“Làm báo” ở Sài Gòn ngày đầu giải phóng

Hồi ức của Ngô Minh

(Toquoc)- Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ tôi được bộ đội gọi là “nhà báo” vì tôi làm “bản tin” của Trung đoàn, Sư đoàn.

Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ tôi được bộ đội gọi là “nhà báo” vì tôi làm “bản tin” của Trung đoàn, Sư đoàn. Đơn vị phát cho một chiếc xe đạp “không phanh không chuông, không gác-dơ-bu” và 3 quả lựu đạn mỏ vịt, trong đó có một quả rút chốt là nổ ngay để phòng khi bị địch bắt. Thế là suốt ngày tôi một mình đạp xe đi về các đại đội, tiểu đoàn lấy tin tức, tư liệu để về viết báo. Chuyện làm báo ở chiến trường gian nan nguy hiểm lắm nhưng cũng đầy ắp kỷ niệm. Tôi xin kể những ngày đầu giải phóng Sài Gòn chúng tôi đã “làm báo” như thế nào.

Tháng 4-1975, Sư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975. Sư trưởng Nam Phong ra lệnh không được ai chặt chuối của dân. Rừng chuối Xuân Lộc rộng đến nỗi có đường ô tô ngang dọc để xe ô tô đi thu hoạch. Trong thời gian tấn công Xuân Lộc, anh em “làm báo” của sư đoàn như Phùng Khắc Bắc, tôi, Dương Huy… được điều về hầm chỉ huy Sư đoàn để hàng ngày nghe thông tin từ các mũi cho đến đếm 29/4 theo đơn vị ngày tấn công vào Sài Gòn…

Sở dĩ tôi được điều từ lính trực tiếp chiến đấu ở đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 14 về làm báo là do anh Phùng Khắc Bắc. Anh Phùng Khắc Bắc (Nhà văn, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992 với tập thơ “Một chấm xanh”, mất năm 1990) vào B2 (chiến trường Đông Nam Bộ) từ đầu năm 1967, ở khu 6. Trông anh gầy và đen như gỗ lũa, chỉ đôi mắt là long lanh sáng. Tính anh hiền hậu, hay cười. Anh làm ở Ban tuyên huấn Sư đoàn, chuyên trách “bản tin”. Cuối năm 1973, anh Bắc đưa Đoàn văn công Sư Đoàn về biểu diễn tại cứ Đồng Xoài, bên bờ Sông Bé phục vụ tiểu đoàn tôi. Chương trình văn nghệ gồm các tiết mục của Đoàn và các tiết mục chiến sĩ “tự biên”. Thấy trong sổ tay tôi có bài thơ “Bài ca chốt chặn” viết về những ngày thực hiện Hiệp định Pari ở đường 14, anh Đại, chính trị viên Đại đội (người Nam Hà, Việt kiều Thái Lan về nước) bắt tôi lên “ngâm” bài thơ. Tôi không ngâm được, mà đọc. Sau khi tôi đọc thơ xong, anh Phùng Khắc Bắc tìm đến, hỏi tôi làm được nhiều thơ không, có viết báo được không. Tôi bảo tôi viết báo Thiếu niên Tiền phong, báo Trường Sơn (sau đổi là Quân Khu Bốn) từ hồi nhỏ học cấp 2 ở làng, còn thơ thì mới viết. Anh bảo anh chưa bao giờ làm thơ, chỉ viết ít truyện ký và báo. Sau chuyến đi ấy anh về đề nghị với Sư đoàn điều tôi lên Ban chính trị để làm bản tin.

Sài Gòn 1975, công nghệ in báo đã đạt đến tiên tiến thế giới lúc đó. Nhưng vào Sài Gòn từ 30-4, những người làm báo thủ công chúng tôi vẫn in báo theo cách của mình ở chiến khu thời đánh Mỹ. Vì bộ đội giải phóng hành quân nay đây mai đó, nên rất ít được đọc báo miền Bắc gửi vào hay báo xuất bản ở vùng giải phóng, nên đã hàng chục năm nay, nhiệm vụ của Ban chính trị là sau mỗi trận đánh hay một đợt huấn luyện phải ra “bản tin” và các tập sách “chuyên đề” để phát cho bộ đội đọc Bản tin Sư đoàn 7, gọi là “Chiến Thắng”. Tổ “Bản tin Ba Vì” chúng tôi có anh Dương Huy người Hà Đông, anh Toan, anh Minh chụp ảnh và tôi là người trẻ nhất. Tham gia viết ở các tiểu đoàn có anh Lê Huy Khanh, Nguyễn Quốc Trung (sau này đều là nhà văn Việt Nam). Gọi là bản tin, nhưng hình thức và nội dung thì giống như tờ báo vậy. Bản tin ra nửa tháng một số, in phát đến tiểu đội. Cũng có tin tức thời sự trong nước, ngoài nước (in theo bản tin đọc chậm của Đài tiếng nói Việt Nam), tin bài về gương chiến sĩ dũng cảm, thơ, nhạc, tranh vui… có khi in cả truyện ngắn do Dương Huy viết! “Báo” chúng tôi in khi 4 trang, khi 8 trang, hai màu hẳn hoi! Giấy báo, stelcil, mực in… trước 30-4 thì mua ở Cămpuchia, do anh Trần Hồng Lạc, người Thanh Hóa, trợ lý “quân nhu” của Ban chính trị, tuần nào cũng đạp xe đi chợ Mi Mốt, Krachê (Cămpuchia). Chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Lạc đi mua rất nhiều các thứ cần thiết để in báo. Từ đầu năm 1975, hành quân hàng trăm cây số theo bộ đội từ Đồng Xoài lên đánh Phước Long, rồi lên Bảo Lộc, rồi quay về đánh Xuân Lộc, chúng tôi đều mang kè kè trên lưng vài chục cân giấy báo; vài trăm tờ Stelcil (giấy nến), mấy lọ mực xanh đỏ, một cái máy chữ và một khuôn in bằng vải lụa, vất vả không khác gì một người dân công hỏa tuyến thồ hàng ra trận! Sau mỗi trận đánh chúng tôi đều ra bản tin, in 700 tờ, phát về mỗi tiểu đội hai tờ.

“Công nghệ in báo” của chúng tôi rất thủ công lạc hậu, không khác gì thời đánh Pháp. Đầu tiên là đánh máy vào giấy stelcil, đánh chia cột theo “mi” báo, có chừa chỗ để in tranh và kẻ tít. Tít báo thì kẻ bằng bút kim. Tất cả trình bày trên tờ giấy nến cỡ 30×40cm. Khi in, dán tờ gấy nến vào mặt sau khung lụa, đặt giấy báo bên dưới khung in, vặn vít cố định, rồi bắt đầu lấy một cái chổi bằng xơ dừa, quệt mực liên tục. Quệt “nháp” khoảng 20 tờ, thấy đều mực mới in chính thức. Khi in hai màu thì chờ khô màu thứ nhất, lại đưa vào khung in, in màu thứ hai, in màu thứ ba.

Vào Sài Gòn, việc đầu tiên của “tổ báo” chúng tôi là đi kiếm giấy in báo. Vì hành quân cả mấy tháng trời hết nhẵn. Tôi nghĩ ra cách đến các nhà in của ngụy để lấy giấy in báo. Lúc này ở Sài Gòn đang có phong trào “giúp bộ đội giải phóng”. Ai giúp thì được Sư đoàn cấp một giấy xác nhận thành tích có chữ ký Sư trưởng Nam Phong đóng dấu đỏ hẳn hoi. Chúng tôi được phát những tờ khống chỉ như thế để làm quân quản. Tôi ra gọi một chiếc xe lam. Cậu y tá tên Thành, người Thái Bình ở trung đoàn bộ được điều đi giúp tôi lấy giấy in báo. Khi ra đường thấy chiếc xích lô máy chở nước đá cây đang lóng lánh bảy sắc cầu vồng trong nắng tháng Năm Sài Gòn, vì dân quê đi bộ đội là vào rừng, lần đầu tiên đến thành phố nên Thành không biết đó là thứ gì, Thành níu vai tôi la toáng lên: “Anh Khôi ơi! Kim cương! Kim cương nhiều chưa kìa!”. Tôi nín cười, mắng: “Im đi, họ cười cho đấy, đó là nước đá, họ làm đông nước thành đá!”. Thế mà chỉ vài ngày sau, cậu ta lại là người sáng kiến lấy giấy báo để ủ để nước đá lâu tan. Chúng tôi in “báo” Trung đoàn, Sư đoàn bằng “công nghệ thủ công” ấy mãi đến giữa năm 1976 mới thôi…

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác