Người lính nơi cùng trời cuối đất

Phóng sự Sương Nguyệt Minh

Giá đôla giảm xuống còn 15.930 đồng; giá vàng tăng vọt lên ngưỡng 1,9 triệu đồng/ 1 chỉ; giao dịch chứng khoán thê thảm, chỉ số VN-Index rớt xuống dưới 670 điểm; gạo lên gần 10 ngàn đồng/1kg; rau muống ở Hà Nội sau mùa đông lạnh giá cằn héo cũng đội giá 10 ngàn đồng/1 bó. Bữa ăn trong mỗi nhà không những đang dần dần ít thịt cá mà khẩu phần rau xanh cũng bớt đi.

Sau Tết Nguyên Đán, giá cả vẫn leo thang từng ngày; tiền lương công chức hạng quèn phải dành chi gần hết cho ăn uống để giữ sức. Có đi chợ mới biết ái ngại và thông cảm với các bà vợ lam lũ tần tảo tiếc tiền, dạo từ đầu chợ đến cuối chợ vẫn lưỡng lự chưa dám rút ví ra mua nổi bó rau, lạng thịt. Bài phỏng vấn các nhà Tài chính học in trên trang Kinh tế - báo Tuổi trẻ giật tít: Chống lạm phát phải như chữa cháy... v v...

Đó là những gì tôi biết được trước khi đi công tác ở Quân khu 9 - miền Tây Nam Bộ. Lòng tôi lúc nào cũng bất ổn, lo lắng; nhà mình lương không đến nỗi thấp mà còn bấp bênh, khó khăn trước cảnh “gạo châu củi quê” đang tràn vào bữa ăn; thế thì những người lính xa nhà, những sĩ quan độc thân, những cán bộ lương thấp mà vợ con bìu ríu từ miền Bắc vào đồng bằng châu thổ lớn nhất nước... sẽ khó khăn đến đâu? Và, làm thế nào để giữ được mức ăn đúng định lượng, ổn định cuộc sống gia đình sĩ quan, QNCN hưởng lương để hoàn thành nhiệm vụ Huấn luyện sẵn sàng chiến đấu.

 

1.
Chúng tôi đến Bảy Núi - An Giang vào một buổi chiều nắng rót vàng như mật. Vài cái chùa Khơ Me tô màu vàng sậm trầm tư, yên ắng. Những bóng cây thốt nốt đổ dài trên mặt ruộng khô. Núi rừng, đồng ruộng, phum sóc vùng biên giới bình yên vô cùng. Nhà Sở Chỉ huy Sư đoàn 330 đóng trên một khu đất cao có hình dáng như mu rùa, được xây bằng kinh phí quốc phòng, kiến trúc khá hài hòa, to cao ba tầng lồng lộng; đứng ở sân nhìn lên nhận ra cái uy nghi, vững chắc, đầy sức mạnh mà không cảm thấy mình nhỏ bé, sợ hãi, lại cảm nhận được vẻ đẹp nhà binh hùng mạnh giữa một miền không gian đầy cây xanh.

Chúng tôi ngồi uống nước chè tươi dưới bóng râm mát của cây sọp - một loại cây rễ thả lâu ngày biến thành thân cùng họ với cây đề. Gió thổi nhẹ. Lá lao xao. Bao nhiêu bụi bặm, nhọc mệt lúc đi đường bay biến hết. Tôi hết lời khen ai đã trồng cây sọp, rồi tán dương cây sọp có ích mang bóng mát cho người lính nơi cuối đất cùng trời này. Thượng tá Mười Phong - Trưởng ban Tài chính Sư đoàn biểu:

- Tôi cứ nghĩ nhà văn thì có tài quan sát lắm. Các anh không thấy cây sọp ăn hiếp cây phượng đến chết a?

Tôi bảo, để tôi nhìn cho kỹ đã. Và tôi nhận ra: Cây phượng bị cây sọp ôm quấn không biết bao nhiêu rễ chèn ép, bó buộc, thắt cổ cây phượng chết đã mục cả thân rồi. Tôi chợt nhớ ở Lam Kinh - nơi Lê Lợi đóng đô ngày xưa cũng có một cây đa cổ thụ cao xanh, cành lá mập mạp, rễ buông rùm ròa, “thắt cổ” chết tươi... một cây phượng vĩ.

Cây nào có trước, cây nào có sau? Cánh lính trẻ Sư đoàn 330 đã từng đố nhau và đưa ra bao nhiêu giả thiết. Thượng tá Mười Phong giải thích rất rành rẽ về cái sự tầm gửi và “ăn thịt” của sinh vật cứ như nhà thảo mộc học. Hóa ra, cỏ cây cũng đấu tranh sinh tồn chứ đâu phải động vật, là loài người.

Tôi phải dẫn câu chuyện dài dòng như thế để minh chứng một phần nào ngạn ngữ hiện đại “thương trường là chiến trường”. Người lính chủ lực chúng ta không sản xuất, kinh doanh; nhưng bữa ăn, đồ sinh hoạt hàng ngày hầu hết phải ra chợ mua và đang bị thị trường tác động, chi phối rất mạnh. Làm thế nào để bọn đầu cơ, buôn gian bán lận không bóp chẹt mình đến nông nỗi phải “bán rẻ mua đắt” cũng không dễ. Ví dụ: Một sư đoàn đủ quân đông nghìn nghịt, toàn thanh niên sức trai trẻ ăn như tằm ăn rỗi; tôi đồ rằng mỗi ngày chỉ có ăn thôi cũng phải sạch 1 xe tải gạo. Một cân gạo bị bắt chẹt mua đắt 200 đồng (200 đồng chỉ mua nổi cái phong bì), 10 cân là mất 2 ngàn đồng... cứ thế nhân lên một tấn, mười tấn, một trăm tấn... sẽ mất bao nhiêu tiền? Tôi bộc lộ cách tính toán chi li, thậm chí “keo kiệt” với nỗi niềm mong muốn tiêu chuẩn của bộ đội không bị bớt xén do kém hiểu biết hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm, như Bác Hồ đã dạy cán bộ Tài chính - Hậu cần: “Các chú phải làm thế nào để một bát gạo, một đồng tiền, một viên thuốc, một tấc vải phải đi thẳng đến chiến sĩ. Đó là bổn phận của các chú”.

Sư đoàn 330 “đưa một bát gạo, một đồng tiền...” đi thẳng đến chiến sĩ bằng cách tổ chức xay xát lúa tập trung cấp sư đoàn; và giết mổ tập trung cấp trung đoàn. Lúa mua của dân, thu gom chở về xay xát, gạo cấp cho các đơn vị, tấm cám dành để chăn nuôi, trấu để nấu bếp. Các trung đoàn quân đông như lá rừng, nhưng tất cả các bếp đều đun nấu bằng vỏ trấu. Giá gạo tự xay xát tập trung rẻ hơn so với mua ở ngoài thị trường 500 đồng/1kg. Rau xanh hầu như tự túc được. Bữa ăn bộ đội thường có 3 món, có canh. Giữa cái thời “gạo châu củi quế” này, giữ được mức ăn như thế là rất đáng nể.

Đêm, chúng tôi ngủ lại trong doanh trại bộ đội. Thị trấn Chi Lăng miền biên ải, vắng người, yên tĩnh vô cùng. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng vó ngựa gõ cộc cộc... trên đường nhựa. Tôi nghe lính ta kể chuyện Mười Phong rất lạ: Cái dạo ở chiến trường Căm pu chia, bộ đội phải tiêu bằng tiền Riêl. Mười Phong làm tài vụ trung đoàn thường đi bộ khoác ba lô tiền lĩnh từ sư đoàn bộ. Mùa khô nắng cháy, cắt rừng đi, để bảo đảm an toàn còn có hai người đi cùng bảo vệ. Một lần bị lính Pôn Pốt tập kích. Tổ lĩnh tiền vừa bắn trả vừa rút chạy. Bất ngờ Mười Phong bị trúng đạn, ngã sấp, ba lô tiền vẫn đè trên lưng. Hai anh lính binh nhất chạy lại lật người không thấy máu chảy, họ dìu Mười Phong chạy thục mạng tiếp. Về đến đơn vị mới hoàn hồn, dờ đầu vai tay chân không thấy hề hấn gì. Xem ba lô tiền thì ôi thôi, một viên đạn xuyên qua mấy tập tiền và đã kịp dừng lại ở tập tiền cuối cùng áp sát lưng. Rất may là viên đạn bay ở tầm cuối nên Mười Phong thoát chết. Sau này, Mười Phong giữ cái đầu đạn AR15 và tập tiền Riêl bị xuyên thủng ấy làm kỷ niệm. Thỉnh thoảng anh lại mang kỷ vật chiến trường ra xem, mân mê, ngắm nghía, mặt bần thần, hồn vía như lãng du về một thời ký ức xa lắc.

Tôi hỏi anh chuyện đó có không, hay lính tráng quý anh mà sáng tác, anh chỉ cười mủm mỉm, trông rất lành hiền. Tôi lại hỏi:

- Sao lại gọi anh là Mười Phong?

- Tôi con thứ mười mà.

- Sau anh còn em nữa không?

- Còn bốn đứa em nữa. Chúng nó đều đi thoát ly cả rồi.

Trời đất! Một bà mẹ lam lũ, tần tảo sinh 14 đứa con, nuôi ăn học, dựng vợ gả chồng đến nơi đến chốn. Thật là vĩ đại. Đất nước ta còn nghèo, nuôi quân có điều gì đó cũng từa tựa như những bà mẹ Việt Nam chịu thương chịu khó vậy.


2.

Tôi đi công tác miền Tây Nam bộ đúng lúc các đơn vị Quân khu 9 rầm rộ bắt đầu mùa huấn luyện mới. Dù bộ đội chủ lực hay bộ đội địa phương thì cũng đều làm lễ ra quân huấn luyện. Cán bộ, chiến sĩ nghiêm trang mà vẫn tươi tắn trong sắc phục nhà binh. Nhưng cái điều tôi băn khoăn ở cái vùng châu thổ kênh rạch chằng chịt, sông nước mênh mang này là có gọi đủ quân dự bị động viên về huấn luyện không? Mùa thu hoạch, người ta đang gặt lúa trên đồng, đang thu hái ở các vựa trái cây, đang đánh bắt cá ngoài biển xa mịt mù, hay lênh đênh trên nước làm phận sự thương hồ... biết tìm ở đâu.

Đại úy Nguyễn Văn Trãi - Trưởng ban Tài chính tỉnh đội Kiên Giang bảo:

- Đủ hết anh ạ. Phải lựa để huấn luyện theo mùa. Tránh mùa gặt mùa thu hái.

Ở nhà người ta đi bốc vác, đánh cá, làm việc thổ mộc nặng nhọc cũng chỉ 25 ngàn đồng/1 ngày.  Quân dự bị động viên khi huấn luyện được trợ cấp 54 ngàn đồng/1 ngày; đó là cái lợi. Vả lại, nhiều cựu chiến binh cũng muốn trở lại làm lính 15 ngày. Quân phục mới, quân hàm cầu vai ngời sáng, ký ức đời trận mạc trở về. Mãn khóa huấn luyện, có người cố tình khai đánh mất bộ quân phục màu xanh; chấp nhận đền tiền để lấy bộ sắc phục nhà binh làm kỷ niệm.

Chúng tôi ra đảo Phú Quốc. Biển miền Tây mênh mang. Khách nhiều hạng người. Mấy anh lính biên phòng, khách du lịch Tây ba lô, cán bộ ra đảo công tác, du khách đi theo tua từ Sài Gòn xuống... đủ cả. Đi tàu Dương Đông to rộng thì mất 3 giờ; đi tàu cao tốc Supper Dong nhỏ hơn thì khoảng hai giờ rưỡi là cập đảo. Biển lặng, nhưng tàu vẫn chao lắc và có người say sóng. Tàu đi qua đảo Một Cây, nhiều người lố nhố đứng dậy ngó mắt qua ô kính cửa sổ nhìn, chỉ trỏ. Gọi là đảo Một Cây vì từ xa nhìn về thì thấy một cây cổ thụ xanh đơn độc trên đảo đá. Mặc gió mưa, bão tố, nắng nóng, nước biển mặn, Một Cây vẫn sống kiên cường, mãnh liệt như thách đố với thời gian và thiên nhiên khắc nghiệt. Người đi biển bị nạn, lật thuyền, ôm mảnh ván bơi, nhằm cái bóng Một Cây mờ xa, lúc ẩn lúc hiện thì ý chí nghị lực và lòng ham sống, quyết sống ngùn ngụt trỗi dậy. Đảo Một Cây đã cứu sống rất nhiều mạng người khỏi chìm rơi dưới đáy biển.

Thuyền tuần tra của Huyện đội Phú Quốc do trung úy Lâm Anh Vũ chỉ huy, đã cứu hộ cứu nạn được nhiều người trên vùng biển Hà Tiên - Phú Quốc và ở ngay đảo Một Cây này. Thuyền tuần tra còn kết hợp đánh bắt hải sản; cá mang về ủ làm nước mắm. Tôi hỏi: Bộ đội mà cũng làm được nước mắm? Thượng tá Trần Xuân Tiến - Chính trị viên phó huyện đảo, bảo: Có đồng chí Lê Quang Thắng - gốc dân Phú Quốc, có nghề gia truyền làm nước mắm phụ trách kỹ thuật; chớ làm nước mắm không giản đơn được; kỹ thuật không tốt chỉ vài tuần là nước mắm đổi màu, độ đạm giảm, ăn mất ngon. “Nước mắm của nhà làm được”, không những đủ dùng cho các đơn vị của Huyện đội Phú Quốc mà còn bán cho một số cơ sở sản xuất nước mắm khác; số tiền đó lại được đưa vào cải thiện bữa ăn cho cán bộ chiến sĩ.

Nếu như địa lý tỉnh Kiên Giang tương đối phức tạp, có các huyện đồng bằng, kinh rạch, rừng, có huyện đảo nên kinh tế còn khó khăn thì thành phố Cần Thơ đang vươn mình cất cánh. Nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới đang hình thành; người Cần Thơ đã bắt đầu đi nhanh, đi mạnh có nghĩa là văn minh công nghiệp đã tràn vào lối sống dân mình. Kinh tế phát triển, thu nhập tăng nhanh, ngân sách quân sự địa phương năm sau nhiều hơn năm trước.

Tôi về quê, cái phòng làm việc của xã đội vẫn chung với Trụ sở ủy ban, bàn ghế xập xệ, vì xã nông nghiệp nghèo. Tôi đến nhiều đơn vị chủ lực, địa phương, ở đâu cũng thấy nói: Kinh phí khó khăn, nhất là kinh phí công tác chỉ đáp ứng 50% nhu cầu. Chiến tranh liên miên, nền kinh tế nông nghiệp chậm phát triển; đất nước ta như bà mẹ nghèo đông con, có ít tiền phải chia nhiều nơi: Giao thông, giáo dục, an ninh - quốc phòng, y tế... ngành nào cũng cần tiền, và năm sau phải nhiều hơn năm trước. Tôi liên tưởng tới ý kiến của Thiếu tướng Phạm Quang Phiếu - Cục trưởng Cục Tài chính trong Hội nghị giao ngân sách năm 2008: “Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ Tài chính ngân sách trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra hết sức nặng nề, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới công tác tài chính. Tích cực đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách, phù hợp với cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế...”

Đến Thành đội Cần Thơ, tôi rất ngạc nhiên khi biết 2/3 xã đội đã xây trụ sở riêng. Theo thiếu tá Trần Hoàng Nghiệp - Trưởng ban Tài chính thì: “Mỗi trụ sở xã đội xây dựng hết khoảng 800 triệu đồng. Các phường đội ở nội đô, nếu không có điều kiện xây trụ sở riêng vì quỹ đất ít thì được nâng thêm vài tầng.” Ngân sách quân sự địa phương tăng không chỉ phản ánh kinh tế tăng trưởng mà còn chứng tỏ sự quan tâm của nhân dân và lãnh đạo thành phố.   

 

3.

Các nhà văn Quân đội thường hay sống bằng hoài niệm, ký ức, nên viết về cái đang diễn ra trước mắt thật vô cùng nhọc nhằn. Viết về Tài chính Quân đội thời bình, về huấn luyện, về người lính hôm nay... lại càng khó khăn và luôn là thách thức đối với bất cứ nhà văn nào. Vì vậy, đến một vùng đất mới, tôi thường hay tìm đến với những người của một thời ký ức. Rất may, trong dịp đến miền Tây Nam bộ này, tôi gặp được nhân vật của mình.

- “Ôn cố tri tân”. - Đại tá Nguyễn Hữu Mạnh - Trưởng phòng Tài chính Quân khu giới thiệu. -  Những câu chuyện Tài chính Quân đội thời chiến tranh sinh động hấp dẫn lắm. Anh Bảy Thâu đây sẽ giúp các anh.

Chú Bảy Thâu vốn là ở đội quân “tối trời” chuyên đi diệt ác trừ gian những năm 1958 - 1959, sau lên Văn phòng Khu ủy Tây Nam bộ chuyên viết “Bạch cáo thư” cũng một phần bởi chữ chú đẹp. Mực viết được chế từ vỏ một loại cây khô bỏ trong ly nước nóng, vỏ cây thôi màu ra nước thành mực. Chú Bảy Thâu dùng thứ mực này chép báo cáo chiến lệ, chỉ thị của Khu ủy, báo cáo tài chính... lên giấy Âm ba giai. Mực khô không nhìn thấy chữ, đem giấy gói thuốc rê đưa cho giao liên hợp pháp chuyển về Trung ương Cục. Trước khi đọc chữ, dùng nước trà quét lên giấy, con chữ, con số nổi lên rõ mồn một. 

Bây giờ, chú Bảy Thâu - nguyên Phó phòng Tài chính Quân khu 9, dù đã gần bẩy mươi tuổi tóc bạc trắng, nhưng người phương phi, nước da hồng hào, mặt vuông chữ điền, tính chú hiền khô dễ gần. Trí nhớ tốt, và am tường, chú Bảy Thâu lấy giấy bút nghệch một loáng đã ra cái bản đồ sông nước miền Tây Nam bộ: Đồng Tháp Mười. Cái mỏ Vẹt vùng Đức Hòa, Đức Huệ  - Long An có “Cánh đồng chó ngáp”. U Minh Thượng. U Minh Hạ. Bảy Núi - An Giang. Sông Tiền. Sông Hậu. Sông Cái lớn. Sông Cái bé. Sông Gành Hào. Sông Đầm Rơi. Sông Ông Đốc. Sông Trèm Trẹm. Kinh Xáng. Kinh Dương Văn Dương...vv... Chằng chịt sông nước, kênh rạch miền Tây.  Rồi mũi Cà Mau mà nhà văn Nguyễn Tuân ví như ngón chân cái của người mẹ toãi ra biển cả...
Chú Bảy Thâu chỉ vào vùng rừng U Minh, biểu:

- Đây nè. Chú cùng Sáu Cự, Tư Vịch gùi vàng từ U Minh Thượng lên Gộc Xây - Hà Tiên nè.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Chiến tranh, bom đạn tơi bời. Các chú gùi làm chi vậy?

- Để mang sang Campuchia.

Chú Bảy Thâu kể:

Các chú gói vàng lớp trong cùng là khăn rằn, tiếp theo là ni lông, ngoài cùng là giấy dầu. Ngày đi đêm nghỉ, có lúc địch càn dữ quá không đi được phải chôn vàng xuống đất. Nhưng đề phòng tình huống giặc đến, chạy túa lua, khi quay trở lại thì mất dấu, không tìm được chỗ chôn, các chú đành đem ra nghĩa địa chôn lén đắp đất lên như cái mả. Thời chiến tranh, vùng đó người chết do bom đạn nhiều, nghĩa địa đầy mả mới. Lúc giặc lui, đào vàng lên để đi tiếp, đào nhầm phải mả có xác chết lại lấp đi, đào mả khác, đến cái thứ ba mới đúng... “mả vàng”. Vàng mang sang Campuchia, các chú giao cho cơ sở cách mạng hợp pháp bên đó mua hóa chất, mua thép láp để về làm súng Ngựa trời.

Thượng tá Nguyễn Hữu Khởi - Phó phòng Tài chính Quân khu 9 là người rất chịu khó đọc Tạp chí Văn nghệ Quân đội, chuyên mục 12 cuộc Đối thoại trong năm, anh không bỏ sót kỳ nào. Anh bảo: Thời bom đạn, giặc càn đi, quét lại khắp rừng U Minh, Đồng Tháp Mười...; cái thời ấy không thấy nói đến trượt giá, lạm  phát, cả nước nhịn ăn đánh giặc. Bảo đảm tài chính ở điều kiện rất khó khăn, ác liệt; những cán bộ như: Chú Ba Xê, Ba Đán, Bảy Thâu, Bông Văn Dĩa... trong lúc thiếu thốn đủ bề, đói, thiếu áo mặc, bị thương, máu thấm đỏ đồng tiền vẫn rửa lau, gùi đủ về đơn vị... không tơ hào một xu. Giá như các nhà văn quân đội mà đối thoại với những người lính cựu ấy? Tôi lặng im, thấy mình dường như như ngòi bút bất lực, kém cỏi trước bao điều kỳ vĩ, khốc liệt của chiến tranh.

Tôi lại nhớ chiều tối hôm trước, tôi và Đại tá Nguyễn Văn Huy - Tổng biên tập Tạp chí Tài chính Quân đội đến Tịnh Biên - An Giang; trời biên giới âm u, vắng người, hiu hắt. Tự nhiên tôi thấy buồn và có cảm giác mình đang sống ở một cõi khác, lòng dạ cứ nôn nao. Khi làm việc với Đại tá Trần Chánh Nghĩa - Đội trưởng Đội Quy tập mộ liệt sĩ K90 thì tôi mới biết dưới tán cây săng lẻ, cây thốt nốt không chỉ là nhà ở của các phân đội mà còn có Nhà lưu hài cốt liệt sĩ, đây là nơi an nghỉ tạm thời trước khi đưa về các địa phương, về với gia đình. Có phải hài cốt các liệt sĩ đã về quê hương rồi, nhưng linh hồn các anh vẫn thỉnh thoảng trở lại thăm những người đã cất công tìm kiếm hồi hương mình không?

5 năm Đội K90 đã thực hiện 14 đợt tìm kiếm, cất bốc, hồi hương 1017 hài cốt liệt sĩ ở tỉnh Kalđan và Công pông chnăng - Campuchia. Nhưng chỉ có 77 hài cốt liệt sĩ biết tên và quê quán; còn lại chỉ là... nắm xương tàn vô danh. Một sự thật đau lòng hơn bất cứ sự đau lòng nào.
Bây giờ bên nước bạn đang mùa khô. Đường đất xa ngàn trùng. Xa xứ lạ người. Thông tin về liệt sĩ ít ỏi, mơ hồ... Khi tôi ngồi viết những dòng chữ này thì Đại tá Trần Chánh Nghĩa, thượng tá Thạch Quang Thái... và đồng đội đã lại sang Campuchia rồi. Các anh đang lang thang, lặn lội ở những cánh rừng nước bạn tìm kiếm đồng đội.

4.

Thời chiến tranh, Viện Quân y 121 đóng trong rừng U Minh. Một dạo địch chủ trương bình định nông thôn, ra sức xúc tát dân ra thành phố để tách quần chúng ra khỏi cách mạng; tiếp tế lương thực thực phẩm rất khó khăn, thầy thuốc và thương binh đói vàng mắt, da xanh lướt, bệnh viện phải thành lập Đội sản xuất kiêm tiếp lương do Chín Tài phụ trách để tự túc lương thực thực phẩm. Nhiệm vụ của Đội là: Nuôi heo, đánh bắt cá, ba ba, rùa, rắn; thu gom lúa gạo; có lần dỡ lọp được 6 - 7 kg cá, với hơn chục con rùa. Bệnh viện thường xuyên dự trữ được 150 - 200 giạ gạo. Thương binh và nhân viên qua đận đói, bữa ăn có chất tươi thịt cá, rau muống, đọt choại, bồn bồn, canh chua trái lác. 

Tôi xin chép lại hầu bạn đọc câu chuyện hết sức kỳ lạ ở rừng U Minh thời chiến tranh: Có một lần, dân chèo xuồng ba lá chở đến giao cho bệnh viện một bồng tiền ngụy và anh bộ đội trẻ bị thương ở phần gốc dương vật. Dù bị sưng to nhưng vẫn đi tiểu được, anh lính tài vụ trẻ đau đớn và mắc cỡ vô cùng. Các thầy thuốc điều trị bảo tồn, không phẫu thuật, chỉ tiêm Pênixilin và thay băng. Sau ba tuần lễ, vết thương ngoài lành da, nhưng thỉnh thoảng lại đi tiểu nước đục như mủ. Một lần mắc tiểu quá, anh lính trẻ cố rặn và đái phụt ra rớt xuống bô một... đầu đạn đồng. Thầy thuốc, thương binh đến xem đều kinh ngạc. Chuyện lan nhanh, người nọ kể cho người kia nghe, dân khắp vùng U Minh đồn:  “Quân y viện có bác sĩ học ở Liên Xô về, rất tài, chỉ chích thuốc mà thương binh đái ra đầu đạn đồng, không cần mổ.”

Tôi đem chuyện thực hư này hỏi Thiếu tướng, Thầy thuốc Nhân dân Trần Thanh Quang (còn gọi là Bảy Quang) - Giám đốc bệnh viện. Ông công nhận là có thiệt: Dạo ấy chiến tranh, bom đạn rơi mù trời, trang bị kỹ thuật thô sơ nên mới có chuyện lạ, vui đó chớ; vài năm sau đã có X. quang, nghi ngờ là chụp ngay. Hình ảnh cản quang của cái đầu đạn đồng sẽ rõ mồn một; công việc phẫu thật còn lại chỉ là... việc nhỏ xíu.

Nói rồi thiếu tướng Trần Thanh Quang đưa chúng tôi đi thăm bệnh viện: Đây nhà điều trị cán bộ. Kia hội trường. Đây nữa là các phòng mổ...vv. Nơi nào cũng sạch sẽ, sáng sủa. Từ tiền dịch vụ, bảo hiểm y tế được đầu tư trở lại nghiên cứu khoa học, đào tạo nâng cao tay nghề và mua sắm trang thiết bị như: Máy chạy thận nhân tạo, máy chụp cắt lớp (City Scanner), máy thở, hóa chất, dược liệu; xây mới sửa chữa nâng cấp phòng bệnh... phục vụ khám bệnh và điều trị thương bệnh binh. Vụ xử lý cấp cứu các nạn nhân sập cầu dẫn Cần Thơ năm ngoái đã khẳng định tinh thần phục vụ, năng lực chuyên môn, trình độ tổ chức cấp cứu điều trị kịp thời, hiệu quả của Viện quân y 121 khi tình huống thảm họa hàng loạt xảy ra.

Viện quân y 121 có cả trăm giường bệnh được làm từ inốc sáng loáng, rất đẹp. Không biết bằng nguồn nào, người ta mua lậu từ I Rắc - một đất nước mịt mù bom đạn và cát nóng rồi chở về nước. Có nguy cơ không giải trình được với hải quan và cơ quan thuế, hàng không rõ nguồn gốc sẽ bị khép tội buôn lậu, ông chủ hàng đó giục nhân viên ném hết xuống sông để phi tang. “Của đau con xót”, với lại tự đáy lòng sâu xa, gã buôn lậu xuyên quốc gia ấy vẫn còn chút lương tâm, hoặc rất có thể gã đã từng là bệnh nhân của Viện 121 và một thầy thuốc nào đó là ân nhân của gã nên thông tin những cái giường bệnh inốc chìm dưới đáy sông được truyền đến viện và chúng được mò, vớt. Mỗi giường bệnh inốc trị giá cả triệu đồng. Tận thu và tiết kiệm lúc nào cũng thiết thực và có ý nghĩa.

Ở bệnh viện thường phải thức đêm trực, do quá trình phát triển, và yêu cầu nhiệm vụ, mỗi đêm cần tới 60 bác sĩ, y tá trực. Nhưng tiền bồi dưỡng trực theo chế độ chỉ được cho 28 người. Tôi hỏi, thế còn 32 người kia trực không được gì a? Trung tá Trương Văn Lý - Trưởng ban Tài chính bảo: Chế độ trên cho chỉ có vậy anh ạ, trong lúc đề nghị trên giải quyết, bệnh viện đành... chia đều. Chúng tôi giải thích rõ với anh em, công khai, công bằng, cùng hưởng.

Viện quân y 121 đóng quân trong một khuôn viên rợp tán cây xanh. Sống giữa thành phố bên sông Hậu xinh đẹp; cái lãng mạn một thời đang bị cái ồn ào, gấp gáp của kinh tế thị trường lấn át; nhưng đời sống cán bộ nhân viên quân y đã ổn định, sống được bằng nghề của mình, nhiều người không phải quá lo chuyện cơm áo gạo tiền mà đã có điều kiện nghỉ ngơi thư giãn. Đêm cuối tuần, vợ chồng con cái dắt nhau lên thuyền nghe đờn ca tài tử xuôi sông Hậu, ngồi uống càfê trên bến Ninh Kiều, hoặc sáng sớm đưa bạn từ Sài Gòn về chơi đi chợ nổi Cái Răng. Đã qua rồi cái thời dựng lán điều trị trong rừng tràm, đi xúc tát bắt rùa, rắn, ba ba ở rừng U Minh chống đói, bồi dưỡng cho thương binh và chạy càn. Bây giờ, sáng sáng nghe đọc báo tập trung, đến cái đoạn giá vàng, giá gạo tăng... thỉnh thoảng lại nghe tiếng thở dài, và thảng hoặc bắt gặp một cái nhìn lo lắng.

Chiến tranh rồi lại hòa bình; gian khổ thời bom đạn, lao đao bấp bênh thời bao cấp; dù có biến đổi thăng trầm bao nhiêu, thì quy luật vận động của cuộc sống cũng luôn luôn đi lên. Hy vọng. Và hạnh phúc. 

Miền Tây Nam bộ, 3- 2008

(Văn nghệ Quân đội)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác