LÀNG THỨC

Phùng Phương Quý

(Toquoc)- Làng tôi tên là làng Đá Vách. Cái tên mang đặc trưng nét trung du Bắc bộ. Những người xa quê hàng chục năm nay vẫn nhớ tên làng...

Bạn bè của ông tôi, của bố bầm tôi khắp miền xuôi, miền ngược vẫn hỏi thăm về một làng Đá Vách xưa. Chỉ cánh thanh niên trẻ bây giờ ít đứa biết đến tên làng. Không phải chúng bạc bẽo gì với quê hương, mà do lâu nay nhà nước đánh tên làng bằng số thứ tự, lâu không nhắc đến thì lũ trẻ làm sao nhớ được. Làng tôi bây giờ là khu hành chính số 4, gọi tắt là khu 4. Cái tên Đá Vách có ghi trong hương ước khu văn hoá, nhưng chẳng mấy ai đọc đến.

Bà mọ* Nhật là người cao tuổi nhất làng, năm nay 92 tuổi. Suốt ngày mọ lẩn thẩn chống gậy lò dò dạo quanh làng một vòng, rồi không nhớ đường về nhà, gặp ai cũng hỏi: “Ông (bà) chỉ hộ tôi lối về nhà bà Hồng (là con gái mọ), tôi tìm mãi chẳng biết đường về.” Có khi mọ Nhật đứng ngay trước ngõ nhà mình mà hỏi như vậy. Bà mọ có một người con trai duy nhất đi bộ đội chống Mĩ là liệt sĩ Nguyễn Văn Hạnh. Nỗi lòng thương con không biết ngày tháng có nguôi ngoai chút nào, mà tuổi càng cao mọ Nhật càng lẩn thẩn. Có mấy trăm bạc tiền tuất đem chia cho các cháu chắt ngoại gần hết, vậy mà ngày nào cũng giở bao tượng ra đếm đi đếm lại mấy đồng tiền lẻ. Trời cứ sầm sầm cơn mưa là mọ cuống lên đi tìm cất chiếc khăn rửa mặt của mình, còn quần áo, khoai sắn phơi ngoài sân thì mặc kệ. ấy vậy mà cứ gặp mấy cụ đồng niên còn sót lại như ông mọ Tín, mọ Cương, bà mọ Đình… mọ ngồi nhắc lại chuyện ngày xưa không quên tí nào. Chuyện các mọ toàn là hoài cổ, rằng thì là năm “Ất Dậu” không có đấu sắn mọt của ông quản Canh giúp chắc nhà tôi chết đói. Rằng ngày ấy mọ Chinh lấy chồng năm 15 tuổi, chồng mới 12 tuổi suốt đám cưới chạy theo trẻ con nhặt pháo lép. Thế nên mọ Chinh mới chê chồng bỏ vào chùa mất mấy năm. Cái năm “bốn sáu” Tây nhảy dù Bãi Bằng, tôi (mọ Nhật) đang có mang thằng Hạnh, vác cái bụng lặc lè còn gánh gồng hai đứa con gái hai bên quang chạy muốn tắc thở. Rồi Tây nó nhảy dù lần thứ hai, cả làng chạy không kịp, mất ngủ suốt đêm, nơm nớp lo sợ. Tây vào làng, lập tề, đóng đồn trên núi Voi. Cái đận Việt Minh phá kho thóc của Nhật dưới Tiên Kiên, cả làng kéo nhau đi 8 cây số xuống cướp mà chẳng được bao nhiêu. Cái nhà ông Phái, sau này là thường vụ đảng uỹ xã, lúc ấy cũng đi cướp lúa, nhưng bỏ trốn theo Việt Minh mãi hoà bình mơí về.

Làng tôi có hai quả núi và hai cái đồi nhỏ. Núi Chò cao hơn 150m so với mặt biển, như quả xôi trấn ngữ phía đông làng. Ngày xưa núi Chò dặt cây chò chỉ và trẩu mọc kín. Phía Tây Nam là núi Voi thấp hơn núi Chò một chút. Phía Đông Bắc là đồi Cóc, phía Tây là đồi Nà Rậm. Núi Voi làng tôi chính là con voi ương bướng nhất trong đàn voi 100 con ngày xưa, quay mặt lên hướng Bắc, không chịu quay đầu phục vị đền Hùng, theo truyền thuyết từng bị công chúa Bầu con gái vua Hùng rút gươm chém lìa cổ. Người làng tôi bảo con voi bị oan. Trong khi 99 con quây quần xung quanh núi Nghĩa Lĩnh với nhà vua, thì con voi làng tôi nằm quay mặt canh gác phên giậu cho mọi người vui chơi, hội hè. Thế mà công chúa nỡ chém nó. Hai con mắt voi khóc từ mấy nghìn năm đến giờ, nước mắt chảy thành hai giếng nước hai bên đầu voi, nước lúc nào cũng trong vắt. Mấy gia đình phía quốc lộ 2 trước kia bắc máng dẫn “nước mắt voi” chảy về tận nhà, chẳng cần đào giếng mất công, tốn tiền. Còn mắt voi phía bên này, là nơi bọn trẻ trâu chúng tôi lấy nước uống và tắm táp hàng ngày. Ba năm trước, làng xây nhà văn hoá ngay bên dưới giếng đá, bà con lấy đá kè xung quanh cao lên làm bờ giếng, để cho khách vãng lai đến tham quan thấy con mắt voi chỉ nhỏ bằng chiếc nong mà đầy nước mắt.

Dưới chân núi Voi, ngày 16 tháng 6 âm lịch năm Đinh Mùi (1967) cả làng Đá Vách thức trắng vì trận bom của máy bay Mĩ ném xuống lúc nửa đêm. Bảy người trong làng bị thiệt mạng. Ba quả bom ném xuống đầu voi rơi vào sân nhà ông Nguyễn Thế Sản bí thư đảng uỷ xã làm hai vợ chồng ông và hai người con thiệt mạng, một người con bị thương. Hai mẹ con bà Nga đã cẩn thận đào hầm trú ẩn trong vách núi đá cũng không tránh khỏi bị bom sát hại. Ông Hà Văn Hàm dân quân trực chiến trên đỉnh núi Voi, chạy ra gõ chưa dứt hồi kẻng báo động cho dân làng thì dính mảnh bom gục xuống hi sinh.

Người ta bảo làng tôi long mạch phát quan. Ngày xưa thì không nói làm gì vì làng toàn người tứ xứ đến ngụ cư, chứ sau cách mạng tháng Tám, cán bộ đầu xã toàn ở làng tôi. Đầu tiên là ông Hà Văn Đình Chủ tịch uỷ ban kháng chiến lâm thời. Sau đó là ông Phùng Đình Thọ, Chủ tịch uỷ ban chính xã Tập Đoàn thời hoà bình 1954; ông Nguyễn Thế Sản; ông Phùng Phương Phái là cán bộ Đảng uỷ xã Phú Lộc, cùng thời với ôngTạ Văn Thức chủ tịch UBHC xã. Lớp sau có ông Tạ Ngọc Thanh Chủ tịch xã; ông Đỗ Công Minh một thời Chủ tịch rồi bí thư đảng uỷ. Thời “mở cửa” có anh Phùng Phương Hữu Bí thư đảng uỷ, anh Tạ Ngọc Phúc (con rể của làng) là Chủ tịch xã…Số con em đi ra ngoài công tác có ông Tạ Văn Chung phó Tổng giám đốc Tổng Công ty giấy Việt Nam; ông Trần Văn Cường Tổng giám đốc Công ty in- Văn hoá phẩm Bộ Văn hoá… Mỗi khi trong làng có cỗ bàn, tiệc rượu, các cụ, các ông làng tôi vuốt râu vênh vang lắm. “Chả làng nào oai bằng làng Đá Vách!”

Thời bao cấp, làng tôi thành lập HTX nông nghiệp Thành Đồng. “Thành Đồng- Đá Vách” Các cụ xưa cũng muốn gửi gắm cái chí khí, sức mạnh làng vào thể chế, vào công việc. Bọn trẻ choai chúng tôi hồi đó cũng có những đêm thức trắng vì thương nhớ lũ trâu bò nhà mình bị lùa vào trại chăn nuôi của HTX. Chúng tôi đã quen với mùi hôi khét của những con vật thân quen, mà ngày nào cũng cưỡi trên lưng chúng nhoong nhoong lên núi. Con trâu cà nhà tôi, con bò vàng nhà thằng Quỳ, con trâu sừng vênh nhà con Lý…ở nhà béo khoẻ thế mà vào trại chăn nuôi được nửa năm thì chỉ còn bộ xương. Những xã viên đi chăn trâu bò lấy lệ, chứ có chăm bẵm chúng như ở nhà đâu. Ngày mùa chúng bị lôi đi vô tội vạ, con nào nhẹ thừng thì phải kéo cày, bừa liên miên, con nào bất kham thì ít phải làm hoặc có làm thì cũng bị roi đòn rách da rớm máu.

Năm 1992, làng Đá Vách thực sự sôi động sau khi được tỉnh chọn làm điểm mô hình xây dựng trang trại nông thôn. Dự án này do một tổ chức phi chính phủ của Thuỵ Điển giúp đỡ. Từ trước tới nay, vườn nhà ai mạnh người nấy trồng, lôm côm đủ loại cây cối, hoa quả. Bây giờ phải quy hoạch lại, thành vùng kinh tế tập trung. Mấy ông cố vấn người Thuỵ Điển, người úc về “ba cùng” với dân làng. Họ trực tiếp đưa dự án, tiền của tới người dân chứ chẳng qua huyện, qua xã. Họ sợ đồng vốn qua tay nhiều cấp mà thất thoát đi. Làng tôi lại những đêm không ngủ. Bốn ông Tây vào trọ nhà bà Vấn ngay đầu làng, nhờ nhà ông Lợi ở giữa làng làm nơi hội họp và nấu ăn. Mỗi ngày trả tiền thuê nhà 10 USD. Dân làng đi dự họp hội thảo về dự án mỗi ngày được phát 10.000đ. Sướng quá! Có nhà đi họp cả hai, ba người, thành ra bà con tị nạnh cãi nhau om xòm. Công nhận người nước ngoài làm việc rất cụ thể, chính xác. Họ mời dân làng đắp sa bàn, đi thực địa từng quả đồi, thửa ruộng, vào từng vườn mỗi nhà…đào đất, bốc bùn xem là loại đất gì, rồi bà con cho ý kiến nên trồng loại cây gì thích hợp. Dân làng tôi hăng hái bàn, hay nói rõ hơn là “cãi nhau” về dự định trồng cây gì trên đất làng mình. Cánh thanh niên, trung niên thì muốn phá băng vườn cũ, trồng vườn mới. Tiền của, cây giống dự án cấp không, mất gì “của bố”? Các cụ già thì do dự, chưa dám liều. Vườn cũ của ông cha để lại toàn mít, hồng, chè, xoan. Không nhiều nhưng cũng cả đống tiền, nay phá bỏ đi, trồng vườn mới, kiểu “được ăn cả, ngã về không”, có ngày treo niêu. Dự án còn xây cho mỗi hộ một cái bếp liên hoàn, một hố xí hai ngăn. Cấp cho làng hai chiếc máy cày, máy bơm, máy tuốt lúa. Làng sôi sùng sục hàng đêm. Những cuộc họp bàn dai dẳng không dứt. Cãi vã giữa hai thế hệ căng thẳng có lúc suýt ẩu đả. Nhưng rồi cũng đến lúc phải quyết định. Các cố vấn gợi ý núi Chò, núi Voi đừng nên trồng cây bạch đàn. Các ông nông dân cãi. “Bạch đàn vừa chống xói mòn, vừa có gỗ bán cho nhà máy giấy, sao lại không trồng? Các ông không muốn chúng tôi bán nguyên liệu cho nhà máy giấy Thuỵ Điển-Việt Nam à?” Mấy ông Tây lắc đầu. “Các ngài có biết bạch đàn là loại cây háo nước, làm cạn kiệt đất màu không?” Nông dân bảo không biết. “Thế thì chúng tôi khuyến cáo các ngài nên trồng lại những loài cây bản địa hoặc cây có lợi cho đất như chàm, keo tai tượng…” Thôi mấy thằng Tây nó có học hơn mình, nên nghe nó. ừ thì bỏ bạch đàn. Còn vườn tạp cũng nên mạnh dạn chặt bỏ đi, trồng cây mới như cam quýt; bưởi; hồng không hạt; nhãn lồng..v..v…và ..v..v. Làng tôi quyết đi vào cuộc cải cách nông nghiệp. Mấy cán bộ kĩ thuật nông nghiệp huyện, xã được dự án thuê đi tìm các loại giống tốt về ươm cây con phân phối cho dân làng. Vườn nhà có 52 cây mít bố để lại, tôi chặt sạch trồng nhãn; cam; quýt; hồng. Toàn những cây có giá trị kinh tế cao. Cả làng như lột xác, những rặng tre xanh che mát dọc đường làng, kẽo kẹt đánh đu mỗi buổi trưa trong các khu dân cư bị chặt trụi cho khỏi ướm bóng các vườn cây mới. Tại nhà anh Hà Văn Chung nơi được chọn làm điểm trình diễn của dự án còn tấp nập hơn. Anh được cấp tiền thuê người đào đất đồi san đường băng đồng cấp. Được đi học lái máy cày để sử dụng hai chiếc máy dự án vừa cho. Vườn nhà anh được trồng từng loại cây, quy mô theo đúng kỹ thuật. Các đoàn khách tham quan cả nước kéo về học tập, rút kinh nghiệm. Làng Đá Vách mất ngủ vì mừng và hồi hộp.

Chúng tôi hồi hộp chờ trong 4 năm trời kết quả của dự án, nhưng hoàn toàn thất vọng. Những giống cây ăn quả được cấp toàn là giống rởm. Đau một nỗi là người dân trông đợi suốt 4 năm liền. Bốn năm của thời buổi khoa học kĩ thuật người ta có thể làm ra bạc tỉ, còn vườn cây của chúng tôi thật thảm hại. Cam thì chua loét, nhãn trơ gặm chảy máu lợi. Máy cày bên nhà anh Chung xã thu về bán thanh lí. Nói tóm lại chúng tôi hoàn toàn thất bại. Bầm tôi tiếc vườn mít khóc đỏ con mắt. Dân làng bắt đầu chặt bỏ cây mới trồng, lại đem mấy cây chè cũ chen vào hòng gỡ gạc mấy đồng nộp thuế đất hàng năm cho nhà nước. Các cụ già trong làng được dịp nhiếc móc đám trẻ “ngựa non háu đá”, bây giờ vườn tược đồi nương tả tơi, lấy gì mà đổ vào mồm.

Thời “hội nhập” làng Đá Vách cũng đứng trước bao thử thách mới, dù vẫn chỉ là “nông gia vi bản”. Công nghiệp phát triển, các khu nọ, khu kia được dự án A; B; X; Z… rập rình chuyển về làng. Một thời gian, mấy mảnh đất chó ỉa của làng lên giá vùn vụt. Lắm người tự dưng đổi đời vì bán đất. Nhiều người khốn nạn vì vay tiền ngân hàng đầu tư bất động sản bị lỗ chổng vó, vì sau đó chẳng có dự án nào được về làng cả. Khổ thân mấy nhà trong diện phải giải toả, tốn không biết bao nhiêu tiền mua các loại cây lưu niên về trồng xin xít trong vườn, ngoài đồi hòng được nhiều tiền đền bù.

Đang mùa lễ hội tháng Ba, người làng tôi chưa ai dám nghĩ đến việc đi chơi Hội, ngoài lũ thanh niên vô lo, vô nghĩ. Đồng cạn mấy tháng nay, lúa chiêm xuân thoi thóp chờ nước. Vài cơn mưa vàng bạc trời vừa rót xuống làm bà con nông dân suốt ngày tất bật ngoài đồng. Trên đồi sắn cũng đã đến vụ trồng, khoai cũng đến kì xuống đất. Một cậu thanh niên vừa được cha mẹ vay tiền ngân hàng mua cho chiếc xe máy xịn để đi làm, chẳng may bị tai nạn giao thông qua đời. Một cậu nữa đi vác gỗ thuê, trượt chân bị gỗ đè chết. Bà C nghèo nhất làng vừa bị bão cuốn đổ căn nhà lá cũ, cần phải giúp đỡ xây một ngôi nhà tình nghĩa … Có nhiều điều làm người ta phải suy nghĩ lung lắm. Ban ngày lao động vất vả, khi giấc ngủ vừa chợp đến thì những điều cần phải suy nghĩ lại len vào.

Làng tôi là làng Đá Vách, nhưng nếu có ai hỏi đến thì hãy hỏi địa chỉ khu hành chính số 4 xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Đi tìm tên làng cũ bây giờ cũng chẳng dễ gì.


--------
Chú thích: * Mọ- cách gọi người già ở quê tôi

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác