Mỹ một thế hệ đông đảo các nhà thơ Thanh Hóa “đem” lục bát vào mặt trận, đi khắp mọi miền đất nước. Trong đêm hành quân giữa Trường Sơn ngủ chung trên một chiếc võng, tác giả Đỗ Văn Đông thổ lộ: “Anh nằm im, em nằm im/ Mà sao cánh võng chao nghiêng núi rừng/ Cựa chân sợ chạm đôi chân/ Nghiêng vai anh sợ sóng ngầm trên môi...”. Với Nguyễn Duy: “thức là ngày ngủ là đêm/ nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa”, với Trịnh Ngọc Dự: “Đường còn bao núi bao khe/ Hai bên những hố bom kề hố bom”... và tới khi chiến tranh kết thúc, trở lại những con đường Trường Sơn, trở lại bến phà Xuân Sơn - một địa danh ác liệt phía Tây Quảng Bình - vẫn tâm trạng bồi hồi: “Đêm mơ nửa tỏ nửa mờ/ Chiến trường ngày ấy ai chờ đợi ai?” (Lệ Bình), “Một trời sông nước trăng in/ Nửa đời mới lại đi tìm Xuân Sơn” (Nguyễn Văn Hiếu). Dĩ nhiên thơ lục bát Xứ Thanh cũng là thơ lục bát Việt Nam, nó có chung những đặc điểm mà thơ lục bát Việt Nam vốn có, nhưng miền này cũng thể hiện rất rõ cái riêng trong tính cách người Xứ Thanh: sự cởi mở đến bộc bạch “ruột để ngoài da”, nhiều khi bất cần “đến đâu thì đến!”: “Không răng... cha vẫn cười khì/ Người còn là quý sá chi bạc vàng” (Nguyễn Duy). Một niềm lạc quan tự tạo cho mình để sống ở đời, vượt qua những khó khăn thường nhật: “Gồng mình mò đến Thăng Long/ Tậu nhà sắm vợ, mỏi còng cả lưng” (Minh Tâm) - chính thi sĩ “ngất ngưởng” này cũng đã nhận ra cái bản chất cố hữu: “Thuyền ta xa bến làng ta/ Buộc vào Hà Nội chẳng là... người sang!”, hệt như cái cảm giác của nhà thơ Lệ Bình đang lập nghiệp ở phương Nam: “Bao năm sống giữa phố phường/ Phố không dễ thuộc như đường làng ta...”. Tính cách con người trong thơ lục bát Xứ Thanh còn gắn với “tiếng địa phương” như ta đã gặp trong thơ Hồng Nguyên, đắc địa đến nỗi nếu dùng khác đi, câu thơ không còn hay nữa: “Bây chừ tôi ở xa quê/ Ngược đường sông Mã người về thăm ai!” (Lê Đình Cánh)...

Nhưng nét chính trong thơ lục bát xứ Thanh là hiện thực vùng đất này. Mùa màng thất bát vì lũ lụt, bão dữ... Tháng ba ngày tám gieo neo, cây rau má được nhắc đến “đầy nghĩa tình” trong thơ Huy Trụ, Trịnh Anh Đạt... Còn đây là thơ Nguyễn Văn Lợi: “Mùa thu - mùa cháo mùa khoai/ Cây rau má chẳng kịp dài qua đông”. Người nông dân một nắng hai sương, một đời lam lũ vẫn chưa thoát được cảnh đói nghèo: “Cái nghèo quanh quẩn quê tôi/ Đổ ra sông Lý lại trôi về đồng” (Xuân Long). Người xứ Thanh không ngần ngại khi ra thiên hạ kiếm sống dẫu chẳng sung sướng gì: “Tiễn nhau giã biệt làng quê/ Người đi kẻ ở rặng tre rũ cành” (Phạm Minh Dũng)...

Thơ lục bát Xứ Thanh  - ảnh 1

Viết về mẹ - có lẽ không thể thơ nào đắc địa bằng thể lục bát. Chúng ta nghe từ lời ru thuở nằm nôi, đến các làn điệu chèo mượt mà đêm hội... Nhiều nhà thơ đã có những bài thơ hay về mẹ bằng thể thơ này. Thơ lục bát xứ Thanh cũng đậm đặc những bài, những câu thơ về mẹ: “Xa quê nhớ bát canh cần/ Càng thương áo mẹ ướt đầm mồ hôi” (Hoàng Phong), “Con đi tìm lại hồn quê/ Ai như dáng mẹ trên đê chiều tà” (Nguyễn Văn Lợi), “Run run mẹ bước lên tàu/ Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà” (Lê Đình Cánh)... Nếu coi bộ ba: Xuồng đầy, Nhớ bạn, và Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa là chùm thơ lục bát hay nhất của Nguyễn Duy thì “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” là đỉnh cao nhất trong chùm thơ ấy. Đó là bài ca về mẹ mang tính “kinh điển” thấm đẫm chất liệu dân gian, tưởng không nhận ra được đâu là ca dao đâu là câu thơ của ông. “Nhìn về quê mẹ xa xăm/ lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa” - câu thơ đã găm vào lòng mỗi người những day dứt khôn nguôi vì mấy ai đã làm được gì cho mẹ!

Một “ưu tiên” của thể thơ lục bát có lẽ là địa hạt tình yêu. Đây là trường hợp mà thể lục bát thích dụng hơn cả bởi những lợi thế của nó. Hãy điểm lại cùng lục bát Xứ Thanh từ xưa đến nay, từ các nhà thơ đã khuất đến lớp trung niên “già dặn” và lớp thơ trẻ thời kỳ “đổi mới” thấy thơ lục bát vừa “giữ” được cái truyền thống vừa thay đổi rất nhiều. Từ Hồ Dzếnh:“Trời không nắng cũng không mưa/ Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung” đến các thế hệ sau này:“May còn ấm một bàn tay/ Nẻo gần chung bước, dặm dài sẻ chia” (Nguyễn Bao),“Tan trường cô lại qua sông/ Để thầy giáo trẻ trong lòng ngổn ngang” (Hoàng Tuấn), “Xe tơ thành chỉ dại khờ/ Luồn kim qua tuổi mắt mờ người ơi!” (Lê Đình Cánh), “Vụng thầm nửa thực nửa mơ/ Nửa tin bên nhớ, nửa ngờ bên thương” (Văn Đắc), “Người đem tuổi trẻ đi rồi/ Tôi ôm kỷ niệm tiếc thời mộng mơ” (Lê Bá Thự), “Khư khư ôm bóng vào lòng/ Rạ rơm thì bỏ mây hồng thì theo” (Trịnh Thanh Sơn), “Yêu anh chẳng biết làm sao/ Tóc mềm em buộc gió vào vai anh” (Nguyễn Bảo Chân), “Tìm ai giữa buổi chợ đông/ Còi xe đã gọi mà lòng chưa yên” (Vũ Thị Khương), “Ngang qua nhà một dòng sông/ Mười năm lở bến ta trông một người” (Đào Phong Lan), “Con giờ lòng dạ chung chiêng/ Khi chia xa chẳng gặp riêng được người...” (Viên Lan Anh), “Bàng còn đỏ lá mùa đông/ Anh còn thương đến cháy lòng là em” (Lê Huy Hòa), “Em còn ở phía cơn mơ/ Còn say kiệu rước, còn chờ đón dâu” (Đào Phụng”, “Tôi về gõ cái long đong/ Sắm con thuyền ngược bến sông đợi người” (Huy Trụ),“Trầu hay bùa ngải nhớ mong/ Ta mê mẩn cái... người không têm vào” (Nguyễn Minh Khiêm), “Dấu chân cát phủ thành cồn/ mắt người bỏng cả hoàng hôn cuối ngày” (Lê Quang Sinh), “Cây gầy cho gió lắt lay/ lòng xưa giờ chẳng như ngày xưa đâu” (Lương Hữu Quang)...

Tôi muốn nói đến các bài thơ lục bát của nhà thơ Mã Giang Lân, hình như thơ lục bát là một góc “chơi” của ông bên cạnh thể thơ “chính” ông sử dụng, nó là những nốt nhạc lẩy ra từ cuộc sống. Thơ lục bát ông viết về phút chờ xe buýt, viết sau giờ nghỉ trưa, lúc “ngẫu hứng”... “Thế rồi mây trở về non/ Nắng tươi màu nắng, em còn màu em” - “Nắng tươi” thì gặp rồi, nhưng “màu em” là màu gì? màu quần áo, màu da thịt, hay màu của sự từng trải, màu cuộc đời?...

Với bài thơ “Thuyền than lại đậu bến than” xuất hiện từ thập niên bảy mươi của thế kỷ trước - nhà thơ Anh Chi được coi là người đầu tiên “cách tân” thơ lục bát. Ngày ấy khi đọc những câu thơ kiểu “ngang cành bứa”: “con sào cảm động cong cong/ cũng vít vổng và cũng mong lên bờ...” không ít người có thể tâm đắc với ông. Nhưng bằng nghệ thuật cấu trúc ngôn ngữ, thi ảnh dựng lên, âm thanh hòa với sóng nước lung linh huyền ảo, nhà thơ đã gợi trí tưởng tượng của người đọc về mối tình của đôi trai gái trên bến sông ấy trong “nền nhạc” những câu hò sông Mã... Nhà thơ “thật khéo” khi hạ hai câu lục bát: “Đời đã mở bến cho thuyền/ câu yêu đương cũng đẹp lên bất ngờ”!

Thơ lục bát Xứ Thanh quy tụ nhiều nhà thơ là người gốc Thanh Hóa đang sống trong tỉnh và khắp mọi miền đất nước, một số nhà thơ ngoài tỉnh nhưng sinh ra hoặc lớn lên từ tuổi thơ đến lúc trưởng thành có nhiều kỷ niệm gắn bó với Xứ Thanh như Phạm Đình Ân, Văn Công Hùng... làm cho tập thơ phong phú, xôm tụ...

Đây là tập sách ra mắt lần đầu, lại vì nhiều lý do nên chất lượng các bài thơ chưa đều, có thể bỏ sót một số tác giả, một số bài thơ hay, ngược lại cũng có những bài thơ chọn chưa được như ý. Niêm luật của thơ lục bát cũng được những người tuyển chọn “mở rộng” - chủ yếu là vần chân và vần lưng. Thiết nghĩ cũng là cách để thơ lục bát “năng động” hơn, đỡ đơn điệu./.

Trịnh Ngọc Dự

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác