Lời nhắc nhở hôm qua (*)

Có những cuốn sách khi đọc đến đột ngột nhắc ta rằng lại mười năm nữa đã trôi qua; dù có thể “mười năm” hay “thập kỷ”, “thập niên” nhiều lúc cũng không thật có nghĩa gì lắm, chỉ là một biểu đạt chung cho rất nhiều xúc cảm trên các phương diện khía cạnh tầng lớp rất đa dạng của cái xúc cảm căn bản về độ dài hiện hữu.

Nhưng dĩ nhiên thật là mười năm nữa đã lại qua, kể từ sau cơn địa chấn văn chương Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, sau một sự trở lại trẻ trung của tiểu thuyết với Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Việt Hà năm 1999-2000.

Trước cơn lũ của nghệ thuật không tải là tiêu đề bài thứ mười trong tập tuyển phê bình của Ngô Thảo, thời điểm năm 1990.

Khung cảnh được phác hoạ ở bài phê bình này là sự lộn xộn tươi mới một buổi đầu của nền văn hoá đại chúng: sách-hàng-hoá ê hề, sách “đại hạ giá” đầy dưới vỉa hè trong đó có cả nhiều tên tuổi danh giá đương thời (-Ngô Thảo, tr.203). Và nỗi băn khoăn của người phê bình là sự giàu có của số lượng sách không đi liền với sự giàu có về tư tưởng, dĩ nhiên, những “tư tưởng” người phê bình xác định là phù hợp và phục vụ công cuộc đổi mới (-N.T, đã dẫn).

Tuy vậy bài viết không nói rõ những tư tưởng phù hợp đó là thế nào, ngay cả nếu đã có một mặc định phổ biến.

Có thể đó là một lý do, cùng với niềm phấn khích chung những năm đầu cởi mở và tăng trưởng kinh tế, khiến dường như ít có ai lưu tâm đầy đủ đến cái chân trời đang dâng lên của nền văn hoá đại chúng- sau này nhiều khi gọi là “văn hoá tiêu dùng”- nơi mà tính năng giải trí trở thành “tư tưởng” chủ yếu. Và cũng chưa hiện lên, chính cái rắc rối về diễn đạt từ ngữ “giải trí” đó, ở phương diện do đặc thù văn học mà luôn luôn có sẵn tiềm năng là một sự giải trí của tư tưởng, nếu cái văn chương giải trí vượt lên khỏi mọi tình trạng thô sơ về nghệ thuật và hiểu biết.

Các truyện ngắn và tiểu thuyết của Hồ Anh Thái thời kỳ ấy là một thí dụ nổi bật. Một thói ghét đời cười ngạo mấy thứ bệnh tưởng. Nhưng trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế lại là tư tưởng xã hội Phật giáo, trình bày theo phong cách rock của thời đại: hoành tráng sân khấu, biểu hiện trừu tượng, bạo liệt, bí hiểm và sướt mướt; nhân vật anh hùng hàng loạt như một Michael Jackson đi lại trên sàn diễn Manhattan.

Không ngạc nhiên, bởi trước đó Hồ Anh Thái đã nói rằng anh sẽ chuyển sang thứ văn chương có nhiều tính giải trí hơn, là cái mà theo anh văn chương trong nước khi ấy còn chưa lưu ý đúng mức.

Tuy nhiên, phần phê phán trong bài viết của Ngô Thảo đang nói đến ở đây chưa dành cho lĩnh vực thực sự văn chương giải trí, mà chủ yếu nhằm tới cái thực tế đua nở ồ ạt nói chung của xuất bản cùng các thể loại sách vở lúc bấy giờ và tình trạng “làm ngơ” của lý luận- phê bình văn học.

Một ghi nhận thú vị: Bản năng cảnh giác cao luôn luôn giúp các nhà phê bình cảnh giác với mọi tác phẩm mới. (-N.T, tr.207). Điều ấy góp phần lý giải vì sao, trong những năm sau đó, bao nhiêu lần được nhắc nhở vai trò theo mô thức cái roi phê bình - con ngựa sáng tác hầu như bấy nhiêu lần phê bình văn học bị chê trách là không theo kịp đối tượng của mình, một đối tượng chỉ mấy năm sau thời điểm cởi mở đã có thể nhìn nhận như một nền văn học giàu có và đa dạng về giọng điệu, sắc thái, về phạm vi đề tài cũng như tư tưởng (-N.T, tr.192).

Chúng ta sẽ không quên: đó là niềm phấn khích có tính so sánh với văn chương giai đoạn ngay trước đó mà một bộ phận rơi vào sơ lược máy móc không chân thực, mà người đọc cho rằng sách đang dày lên một cách vô lý bằng quá nhiều sự kiện, rậm rạp, không trong suốt, nghèo ý nghĩa và đã tới lúc đề tài không quyết định được chất lượng nghệ thuật của tác phẩm (-N.T, tr.120-121).

Giọng phấn khích đó là ở vào thời khoảng 1989, khi tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật đã đưa nền văn học nước ta tham gia vào dòng chảy chung của văn học thời đại… truy kích cái xấu, cái ác, những biểu hiện tiêu cực… tạo thành những biểu tượng cho xã hội nhận diện và phê phán. Đã có thể thấy những điển hình đó trong một số tác phẩm của Dương Thu Hương, Nguyễn Mạnh Tuấn, Trần Văn Tuấn, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Xuân Cang… (-N.T, tr.194).

Bài phê bình về “nghệ thuật không tải” đã dẫn, tác giả viết sau những dòng sôi nổi nói trên chưa đầy một năm - tức có thể coi như đồng thời, khi giờ đây nhìn lại - và ta thấy người đọc ấy đứng trước một biển sách mênh mông, nhiều thời, nhiều xứ, nhiều khuynh hướng tư tưởng (-N.T, tr.206): không khó khăn để thấy rằng nhận xét này nói đến cái “biển” sách văn học dịch, sách dịch thuộc mọi lĩnh vực, và một số tác phẩm quá khứ gần mà một thời bị loại khỏi tủ sách chung.

Hai mươi năm qua đi, cái biển sách đó là thực tại thường nhật bây giờ.

Vậy mà mấy năm gần đây xuất hiện cụm từ “văn hoá đọc” kèm theo một vài những đợt vận động đọc sách: chúng ta đã kịp xa rời “biển sách” từ khi nào? Hay là thật ra sách không thể nhiều đến thế, nhất là sách văn học, và người đọc lại càng không?

Nếu sự sinh sôi của từ vựng luôn là một biểu thị từ trạng thái tâm lý và tinh thần của xã hội, thì cụm từ cửa miệng gọi văn chương (,cũng: nghệ thuật,) như một “cuộc chơi” (đôi khi: “sang trọng”!) đã cho thấy thái độ lưỡng lự, hoài nghi cho đến hạ bệ đối với vai trò và hiệu quả của tác phẩm văn học.

Lời nhắc nhở hôm qua (*)  - ảnh 1
Bìa sách
Về điểm này, phê bình của Ngô Thảo đối với cái gọi là “nghệ thuật không tải”, cho dù ông tức thời nhằm đến một vài đối tượng cụ thể lúc ấy, vẫn đáng để suy nghĩ lại.

Hai mươi năm sau, giờ đây tác giả nào có được vị thế trong con mắt dư luận như những-xuân-cang-nguyễn-minh-châu, chẳng hạn?

Lẽ dĩ nhiên thế sự biến chuyển, nhưng văn chương cũng vậy, và khoảng cách của nó với tầm mong đợi của người đọc nói chung dường như cứ xa ra. Với bao nhiêu ồn ào không ngớt những năm gần đây, chẳng hạn như cái gọi là văn chương gợi dục, ám chỉ… thực ra thì văn chương của chúng ta có thật cập thời hay không? - Rất hiếm vậy.

Thiếu vắng sức mạnh thực thụ về ngôn ngữ văn học, thiếu một thứ lao động khổ hạnh của tư duy hay là thiếu tính tư duy nghiêm cẩn, thành công của văn chương như một loại “Miếng da lừa” - cứ co hẹp dần theo đà thoả mãn của người viết ấy.

Ngô Thảo gọi “nghệ thuật không tải” như một thứ phản ứng một thời theo phương châm nhất thống “văn dĩ tải đạo”. Người đọc nào cũng hiểu, trong văn cảnh khi ấy, “đạo” ấy là “đạo” gì. Để nói rằng, đó không hoàn toàn là một nhận xét một chiều tiêu cực, dẫu vẫn rõ ràng phê phán.

Tuy nhiên thực cũng có một kiểu biện bác biện minh như vậy khi chỗ nọ lúc chỗ kia, tranh thủ ấn tượng khô khan chữ “đạo” mà nói văn chương không thể tải “đạo”. Nhưng lại cứ hoài bão có tầm vóc quốc tế hay tư cách lớn…

Có thể thấy những người viết ấy sẽ không ngần ngại ca ngợi Lep Tolstoy- đại văn hào Nga mà dịp kỷ niệm trăm năm mới rồi người ta nhấn mạnh tư tưởng đạo đức và viễn kiến xã hội của ông ngang với ca ngợi thiên tài văn học của ông.

Và hãy nhắc lại một nhận định từng rất quen thuộc một thời, của Vladimir Ilic Lenin, coi L.Tolstoy là tấm gương soi phản chiếu cách mạng Nga.

Phải chăng đặc tính và tầm vóc của một nền văn học hay một tác phẩm văn chương tuỳ thuộc vào tính trọn vẹn, đa dạng và sâu sắc của bức tranh hiện thực mà nó tạo nên?

Xa hơn một chút, cuốn Chủ nghĩa hiện thực trong văn học nửa đầu thế kỷ XX đưa ra như một tiền đề - Những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam từ khoảng 1930-1945 vẫn còn mang tính thời sự, vẫn còn rất thiết thực cho văn học đương đại và mai sau của dân tộc. Bởi lẽ, khám phá sự thật về con người và cuộc đời, khám phá chân lý đời sống, tinh thần phân tích xã hội và sự nghiên cứu con người một cách sâu sắc là những cái mà ngày hôm nay và mai sau, văn học đang và sẽ rất cần. (-Trần Đăng Suyền, tr.9).

Và sau những nỗ lực tập trung các chứng từ văn học sử và ngữ văn học mà hầu hết đều đã xuất hiện ở những cấp độ khác nhau trong các nghiên cứu riêng rẽ từ nhiều tác giả về giai đoạn văn học này - tập trung trên một lược đồ hoàn chỉnh từ hình thành, phát triển, đến đỉnh cao, từ các nguyên tắc và quan điểm nghệ thuật cho đến các đặc điểm thực tiễn tác phẩm về cảm hứng, tư tưởng, thể loại, nhân vật, đặc trưng điển hình hoá và thành tạo ngôn ngữ văn học đặc thù - đi đến một kết luận táo bạo về Chủ nghĩa hiện thực Việt Nam với định tính thống nhất trên một mức độ nhất định giữa chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng dân chủ với tư tưởng yêu nước và cách mạng; với hai đỉnh cao Vũ Trọng Phụng và Nam Cao xứng đáng là những thiên tài của văn học Việt Nam (-T.Đ.S, tr.540, 542).

Phần nghiên cứu so sánh về chủ nghĩa hiện thực và về nền tảng ngôn ngữ học của sự phát triển tiếng Việt quốc ngữ buổi đầu - cái nền tảng của sự bùng nổ đáng ngạc nhiên của giai đoạn văn học rực rỡ đó - có lẽ không được tác giả coi là những trọng tâm trong công trình này.

Nhưng những gợi ý nhắc nhở từ công trình này, cũng có thể xem như từ chính những bậc thầy đầu tiên của văn học Việt Nam, là rất đáng kể.

Nếu tư duy văn học là một truyền thống trong một ngôn ngữ cụ thể, phải chăng tư duy hiện thực chủ nghĩa đặc thù từ thời kỳ đó vẫn không ngừng trôi chảy trong các huyết mạch của văn chương chúng ta, ngay dù cho đã trải qua những biến thiên cực đoan hay những bồi đắp xa lạ.

Sự hiện diện đồng thời và những biểu hiện gần gũi về tư duy nghệ thuật hay phong cách thể loại vẫn còn đối với chúng ta ngay trong mười năm lại đây: chẳng hạn, giữa một tác gia kinh điển còn lại từ giai đoạn nói trên - nhà văn Tô Hoài - với một cây bút hiện thực già dặn sâu sắc thuộc thế hệ lớn lên dưới bầu trời Việt Nam mới - nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Phải chăng chúng ta đã rút tỉa hết những tinh hoa và bài học từ nền văn chương sôi động của hai cuộc kháng chiến, hay vẫn chỉ tự hào theo một vài công thức đã quen?

Không phải một mình nhà phê bình Ngô Thảo và không chỉ ở đôi câu trong tuyển tập này của ông kêu gọi các nhà văn đến sau vẫn phải bồi đắp thêm kiến văn và đặc biệt là tri thức văn học đặc thù (-N.T, tr.233); nhà thơ Hữu Thỉnh, trên một vài diễn đàn gần đây của Hội Nhà văn, cũng như một số tác giả và một số người đọc quan tâm đến thăng trầm của văn học nước nhà đều đã từng lên tiếng về vốn liếng nghề nghiệp, sự trau dồi văn học - tức tính chuyên nghiệp của một số không ít người viết ngày nay.

Lại đã mười năm nữa trôi qua. Phải chăng không chỉ mang món nợ văn chương với lịch sử Tổ quốc, chúng ta còn mang món nợ học hỏi và trau dồi ý thức văn chương, duy trì và tăng tiến truyền thống văn học mà các bậc thầy hiện đại của văn học nước nhà để lại.

Nguyễn Chí Hoan

(Văn nghệ)

-------

(*) Nhân đọc: Ngô Thảo, Tiểu luận phê bình văn học, tuyển tập, NXB Hội Nhà văn, 2010 và Chủ nghĩa Hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Trần Đăng Suyền, NXB Khoa học Xã hội, 2010

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác