Miền sữa ngọt

Lâm Thị Thanh Hà

(Tác phẩm đoạt Giải 3 cuộc thi Ký Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 3)

Dự định đi một chuyến, để mục sở thị những gì đã ngấm nhuyễn nhừ từ kênh thông tin “chia sẻ” của bạn trong suốt nhiều năm qua, tránh cái lỗi chỉ nghe mà không thấy. Một chuyến là đủ. Vậy mà cái vùng đất giồng khô khát, đa phần người nói tiếng Việt lơ lớ ấy, đã khiến tôi phải quay lại lần hai và vẫn còn hăm hở lắm lắm cho lần ba lần bốn…

Với cái tính rộng rãi có lẽ cũng thuộc cốt cách, chắc chắn bạn chưa một lần thử tính sơ sơ xem một năm phải móc bóp chi bao nhiêu cho những cú điện thoại đường dài, nhiều khi dài mút mùa. Và tôi, đối tượng được sẻ chia, được là mảnh đất vô hại cho ai kia xả stress, cũng đã sơ ý không thử ghi chép xem mình đã “tốn kém” cho cái vai ấy bằng bao nhiêu lần khê khét: ấm thuốc nam, nồi canh ơ cá… Chỉ biết là nhiều, rất nhiều.

“…Không dám dễ đâu. Đám con nhà giàu đó vận động để người ta chấp nhận nó phải trầy vi tróc vẩy. Dân không tin, lãnh đạo tỉnh nhiều người không tin. Cũng chẳng trách được vì nó xa lạ quá. Bởi vậy càng không thể lơ mơ đại khái. Tham quan tập huấn phờ râu. Cán bộ nhân viên tham gia dự án đã đành, cả các hộ trực tiếp nuôi cũng vậy. Tưởng tượng coi, cơm ghe bè bạn cho gần hai trăm con người lần lượt đi hết tỉnh nầy tỉnh kia, để thấy tận mắt sờ tận tay, rồi lên lớp, rồi chia ra cùng ở cùng làm với các nông hộ ở Bình Dương cả tháng trời. Mà hai trăm người nào?… Ờ, thì dĩ nhiên là người nghèo, nghèo mới được thụ hưởng từ dự án. Tội nghiệp lắm, có người chưa biết cái chợ Sóc Trăng, chưa biết sử dụng bồn cầu, chưa biết chữ, nói tiếng Việt chưa rành…, bởi vậy nghe mấy ông kỹ sư người Bắc ở Trung tâm huấn luyện gia súc lớn lên lớp như nghe tiếng Tây…  Làm sao à? Thì phải kiếm chỗ khác cho người ta nghe được chớ sao. Người dân tộc họ thiệt thà, nhưng cũng đầy cá tính. Có câu dân gian nói về người đàn ông Khmer : “Mến bò thương vợ sợ ma”. Thương mà xa thì nhớ, nhưng mấy cha nội đâu chỉ nhớ vợ, còn nhớ rượu nữa! Nội qui rành rành là không được rượu chè trong thời gian học việc, vậy mà tối tối cũng lẻn đi, uống tới sừng sừng bị đám thanh niên địa phương khiêu khích thì nhào vô chơi liền… Có một tay còn chun vô mùng con gái nữa, động trời không?... May phước là không phải con cháu chủ nhà. Là một đứa con gái cùng đoàn. Chắc anh ả phải lòng nhau. Tốt thôi, trai chưa vợ gái chưa chồng. Nhưng giá mà nín nhịn cho tới lúc về nhà. Bởi vậy chủ nhà nổi giận đùng đùng… Nói cho công bằng, chẳng phải người ta khó khăn chấp nhặt gì, chẳng qua nhà người ta là nhà làm ăn, người ta sợ xui… Vậy đó, bao công lao tiền bạc đổ ra. Mà tiền của ai thì cũng phải tính tới kết quả, phải không? Vậy mà hôm qua đi kiểm tra mấy chục con bò sữa đưa về các hộ đợt đầu tiên, phát hiện có một hộ không làm chuồng như cam kết. Bước vô nhà thấy con bò đứng lù lù sát chõng ngủ. Nền nhà thì nền đất u nần, móng miết nào chịu được. Mà bò sữa hư móng coi như tiêu. Bực không để đâu cho hết, qué cho một trận. Về, nhớ lại cái nhà túm húm nắng soi trứng gà trứng vịt, ban ngày ban mặt mà mùng chiếu sùm sụp, con bò đứng cao hơn nóc mùng (Cột ngoài sân sợ mất mà!), vừa mắc cười vừa tội nghiệp…”

Nghe trong ống a lô có tiếng thở khì, chắc dài cả công.

“…Con bê sữa đầu tiên của huyện Mỹ Tú chào đời, dân họ tổ chức ăn đầy tháng y như cái lễ đầy tháng mừng con người ra đời. Cảm động không?… Đang mệt đứt hơi mà nghe mấy chuyện vậy tỉnh liền, khỏe re liền…”

Giờ, ngẫm lại, nếu không có những tâm sự tràng giang đầy tin cậy của bạn, chắc gì tôi đã muốn đi; chắc gì tôi có được những giờ phút thật sự trải lòng chia sẻ với mỗi thành quả khiêm tốn buổi đầu, trân trọng cả ước mơ nho nhỏ bình dị vừa chật vật nhen nhúm của những người mặt nám da chai; chắc gì tôi đã được cười, cái cười ứa nước mắt giá trị như một bài thể dục dưỡng sinh cho tâm hồn, trước niềm vui tưng bừng tràn trề trên khuôn mặt còn nguyên vẻ lam lũ của những người đàn bà như chị Soóc Kha…Tôi nhớ có lần bạn kể, hôm đưa đoàn khách của Tổng công ty Vinamilk thăm mấy hộ nuôi bò sữa, chị Soóc Kha phát hiện ra cái dáng quen thuộc của bạn từ xa đã hụp hửi kêu: “Cô ơi, hôm trước cô chúc tui đẻ bò cái, giờ tui đẻ bò cái rồi!”. Con bò do dự án cấp cho gia đình chị đã đẻ 4 lứa, 3 lứa trước toàn bê đực. Lần nầy được bê cái, có nghĩa là được thêm một ả hậu bị, được cả lượng sữa tăng cao: trên dưới 20kg một ngày. Với cái gia đình không cục đất vụt chim (3 công ruộng đã cầm cố hết), quanh năm chui rúc trong căn nhà mà nơi cao nhất là cái nóc cũng chỉ nhỉnh hơn đầu người, 6 miệng ăn chỉ trông vào sự quơ quào của 2 đôi tay, thì cái được bây giờ là quá lớn. Ngắm nghía ngôi nhà còn chưa kịp cũ, chị bảo: “Bây giờ được sữa nhiều nhiều, với đi làm mướn thêm nữa nên cất được nhà. Vợ chồng em biết làm ên (tự cất nhà) nên ít tốn tiền. Em cám ơn dự án, với lại cám ơn Hội phụ nữ quá trời”. Thiệt tình, nếu xếp loại, cao lắm nó cũng chỉ là nhà cấp bốn bởi cột gỗ tạp nhiều chỗ cong queo, được mỗi cái là cao ráo và mái tôn. Vậy nhưng ánh mắt chị khi ấy thật đặc biệt. Chưa lần nào chứng kiến cái nhìn của gia chủ trước ngôi biệt thự hoành tráng có được từ tiền trúng số, nhưng tôi tin chắc, ánh mắt của người đàn bà Khmer trước cái công trình “làm ên” ấy nó khác xa lắm: hạnh phúc, tự tin và tự hào lắm lắm. Chẳng biết cô bạn đồng hành Lưu Thùy Diệp có đem ánh mắt ấy vào luận án tiến sĩ của mình không (Đề tài: “Về tính bền vững của các dự án nâng cao đời sống do chính phủ Canada tài trợ”, bảo vệ tại Canada), nhưng nhìn vẻ mặt Diệp, tôi chắc rằng cũng như tôi, nó sẽ còn đọng lại rất lâu trong lòng.

Lại nhớ, có lần bạn khoe đống ảnh tư liệu về bò sữa lưu trong laptop. Gọi là đống vì nhiều vô kể, nhưng có lẽ cái bạn muốn khoe nhất là mục “Bò đẹp”. Tay vê vê bấm bấm, miệng hít hà: “Cực kỳ chưa?”. Có khoe người yêu, chắc cái giọng người ta cũng chỉ đến vậy. Tôi ừ à, vì nể bạn chớ thiệt tình lúc ấy chẳng thấy cực kỳ chỗ nào. Thì đẹp nỗi gì cái con vật to đùng đứng lù lù một đống đen đen hay xỉn vàng (Vì lai Sind- giống bò Ấn Độ), chớ đâu được như đám thuần chủng bông bông hoa hoa nhảy nhót vui vẻ “Trăm phần trăm…” dạo gần đây hay xuất hiện trên truyền hình. Nhưng giờ, khi tận mắt ngắm cái vẻ sạch sẽ phẳng phiu óng mượt của đám to đùng ấy, nhất là ở hộ anh Châu Săm Bô (ấp Chắc Tưng, xã Tài Văn, huyện Mỹ Xuyên) khiến cứ muốn được vuốt tay một cái, tôi mới hiểu ra. Bạn có lý. Càng có lý hơn bởi cái đẹp ấy không phải tự trên trời rơi xuống. Để có nó, người ta phải đổ mồ hôi từng ngày từng giờ. Tắm táp, cho ăn, vỗ về, dọn vệ sinh ư ? Chuyện nhỏ. Cái làm tôi giật mình chính là khoảng cỏ. Ba con bò của anh Châu Săm Bô gồm 1 hậu bị sắp phối giống, 1 chữa, 1 đang cho sữa, ngốn hết 160kg cỏ mỗi ngày! Đống cỏ ấy nếu chất lên chắc sẽ cao hơn tầm vóc của chủ nhân. Thì cứ nhìn cái cách chúng ăn mà xem: miệt mài, rau ráu, ngon lành. Cảm giác chúng có thể đứng nguyên vậy, nhai nhai nuốt nuốt đến hết đời! Vậy cỏ ở đâu? Dĩ nhiên là trồng, ngay từ lúc bắt đầu triển khai dự án. Nhưng vì nhiều lý do (không đủ đất, muốn tận dụng nguồn cỏ hoang) nên hầu như nhà nào cũng lặn lội tìm thêm trong tự nhiên. Anh Châu Săm Bô khoe: “Bây giờ có tiền mua được ghe máy rồi nên đi kiếm cỏ khỏe hơn”. Vợ chồng anh cũng thuộc diện quanh năm cày thuê cuốc mướn: “Sáng sớm đi, tối mịt mới về, con gởi cho nội”. Giờ, chỉ mình anh đi kiếm cỏ, chị ở nhà chăm bò, chăm con, lo cho nó học hành. Nhìn đám cỏ sả mướt mát trồng đầy quanh nhà anh, tôi lại nhớ tới cái khoảng bằng phẳng rộng thênh trước sân và hông nhà của một hộ Khmer nghèo (Thuộc diện nghèo còn rớt lại) của xã Định Môn, huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ. Hỏi: “Sao chị không trồng đu đủ hay rau cỏ gì, ít nhất là để có ăn?” Người đàn bà xanh xao vì bịnh hoạn và chắc cả vì thiếu dinh dưỡng hồn nhiên bảo: “Ông chồng nói để lâu lâu làm đám”. Để có chỗ lâu lâu làm đám, còn bữa cơm trưa đang chờ những người đi vác đất mướn, cắt lúa mướn thì chỉ có nồi cơm với chén nước mắm dầm ớt! Mà đâu phải hiếm hoi cá biệt, đâu phải chuyện bây giờ. Ngay cái sân và hông nhà anh Châu Săm Bô cũng truyền đời trống trơn, mùa nắng chang chang, mùa mưa sình lầy rêu phủ.

Giờ khác rồi. Giờ thì trên những nẻo đường của miền đất thuộc vùng sâu vùng xa Mỹ Xuyên, Mỹ Tú, người ta có thể bắt gặp những ruộng những bờ cỏ sả cỏ Thái và cả những hàng những bụi cỏ tận dụng đất ven đường. Và, kỳ diệu hơn, từ nơi mà sự nghèo, sự thiếu chữ cũng truyền đời trì níu, lo cho cái bụng được no đã quá sức, nên chuyện kinh tế thị trường hay các tiêu chuẩn ISO… khác gì chuyện của cung trăng, vậy mà người ta lại có thể làm ra thứ sản phẩm nông nghiệp đòi hỏi khắt khe nhất về mặt chất lượng, và hơn hai năm qua lại còn luôn vượt tiêu chuẩn AAA- tiêu chuẩn chất lượng cao nhất của Vinamilk. Thì cứ nhìn vào cách ông chủ Liêu Đơ chăm chút, vắt sữa con bò 11 tháng đẻ 1 lứa của mình mà xem: từ tốn, cẩn trọng, gượng nhẹ, chính xác…, cứ như đang tiến hành nghi thức của một cuộc lễ quan trọng. Mà quả cũng đáng là nghi lễ: nghi lễ của một cuộc cho và nhận mang ý nghĩa nhân quả, nghi lễ của một xác tín về công cuộc đổi đời…

Tôi có cái may là cả hai chuyến đi đều kết thúc tại trụ sở hợp tác xã bò sữa Evergrowth (Thành lập năm 2004, cũng thuộc dự án bò sữa do CIDA- Canada tài trợ), lại vừa là điểm thu mua chính, đúng vào cuối chiều, thời điểm thu mua lần hai trong ngày. Khó nói được cảm xúc khi được đứng ở cái nơi từng heo hút buồn, giờ là một cơ ngơi khang trang với các thiết bị hiện đại nhất chuyên dùng cho việc mua bán sữa tươi. Dập dìu xe đạp xe máy chở theo sau bình sữa cùng một qui cách, cùng trắng tinh tươm. Tôi chăm chú quan sát mấy chú bé Khmer còn nguyên áo trắng học trò với khăn quàng đỏ chắc vừa tan trường, lui cui rửa bình sau khi đã giao hết sữa. Thật lòng, tôi không mấy tin các em sẽ làm đúng theo qui trình hướng dẫn ghi trên bảng, cho dù các thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng: nước sạch, nước pha soda, nước pha clorine, miếng xốp. Nhưng tôi đã nhầm. Các chú nhỏ chẳng những tuân thủ đúng các bước mà còn thành thạo. Hẳn các công dân, xã viên tương lai ấy chưa giải thích được cặn kẽ độ nhiểm vi sinh là thế nào, nhưng chắc chắn là hiểu rất rõ nguồn thu nhập của gia đình ngay lần giao sữa sáng mai, sẽ kém đi một ít nếu chiều nay các em làm dối.

Vậy là từ “con bò giấy” đầy hoài nghi buổi đầu, đám con nhà giàu xa lạ đó đã bình yên khỏe mạnh ở đất nầy được gần 5 năm. Chưa phải là dài để trở thành tập quán làm ăn của một cộng đồng dân cư, nhưng với tất cả những gì hiện có, liệu đã có thể nói rằng, cả 3 yếu tố thiên địa nhân ở đây đều thuận lợi để cái giống đại gia súc ấy có thể sinh con đàn cháu đống và định cư dài lâu trên đất nầy?

Trong bối cảnh nhiều nơi (Kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long) vừa qua trận lao đao với con bò sữa, thì có lẽ để có cái nhìn khách quan thỏa đáng nhất, chính là dựa vào thực tế sinh động từ đời sống, từ những người ngày ngày gần gũi, chăm bẵm, coi chúng như thành viên gia đình mình. “Nói mấy cô không tin chớ thiệt tình tui hun con bò tui hoài. Tắm rửa sạch sẽ cho nó rồi hun…”. Một bác nông dân trong đám người đứng ngồi chờ tới lượt cân sữa, phớn phở khoe. Người ta cười rần, còn cô bạn đồng hành Lưu Thùy Diệp thì đỏ mặt. Có lẽ Diệp chưa từng nghe ai nói vậy, mà quả cũng khó hình dung người ta sẽ hôn con vật to đùng đen thui ấy như thế nào. Bất giác tôi nhìn quanh. Chẳng hiểu trong số họ, có ai là người đã tíu tít khoe với bạn- người đứng đầu dự án, về cái sáng kiến cho bò nghe nhạc để được nhiều sữa không. “Đài nói vậy mà”. “Ông cho nó nghe nhạc gì?”  “Nhạc disco!”. “Trời đất ơi, chắc nó chỉ lo nhảy nhót…”. Dài giọng nhấn nhá cái từ tiếng Tây một thời quen thuộc với cánh choai choai, bạn lại thêm trận cười chảy nước mắt.

Từ 1 con bò sữa hậu bị do dự án cấp ban đầu, sau đó nhiều hộ bổ sung thêm 1 con từ tiền vay Ngân hàng chính sách, cộng với số chúng tự sinh và bà con tích lũy mua thêm, hiện rất nhiều hộ đã có từ 4 đến 5 con. Riêng vị bác sĩ trưởng trạm y tế xã Tham Đôn, tuy không thuộc diện được dự án cấp, nhưng lần hồi cũng đã có trong chuồng hằng chục con. Tôi hỏi ông Triệu Sao- Chủ tịch Mặt trận xã, cũng là thành viên tích cực của câu lạc bộ bò sữa ngay thời kỳ đầu, rằng ông có ý định tăng thêm số đầu bò trong chuồng nhà ông không: “Có chớ, đang sửa soạn xây thêm chuồng. Miễn giá sữa lên là chơi tới tới”. Câu trả lời ngay tắp lự, rồi cười, tiếng cười là minh chứng xác thực cho cái “có chớ” chắc nịch kia.

Bây giờ, chỉ sau vài tháng mà giá sữa đã tăng gần gấp đôi, nghĩa là những người nông dân như ông đã được hưởng “gần đúng” giá trị thực sản phẩm mình làm ra, thì hẳn tiếng cười sẽ còn thơ thới, rộn vui biết bao. Và, cái liên minh công nông trong thời kỳ kiến thiết đất nước, chẳng phải nhờ những tiếng cười như vậy mà củng cố, thắt chặt hơn sao?

Họ chưa giàu, quả vậy, nhưng ít ra từ ngày có tiếng reo vui của dòng sữa ngọt, mắt họ đã thôi chau dau nỗi lo cơm áo. Nhà anh Triệu Pol gồm 2 vợ chồng và 5 đứa con trứng gà trứng vịt, đã có thể đường hoàng mua chịu bao gạo 2 tuần trả, theo kỳ hạn thanh toán tiền bán sữa của HTX.

Và dù chưa rủng rỉnh tiền, nhưng lá rách ít đã biết vươn tay níu lá rách nhiều. 35 con bò cái được mua từ tiền quỹ quay vòng của các CLB bò sữa huyện Mỹ Xuyên (Tích lũy từ tiền thanh lý số bò do dự án cấp bị ốm quặc quẹo hay trục trặc gì đó trong cơ thể nên không hiệu quả, từ tiền tiết kiệm hằng tháng của các thành viên…), cấp cho các hộ chưa là thành viên CLB. 35 con bò- 35 cơ hội thoát nghèo…

… Và… tình làng nghĩa xóm…

Nhưng, hãy tạm gác câu chuyện dài ấy, để nghe những người phụ nữ trong cuộc nói một cách mộc mạc về những đổi thay gần gụi nhất với mình: “Hồi đó ổng quậy lắm, bởi vậy muốn đi đây đi đó hơi khó. Lúc đầu tham gia CLB ổng không tin nên không cho, nói tới nói lui hoài. Giờ làm ăn được, nói con nghe, ông xã nễ hơn...” (Chị Huỳnh Thị Nương- ấp Tà Ân 2A, xã Thuận Hưng, huyện Mỹ Tú). Cái bụng ấm, không khí gia đình ấm, những người đàn bà ít chữ như chị Soóc Kha bỗng nghĩ ngợi nhiều tới cái sự học của con cái. Chị ước ao có lớp học cho 2 đứa con quá lứa dở dang từ mấy năm đầu tiểu học, để chúng “được mở mang như người ta”.

Họ - những người phụ nữ từng có lúc không có tới 2 bộ đồ lành, đã khác (Phần lớn thành viên các CLB bò sữa là phụ nữ), khác từ trong gia đình tới ngoài xã hội. “Hồi đó đi họp ai nói gì thì nói, ngồi nín thinh hè, giờ chịu nói rồi.” (Chị Trần Thu Hằng - PCT Hội phụ nữ xã Tham Đôn, kiêm chủ nhiệm CLB bò sữa ấp Bưng Chụm). Đã “chịu nói” trong cuộc họp, tức là đã ý thức được quyền làm chủ, điều nầy ý nghĩa và quan trọng biết bao trong một tổ chức tập thể, trong một chế độ mà quyền làm chủ của người dân mang ý nghĩa quyết định. Từ chịu nói đến những chuyện sát sườn với đời sống của mình, họ sẽ dần biết nói đến chuyện làng xã quốc gia. Thực hành dân chủ là một quá trình “học” và “tập” lâu dài, chẳng phải như vậy sao?

Chắc rằng những đổi thay mang tính nhân văn nầy, không chỉ được đề cập sâu sắc mà còn là cốt lõi trong luận văn “Về tính bền vững…” của Lưu Thùy Diệp, bởi suy cho cùng, phát triển kinh tế là vì hạnh phúc của con người, vì sự tiến bộ của xã hội, và ngược lại, chính nó- các yếu tố nhân văn là phần hồn, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển một cách bền vững. Đó là mối quan hệ nhân quả đã được đề cập từ xữa xưa, nhưng tiếc là trong nền kinh tế thị trường, không ít người vô tình hay cố ý lãng quên.

*

Nền móng để Sóc Trăng thành nơi đứng chân của con bò sữa đã được thiết lập, đó là điều không thể phủ nhận. Sự thành công đó, theo ông Nguyễn Quốc Khánh - giám đốc nhà máy Vinamilk Cần Thơ (Trong buổi đối thoại trực tiếp do đài THVN tại Cần Thơ thực hiện ngày 4 tháng 10 năm 2006) là bởi dự án đã được triển khai đồng bộ và bao giờ cũng đi trước một bước, từ tổ chức sản xuất đến xây dựng hệ thống thu mua, vận chuyển bán cho nhà máy… Tuy nhiên, để Sóc Trăng thực sự thành miền sữa ngọt thì người ta còn phải đổ nhiều công sức, bởi vẫn còn những khó khăn, khiếm khuyết. Ví như sự không đồng đều về năng suất giữa các hộ, các địa phương (Mỹ Tú thấp hơn Mỹ Xuyên). Ví như cái tính dễ nãn lòng, dễ thỏa mãn của một số người, chuyện tưởng nhỏ nhưng không hề nhỏ… Thì chỉ mấy tháng trước, trong một cuộc điện thoại đường dài, bạn lại bức xúc: “… Mới sáng sớm bước vô nhà, gặp ngay tiệc nhậu cóc ổi vừa bày trên cái chõng trước hiên, bốn ông hờm hờm nhập cuộc, còn con bò thì ốm nhom buồn hiu ngoài chuồng. Hóa ra nhà họ có đứa con gái gần đây đi làm công nhân may ở Sài Gòn, tháng gởi về cho vài trăm ngàn, vậy là đủ…”

Trong sản xuất, giá cả là yếu tố quan trọng kích thích sự phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Hy vọng với giá sữa hiện nay (Có thể sẽ còn tăng hơn nữa), mọi sự đã khác, và cái khác đó khiến HTX bò sữa Evergrowth không dừng lại con số 817 xã viên và tổng đàn bò sẽ gấp nhiều lần con số 1588 con như  hiện nay (Trong đó có 439 con đang cho gần 4 tấn sữa mỗi ngày), để Sóc Trăng dần trở thành vùng nguyên liệu đáng kể, của thứ sản phẩm ngày càng thiết yếu, trong đời sống kinh tế ngày một khá lên của mỗi người mỗi nhà.

Với 6 triệu dollar Canada tài trợ cho dự án “Nâng cao đời sống nông thôn” (Chia ra thành các dự án nhỏ: đường, trường, trạm và phát triển doanh nghiệp cộng đồng), gần 7 năm qua, CIDA đã góp phần cùng chính quyền địa phương làm thay đổi rõ rệt bộ mặt nông thôn vùng sâu vùng xa của Sóc Trăng, thực hiện chính sách lớn của Đảng và Nhà nước là xóa đói giảm nghèo, đặc bịêt với đồng bào dân tộc ít người. Thời gian còn lại của dự án không dài, vì thế còn nhiều việc phải làm rốt ráo để nhanh chóng khắc phục những tồn tại khiếm khuyết. Trách nhiệm đó không chỉ đặt lên vai các cán bộ quản lý dự án mà còn thuộc về chính quyền địa phương và đặc biệt là các thành viên HTX: Ban quản trị, xã viên. Nếu mỗi người trong cái tổ chức kinh tế tập thể ấy đều ý thức được rằng: “Hợp tác xã vững thì tui vững theo” (Liêu Đơ- huyện Mỹ Xuyên), thì người ta sẽ biết phải hành động như thế nào. Và như thế, sẽ không hề là ảo tưởng trước viễn cảnh người nghèo chẳng những đoạn tuyệt với cái nghèo mà còn trở nên giàu có và Evergrowth sẽ liên tục phát triển, đúng như tên gọi của nó.  


Cần Thơ tháng 10 năm 2007 

 

Tác giả giữ bản quyền. Chọn từ tập ký đoạt giải Cuộc thi Ký ĐBSCL lần thứ 3 - Nhiều tác giả - NXB Hội Nhà văn 2008.

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác