Hữu Loan và bài thơ “Thánh mẫu Hài đồng”

Bút ký của Văn Đắc

(Toquoc)- Bên Hậu Lộc, qua đò Yên Ổn là đến làng Vân Hoàn. Làng quê nhỏ loanh quanh chân núi Vân Hoàn ấy là đất mẹ đẻ ra một ông Tú, một nhà thơ, một Hữu Loan Thanh Hoá. Ông sinh năm Bính Thìn 1916, học giỏi từ nhỏ, thi đậu tú tài. Dân làng vẫn gọi ông là ông Tú Loan.

Ông theo cách mạng, làm lãnh đạo khởi nghĩa ở Nga Sơn vào tháng 6/1945. Cuối năm 1945, ông làm trưởng ban tuyên truyền liên khu 4. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ ông vào bộ đội. Năm 1951-1954 dạy học ở quê nhà. Năm 1955-1956 làm báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam. Sau đó về quê nuôi 10 người con. Tôi có câu thơ về ông: “Trẻ thì đi kháng chiến / làm thơ và đánh giặc / già về quê / làm thơ và thồ đá…”

Nhớ chuyện, năm Bính Tý 1996, ông tròn 80 tuổi. Hội Nhà văn Việt Nam, Hội đồng hương, Hội Văn nghệ Thanh Hoá về mừng thọ. Hữu Loan nghe có khách vội ra, biết khách là Hội Nhà văn, ông nhất định không mở cổng, bỏ đi vào. Hai con chó giữ nhà cắn ỏm lên. Bà vợ ông ra chào khách, mở cổng. Ông chẳng nói gì, trải chiếu dưới gốc cây khế mời khách toạ chuyện. Nói chuyện rồi bị chuyện lôi vào, ông quên cả thời gian. Trên đường về, nhà văn Lê Xuân Giang, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thanh Hoá nói rất hóm hỉnh: “Buổi đầu, ông ta làm nũng Hội Nhà văn đấy thôi, làm nũng của người già ấy mà”.

Người khác lại kể: Mấy chục năm về trước, ông còn ở trong ngôi nhà xiêu vẹo, dột nát, đọc câu thơ ngẫu cảm “Mưa dột thời nay ướt thánh hiền”. Thời ấy, cái thời gian truân ấy, ông đã sống và chịu đựng đến mức tính khí sắt lại. Có chuyện về ông thời ấy thế này:

Có người hỏi:

- Sao ông không làm nhà?

Ông trả lời:

- Tôi còn bận làm người!

Người ấy lại hỏi:

- Người ta gọi ông ra làm cán bộ, sao ông không làm?

Ông gom đũa cả nắm:

- Tôi không biết ăn cắp!

Nghe như đấm vào tai, ai mà không khó chịu.

Vừa rồi tôi và một đoàn giáo viên về thăm ông. Thầy Lê Văn Quỳnh giáo viên chuyên hoá trường PTTH Lam Sơn, ngưỡng mộ thơ ông từ thời còn đi học. Thầy Lê Ngọc Vinh một thời bộ đội đọc thuộc lòng bài thơ “Màu tím hoa sim”. Các thầy cô quây quanh ông, ngồi xem cuốn phim “người đập đá trên đồi sim” của Đài Truyền hình Việt Nam. Lúc đầu gặp tôi, ông đứng, hai tay chắp sau lưng, đăm đăm nhìn tôi lâu lắm, ý chừng ông đang đánh thức lại trí nhớ. Dần dần, mắt ông sáng lên, ông mỉm cười, hai tay vỗ vào vai tôi, nói như reo “thằng Đắc? thằng Văn Đắc!”. Tôi ôm ông, ôm mãi, không nói lời nào, nước mắt dàn ra sau cặp kính. Năm 2008 vào tuổi 93, ông gầy, đi lại không nhanh nhẹn như trước. Râu tóc bạc xơ xác. Nhưng trông ông vẫn đẹp và hóm hỉnh.

Ngôi nhà mà tỉnh Thanh Hoá đã xây cho ông đã được tu sửa phong quang hơn. Chả là, có một công ty băng đĩa nào đó mua bản quyền bài thơ “Màu tím hoa sim” một trăm triệu đồng. Bây giờ bà Nhung vợ ông không phải làm nghề xay bột, tráng bánh cuốn ở nhà, hay gánh bún đi bán rong trong làng như ngày xưa nữa. Cái làng mà ngày xửa ngày xưa người ta bỏ chạy lang bạt. Nhiều người không còn tung tích. Ông không bỏ làng, ông nói: “Đức năng thắng số, ở đất này mình đẻ 10 lần con đều tốt, làm nhà không cháy, trồng khế khế ngon, lúa đẻ ra ngọc. Người có đức ở đâu cũng tốt”. Nhiều lần, tôi đã được ăn khế hái trong vườn, chấm mắm moi ông muối lấy, uống rượu đậu Nga Sơn ông nấu lấy. Có dạo, ông nuôi hàng chục bọng ong. Khách đến, ông đặt một chai mật ong nguyên chất với một chai rượu tăm. Tự nhiên mở uống, khỏi mời mọc. Ông kể: Ông tổ họ Nguyễn của ông quê ở Điền Giang - Ninh Bình, làm quan to ở đời Tiền Lê. Ông bảo có lần ông mơ gặp ông tổ hiện về nói với ông mấy điều khắc cốt: “Nhà ngươi có đức, nghĩa là người thương người nghèo, không khuất phục cường quyền, nói thẳng, nói thật. Nhưng nhà người thiếu đức lớn là không chịu nhục”. Nói rồi, ông cười xoà, đọc cho tôi nghe câu đối ở nhà thờ họ như thế này: “Linh điểu tụ sơn, viễn tổ trạch cư Ô Lỗi thôn xưng giai thánh cự. Mã Lưu thao Mã Phố, Điền Giang cựu vọng tục hiền tâm”. (Chim thiêng họp về núi thiêng, tổ tiên xa xưa lập nghiệp ở Ô Lôi, có tiếng là bậc thánh. Con sông Mã chảy về Mã phố, nhìn lại đất Điền Giang xưa, con cháu nối lại người hiền).

Không rõ chữ nghĩa còn những sai sót gì, nhưng tôi muốn ghi lại để nói một ấn tượng sâu xa về vùng đất quê, dòng tộc sinh ra nhà thơ đầy cá tính này.

Nhiều người biết và nhớ sâu sắc về nhà thơ Hữu Loan chính là từ bài thơ “Màu tím hoa sim”. Chuyện đồn về bài thơ ấy thì có nhiều chuyện khác nhau, phần lớn là do truyền miệng rồi tam sao thất bản. Cái cốt lõi là “Màu tím hoa sim” là bài thơ khóc vợ - người vợ đầu tiên là Lê Đỗ Thị Ninh. Khi ông đang ở chiến khu đông bắc thì bà vợ ở nhà bị chết đuối ở nơi bến Chuồng huyện Nông Cống. Bài thơ viết tay, rồi chuyền nhau đọc. Trong chỉnh huấn chính trị, có người phê bình bài thơ uỷ mỵ, không có lợi cho việc tuyên truyền kháng chiến. Cá nhân nào đó quy chụp cho bài thơ quá nặng nề. Thế là Hữu Loan tự ái, bực dọc bỏ về quê. Thế rồi Hữu Loan lận đận lao động nuôi con hàng mấy chục năm khốn khổ. Hồn thơ trong trẻo đầy tràn tâm huyết ấy tắt lịm. Mãi đến những năm 1989-1990 mở cửa, ông mới túa ra niềm vui của người được cởi trói. Thơ Hữu Loan gây ấn tượng mạnh ở thời gian đầu kháng chiến chống Pháp với các bài thơ: “Đèo Cả”, “Những làng đi qua”, “Tiếng chuông nhà thờ”, “Hoa lúa”, “Màu tím hoa sim”… Hữu Loan là một trong những người mở đầu cho thơ kháng chiến Việt Nam.

Sau những bài thơ kháng chiến, một thời gian dài, người ta không thấy xuất hiện thơ Hữu Loan nữa. Mãi đến những năm 90 thì có thấy lác đác ít bài in trên các báo địa phương. Năm 1991, tôi được đọc bài thơ “Thánh mẫu Hài đồng” (Tục bút thơ Màu tím hoa sim) của ông trên tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam. Sau đó, bài thơ được chọn im trong tập thơ “Thanh Hoá 20 năm” (1974-1994). Đọc bài thơ, đầu tiên tôi tự hỏi rồi tự trả lời. Tại sao nhà thơ lại ghi ở dưới đề bài dòng chữ “Tục Màu tím hoa sim”. Ra là thế này: “Màu tím hoa sim” là bài thơ khóc vợ. Người vợ trẻ:

“Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến chinh

Mấy người đi trở lại

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người gái nhỏ hậu phương…”

Đến bài thơ “Thánh mẫu Hài đồng” thì Nàng thơ trẻ nào đó đến với nhà thơ một lần chung thân rồi mãi mãi ra đi, không gặp lại. Có lẽ đấy là lần khóc thứ hai, khóc thương người vợ trong tâm tưởng ông. Không biết ông viết bài “Thánh mẫu Hài đồng” vào năm nào, lúc ông bao nhiêu tuổi, chỉ qua bài thơ chúng ta thấy cô gái ấy là “Nàng ngã cánh tay còn nhiều ngấn sữa” mà chàng trai ấy tự xưng là “Ta râu ria như chổi / gân guốc xù xì như một gốc cây rừng”. Tiếp đó bài thơ kể diễn biến sự việc hai người rằng “anh nâng nhẹ đầu anh sợ làm đau nhánh huệ / nhưng lạ thay nàng ghì đầu ta / không hề hấn điều gì / chỉ có chuyện là ta bỗng thấy ta vô cùng nhỏ bé / nằm gọn trong vòm ngực của nàng măng tơ / chà dụi, rúc tìm / tham lam cuống quýt ngẩn ngơ / như một hài nhi khát mẹ…” Bài thơ ghi lại cái phút phấn khích cực điểm bẳng những lời đột ngột, khêu gợi:

“Nàng gọi! Anh ơi!

Tôi ghì tay nàng, mẹ ơi! Mẹ!

Bằng một giọng hài nhi bập bẹ…”

Bài thơ cảm động đến mức mọi sự dung tục nhường chỗ cho một sự thật cao thượng, một khát vọng thiêng liêng, một sự giao cảm bản năng tinh khiết đến thánh thiện.

Gần đây có một số truyện, thơ của ta tôi đậm cái gọi là tính người, đánh thức bản năng, gợi cảm nhục dục, để gây chú ý, nhằm tạo ra một hiện tượng độc đáo, hoặc gửi gắm một ý đồ gì đấy. Họ sa vào tự nhiên chủ nghĩa, thô tục. Câu chữ diễu dại, sống sượng. Những tác phẩm ấy chỉ có thể gây xôn xao dư luận chốc lát rồi rời vào chết yểu.

“Thánh mẫu Hài đồng” của Hữu Loan khác hẳn. Sau cái phút tác giả miêu tả đến chót đỉnh của thăng hoa hạnh phúc, bài thơ thả rời một câu, tách đoạn ra như một khổ thơ dài.

“Sau đêm ấy là Nàng đi đi mãi…”

Câu thơ như một giai điệu trầm, một tiếng thở dài, một lời than tiếc, một ánh mắt nhìn theo một người có tên là Nàng thầm lặng đi vào cuộc đời nhà thơ, và nhà thơ khóc.

“Em đi… tím đất chiều hoang

Ta như mất mẹ

                        khóc

                                    tang

                                                hai

                                                            lần!”

Vậy là trong đời nhà thơ có hai lần đau đớn, khóc lên thành lời, lời thành thơ bừng sáng một tư tưởng mới mẻ. Đó là sự dâng hiến cho những gì lớn lao mà mình ngưỡng mộ. Khép bài thơ lại với những câu chữ khuôn phép, đĩnh đạc, bộc lộ tấm lòng kính trọng, khâm phục của nhà thơ trước một hành vi quá cao cả.

“Xin kính cẩn được hôn chân những đấng gái nào

Ngay từ tấm bé đã sớm mang chất mẹ loài người

Em trong mẹ

Mẹ trong em

                        em

                                    ngồi

                                                thánh mẫu

                                                                        Hài đồng”

Chính cuộc sống đã sinh thành ra bài thơ “Thánh mẫu Hài đồng” mà Hữu Loan được vinh hạnh giao phó viết lại. Vì ông đích thực là nhà thơ P.Re ver Dy đã nói: “Nhà thơ phải nhìn sự vật như nó tồn tại và sau đó chỉ cho mọi người biết là không có nhà thơ họ sẽ không nhìn thấy sự vật đó. “Thánh mẫu Hài đồng” là bài thơ được giáng sinh. Để có phút giáng sinh như thế, chàng thi sỹ ở trong đời ấy phải sống thực sự trong sáng, nhiệt thành và lương thiện, luôn vươn tới cái cao đẹp một cách hồn nhiên, vô tư. Hữu Loan xứng đáng được nhận phần thưởng đó.

 

Thanh Hoá - 2008

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác