Thơ của hai nhà giáo mê thơ

 

“Trăng và Nguyệt”, tập thơ dày 96 trang gồm 25 bài thơ của Trần Anh Dũng và 34 bài thơ của Nguyễn Tấn Thái, 1 phụ lục nhạc “Mật ngọc quê nhà” Trần Văn Nguyện phổ thơ Nguyễn Tấn Thái và các bài viết của các bạn bè giới thiệu thơ 2 người như Nguyễn Đức Dũng, Lê Bích, nhà thơ Tiến sĩ Mai Bá Ấn, Nguyễn Bá Hòa, Phạm Thông... đã làm nên dung mạo tròn trịa của một tập thơ.
Thơ của hai nhà giáo mê thơ - ảnh 1

Với tôi, Nguyễn Tấn Thái một thầy giáo dạy Văn cấp III vừa là cái duyên tình của nghề và nghiệp, tôi cũng đã giới thiệu thơ Thái khi lần đầu Thái xuất bản tập thơ “Bóng Thức” và là người cha có hai con “Đổ thủ khoa” vào Đại học những năm trước, đã có nhiều lần trao đổi qua điện thoại và thư từ, còn Trần Anh Dũng, thạc sĩ Toán hiện dạy tại trường Đại học Quảng Nam thì chỉ mới vừa “quen biết” qua tập thơ. Song có lẽ sự đồng cảm chia sẻ vì vốn cùng là thầy giáo và cùng một gu đắm đuối với văn chương? Giới thiệu, bình luận về thơ Thái, Dũng chăng? Điều ấy, bạn bè Thái, Dũng đã nói cả rồi và họ còn tách bạch thơ của cả hai người: “Một thâm trầm lặng lẽ và nhút nhát. Một sôi nổi đến quá đà...” (Thơ với người thơ, trang 5- Nguyễn Đức Dũng) và: “ Đứng tên chung một tập thơ, nhưng phong cách thơ của hai chàng trai Quảng Nam này rất khó hòa hợp nhau...” (Ngỡ ngàng gặp lại thơ người cũ, trang 85, Tiến sĩ Mai bá Ấn). Vâng sẽ thật khó khi phải “trao đổi” cùng hai tác giả, bởi những điều lặp lại thì nhiều, mà điều mới thì vẫn còn trong tâm tưởng chưa thể nghiệm ra điều lạ để nói. Thôi thì bài viết nhỏ này, ta cùng đàm đạo về cái “nhan đề” của tập thơ, khi cả hai nhà thơ cùng cảm TRĂNG & NGUYỆT vậy!

Theo lẽ thông thường, “Trăng” là chữ viết tên gọi của người Việt, còn “Nguyệt” là lối viết, lối nói theo âm chữ Hán, và cả hai đều có cùng chung một ý nghĩa đó là TRĂNG. Song trong nghệ thuật, nhất là trong thi ca và âm nhạc, dường như ý nghĩa từ NGUYỆT, mang một sắc thái và dung mạo riêng, ẩn dụ hơn, lung linh và... duyên dáng hơn. Không phải ngẫu nhiên trong nhạc phẩm “Nguyệt ca”, Trịnh Công Sơn viết: “Từ khi trăng là nguyệt đèn thắp sáng trong tôi/ Từ khi trăng là nguyệt em mang tim bối rối/ Từ khi trăng là nguyệt tôi như từng cánh diều vui/ Từ khi em là nguyệt trong tôi có những mặt trời. Nguyệt của Trịnh có lẽ là... một người con gái bằng xương, bằng thịt, không phải vầng trăng tròn hư ảo đắm đuối trên cao kia? Như vậy từ Trăng đến Nguyệt là cả một quá trình luân hồi chuyển hóa qua rất nhiều... A tỳ địa ngục lẫn chốn thiên đàng? Và với Trần Anh Dũng trong bài thơ “Trăng & Nguyệt” mà cả hai người dùng làm nhan đề cho cả tập thơ, cũng đã có cái cảm nhận như vậy, khi mà Dũng viết: “Người về xa khuất tháng năm/ Để lại tôi mắt đắm đăm đợi chờ”... và “Thôi đừng trách nguyệt nghe trăng/ Nhắc chi một thoáng giận hờn... ngày xưa!” (trang 24) thì cả hai đều chung một ẩn tình, ẩn ngữ?... Đến đây thì có thể nói chuyện thi ca khi mà lòng trót đã đắm đuối với nàng thơ. Một nàng thơ dưới dạng “mật ngữ” hay một duyên dáng rất... thiếu nữ, đàn bà trong cuộc sống vốn nhiều đa đoan này vậy! Nhưng để từ xúc cảm đời thường hóa thành xúc cảm thi ca, thể hiện bằng ngôn từ cũng phải “tu luyện” ghê lắm! Giống như luyện từ quặng thô để lấy được những bột vàng. Đó là hồn vía chữ nghĩa. Trang 1/2 Trang 2/ 2 Tôi cũng yêu cái ý tình của Trần Anh Dũng khi: “Bây giờ chợt thấy rưng rưng/ Sương rơi chớn tóc, nắng dừng kẻ môi” (Gửi chị, trang 15), Bởi Dũng cũng đã nhận rõ: “Muốn rời cõi thực vào mơ/ Hát câu tình tứ bên bờ mù sương...” (trang 15), có điều trong những đắm đuối câu thơ, Dũng quá nhập tâm với những lả lơi sóng sánh của “quan họ” của “chỉ, kim” nên cứ líu ríu câu thơ trong chập chùng của cảm xúc: “Hát câu quan họ bốn mùa/ Xe chỉ một đời đạm bạc” (trang 10), “Để xa sợi chỉ để rời đường kim” (trang 11), rồi “Câu quan họ thả giữa dòng... buồn thiu” (trang 14), “Bẽ bàng là chỉ vắng kim” (trang 15), “Cái kim sợi chỉ phải lòng nhau thôi” (trang 16), “Một đời kim chỉ bóng cô liêu” (trang 17) “Hát câu quan họ qua cầu gió bay” (trang 20) v.v... Tôi chợt hỏi: Sao Dũng không chưng cất từ những câu Lý, câu Hò xứ Quảng cũng đắm đuối lắm vậy. Qua tìm hiểu Trần Anh Dũng có bộc bạch riêng rằng “Nguyệt” của Dũng qua hình ảnh của nàng thơ Lan Chi (bút danh khác của Dũng) có quê quán gốc gác từ xứ Kinh Bắc xa lơ xa lắc, do vậy thơ của Dũng có “dính líu” đến quan họ, kim, chỉ... cũng là điều “bắt buộc”, hiểu được điều này chúng ta sẽ dễ thông cảm với Dũng, song dù sao, đây vẫn là điều mà Dũng cần... tiết giảm.

Đối với Nguyễn Tấn Thái, “Nguyệt” vốn dĩ đã là “tôn giáo thi nhân”, song cái “Em dâng tôi cả địa đàng/ Nhụy trinh nữ thơ đa mang ngàn đời”, bỗng “bối rối, rối bời” theo câu thơ: “Ngày xưa lưu dấu son môi/ Tim lạc nhịp... cứ rối bời... theo thơ”. Cái “vết son môi” chưa làm nên một Nguyệt của duyên dáng, lãng mạn và đa tình. Tôi thích những câu: “Đêm nghiêng cụng chén giang hồ/ Thoảng hơi giá buốt ngựa thồ Phú Yên” (trang 48). Và “Bình minh lên da non” (trang 53), là những tìm tòi thú vị của Thái. Bên cạnh cái khoáng đạt: “Nương chiều quảy bóng Hội An” (trang 65), song cái ý tưởng: “Chiều vui tôi tự lên đời/ Tân trang... thơ với rối bời vu vơ” thì có khi cũng “rối bời” như chính những câu thơ: “Niềm hãi sợ sót Mùa Xuân ít ỏi/ Xua cay đau gieo cấy vụ ngọt lành” (trang 72). Cuối cùng với Thái chính là “Nguyệt thực”: “Qua bão tố, mầm tơ hoan ca đan dày mặt đất/ Mẫn cảm tôi về sông hòa điệu vách đá phổ nhạc thơ.” (trang 77).

Mê thơ, yêu thơ làm thơ và xuất bản thơ là những việc làm trân trọng, đáng quý của hai nhà giáo đất Thăng Bình, Quảng Nam, ước mơ “Nhặt tơ trời dệt kén mộng tương lai” và “Xin vay mượn phù sa thơm đất Mẹ” hy vọng những đắm đuối ấy sẽ có một ngày “Bỗng nhật nguyệt/ rực/ diễm kiều/ thủy chung”. Mong Trăng & Nguyệt sẽ còn đọng mãi trong lòng người yêu thơ.

Trần Hoàng Vy

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác