Nguyễn Hữu Quý viết về Trường Sơn để trả nợ, giãi bày

(Toquoc)- “Trường Sơn với tôi không chỉ là một miền thi ca, mà đó còn là miền ám ảnh, ghi dấu những kỷ niệm của người lính một thời lửa đạn. Với những người lính đã đi qua chiến tranh, đã từng có mặt trên con đường Hồ Chí Minh huyền thoại như chúng tôi, thì Trường Sơn mãi được lưu dấu trong trái tim…” - nhà thơ Nguyễn Hữu Quý tâm sự với chúng tôi về Trường Sơn và tập trường ca “Vạn lý Trường Sơn”.

Nguyễn Hữu Quý viết về Trường Sơn để trả nợ, giãi bày - ảnh 1 

Viết như để trả nợ, giãi bày...

* Là một người cầm bút nặng lòng với Trường Sơn, anh đã có nhiều sáng tác thành công về Trường Sơn và người lính. Vì sao anh lại quyết định viết trường ca “Vạn lý Trường Sơn”- một thể loại đòi hỏi sức viết dài hơi cũng như vốn sống dày dặn?

- Trước khi về công tác tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi là người lính và có hơn 20 năm gắn bó với Trường Sơn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trường Sơn là cầu nối giữa hậu phương lớn miền Bắc và tiền tuyến lớn miền Nam. Có thể nói đường Trường Sơn là huyền thoại của dân tộc ta trong thế kỷ 20. Đây là con đường chi viện quân, hàng hóa, vũ khí đạn dược… cho miền Nam để dân tộc ta hoàn thành nhiệm vụ “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” thống nhất đất nước. Đó là một kỳ tích, bởi từ khi ra đời (1959) đến đại thắng mùa xuân 1975 bộ đội Trường Sơn đã làm nên con đường mang tên Bác với 5 trục dọc và 21 trục ngang tổng cộng dài khoảng 16000 cây số, tạo thành bát quái trận đồ giữa điệp trùng đại ngàn. Đằng sau những chiến công thành quả to lớn, những vinh quang chói lọi của con đường này là sự hy sinh vô cùng tận của bộ đội và nhân dân ta… Hai vạn chiến sỹ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đã ngã xuống trên con đường Trường Sơn trong đó phần lớn họ còn rất trẻ. Chính vì thế mà Trường Sơn luôn là nỗi ám ảnh trong tôi suốt chặng đời cầm bút. Năm 2008 tôi đã bắt tay vào viết trường ca Vạn lý Trường Sơn và hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm Đường Hồ Chí Minh (2009). Tôi viết như một sự tri ân với những người đã ngã xuống trên con đường huyền thoại mang tên Bác, viết như để trả nợ, để giãi bày tình cảm, tâm cảm của mình với những người lính Trường Sơn. Trong những người đã ngã xuống, có người là bạn bè của tôi…

* Khi bắt tay vào viết trường ca này, anh có gặp khó khăn gì không?

- Tôi có những hiểu biết về Trường Sơn khá đầy đặn cho dù thời điểm tôi có mặt ở Trường Sơn với tư cách người lính là giai đoạn cuộc chiến không còn ác liệt như thời kỳ trước. Nhưng cái khó nhất của tôi là phía trước đã có nhiều người viết về Trường Sơn nổi tiếng, trong đó không thể không nhắc đến nhà thơ Phạm Tiến Duật… Tuy tôi có thuận lợi là thế hệ sau, có độ lùi về thời gian để nhìn nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy đủ, khách quan hơn kể cả những góc khuất của nó trên cả hai mặt anh hùng và bi thương. Nhưng tôi lại gặp thử thách không nhỏ về nghệ thuật; cái khó nhất là mình phải viết thế nào để không giống với thế hệ trước mà vẫn thể hiện được một Trường Sơn vạn dặm đậm chất anh hùng ca cùng những góc khuất, bi thương mà thơ ca giai đoạn trước chưa viết được mấy…

* Cái tên “Vạn lý Trường Sơn” nghe cũng lạ, anh có phải trăn trở nhiều khi đặt tên cho trường ca này không?

- Tôi nghĩ đường Trường Sơn là con đường vạn dặm của dân tộc, là công trình yêu nước vĩ đại của quân đội và nhân dân ta. Tôi ngầm so sánh nó với Vạn lý trường thành của Trung Quốc. Nếu như Trung Quốc tự hào Vạn lý trường thành thì không lý gì Việt Nam chúng ta lại không kiêu hãnh với Vạn lý Trường Sơn. Đó là biểu tượng của lòng yêu nước, của tinh thần dũng cảm sáng tạo trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Vì thế tôi đã chọn tên Vạn lý Trường Sơn đặt cho trường ca thứ hai này của mình.

 

Ngôi nhà chung cho các linh hồn liệt sĩ

* Trong số 9 chương của tập trường ca, anh tâm đắc với chương nào nhất?

- Trong 9 chương của trường ca, thú thực là chương nào tôi cũng trăn trở rất nhiều khi đặt bút viết, vì vậy để so sánh thì hơi khó. Nhưng thực lòng mà nói tôi tâm đắc nhất với chương đầu tiên Dưới tán cây bồ đề. Những ai đã đến Nghĩa trang Trường Sơn đều biết ở đây có nhiều điều kỳ diệu, trong đó lạ nhất là cây bồ đề, mọc sát ngay tượng đài Tổ quốc ghi công. Cây bồ đề cũng là một huyền tích Trường Sơn bởi nó không do ai trồng cả, tự nhiên mọc lên xanh tốt ôm trùm cả đài tưởng niệm liệt sỹ. Tôi cho đó là một tượng đài Tổ quốc ghi công khác, của Đức Phật cấy xuống ở mảnh đất ấy, ở nghĩa trang ấy để khẳng định sự chính nghĩa của cuộc chiến đấu của dân tộc ta. Tán xanh của cây bồ đề ấy, như mái nhà chung cho tất cả các linh hồn liệt sĩ, là nỗi đau và khát vọng của những người lính nằm ở đấy và cả những người thân của họ, của dân tộc trong cuộc kháng chiến cứu nước. Dưới tán cây linh thiêng ấy, vạn linh hồn của các liệt sĩ vẫn tồn tại, vẫn bất tử và trong hình dung của tôi cả một Trường Sơn hiện ra nguyên vẹn; tình yêu, nỗi nhớ, đau thương, khát vọng của người lính như vẫn đang rì rào, xanh tươi trong sắc lá bồ đề… Tôi viết:

“Sinh ra cùng ngày với tượng đài Tổ quốc ghi công

cây bồ đề đã trở thành đại thụ

tán lá - bầu trời tròn che chở

vạn linh hồn phiêu diêu

 

Duy nhất mọc ra ở nghĩa trang Trường Sơn

mọc không do ai trồng cả

cây bồ đề từ lòng Phật bước ra

làm một tượng đài Trường Sơn khác

 

Một tượng đài xanh cao mười mấy mét

mà vẫn không vượt qua mái tóc trắng mẹ ta

một tượng đài được tưới bằng nước mắt

giữa cõi Trường Sơn mặn chát vô cùng…”

Nhưng tôi cho rằng sâu lắng nhất, đời nhất là chương cuối “Tiếng vọng”, ở đó tôi tưởng tượng ra một đám cưới của một người lính đang còn sống với một cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh. Một đám rước dâu từ Trường Sơn về làng quê có mặt đông đủ tất cả những người lính đã hy sinh và còn sống. Một đám cưới nói lên sự bất tử của tình yêu. Nó chứa đựng nhiều rung cảm chân thành và có chút riêng tư xa xôi, sâu lắng của tôi đối với một người bạn gái…

* Có phải đó là người bạn học cũ mà trong trường ca, anh dành riêng một chương để viết về chị ấy?

- Đúng vậy, đó là cô bạn gái cùng quê với tôi, tên là Liên. Liên học cùng tôi cấp 1, cấp 2, khi tôi vào cấp 3 thì cô ấy đi bộ đội. Đây là cô gái miền biển dễ thương, có giọng cười đem cái thương cái mến/ chia đều cho mỗi chúng tôi. Liên hi sinh khi còn rất trẻ, chỉ khoảng 18 tuổi. Năm 1978, khi lên Nghĩa trang Trường Sơn, tôi tình cờ phát hiện ra ngôi mộ của Liên, bao nhiêu kỷ niệm thời niên thiếu ùa về, thật xúc động, ngay tối hôm đó tôi đã viết một mạch xong bài thơ “Nhớ về tuổi học trò của một liệt sỹ”. Sau này, tôi đưa hẳn bài thơ vào trường ca thành một chương. Đây là tình cảm riêng tư, tình cảm bạn bè. Tất nhiên, trong cuộc chiến có rất nhiều người lính trẻ, họ sẵn sàng hi sinh cho độc lập tự do Tổ quốc. Liên của tôi chỉ là một, còn rất nhiều người lính trẻ như thế đã ra trận và không trở về…

* Anh từng nói viết Vạn lý Trường Sơn là để tri ân đồng đội?

- Đúng vậy, khi tôi viết bài thơ Khát vọng Trường Sơn (1996) tôi nghĩ hình như trong những câu chữ của mình có tiếng nói của những người đã hy sinh ở Trường Sơn, giống như họ nhập vào tôi, thúc giục tôi viết ra những điều đó. Và khi viết Vạn lý Trường Sơn, tôi cũng mang một tâm trạng như thế, viết để tri ân, để giãi bày. Tập trường ca này không chỉ là mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn mà với chúng tôi còn có cả máu và nước mắt của nhiều thế hệ chiến sỹ Trường Sơn nửa thế kỷ qua… Khi viết xong, tôi đã mang tập sách này đến Nghĩa trang Trường Sơn, hóa cho các anh hùng liệt sĩ như là sự báo cáo đến các anh các chị trước khi ra mắt bạn đọc…

* Sau Vạn lý Trường Sơn, anh có dự định viết thêm về Trường Sơn và người lính nữa không?

- Tôi sẽ tiếp tục viết về người lính như là tình cảm và trách nhiệm của mình khi còn khả năng sáng tạo.

* Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này!

Huyền Trang (thực hiện)

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý sinh năm 1956, quê Quảng Bình, 18 tuổi nhập ngũ vào Đoàn 559 (Bộ đội Trường Sơn). Thời điểm ấy (năm 1974), Trường Sơn đã vượt qua những giai đoạn ác liệt nhất. Đơn vị anh làm nhiệm vụ mở đường đông Trường Sơn, chuẩn bị cho dân tộc bước vào trận đánh cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Bài thơ đầu tiên anh viết về Trường Sơn mang tên “Trên đường hành quân” đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1976. Đến hơn 20 năm sau, những sáng tác về Trường Sơn và người lính của anh được ra đời với một tần suất mà chính anh cũng phải kinh ngạc. Năm 1997: tập thơ "Mười nghìn khát vọng"; năm 1999: tập thơ "Huệ trắng"; năm 2002: tập thơ "Làng đảo"; năm 2003: trường ca "Sinh ở cuối dòng sông"; bút ký "Dưới tán cây bồ đề", “Cầu vồng Hiền Lương”, tiểu luận phê bình “Bên dòng thi ca”… Mới đây nhất là trường ca "Vạn lý Trường Sơn" ra đời đúng dịp 50 năm Trường Sơn và tập thơ, trường ca về thương binh, liệt sĩ “Những hồi chuông màu đỏ”.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã giành các giải thưởng của Bộ Quốc phòng, báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, NXB Kim Đồng, Hội Nhà văn...

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác