Đọc thơ của một lão nông


(Toquoc)- Đây là tập thơ thứ 2 của Nguyễn Hoài Nhơn mà tôi đã đọc. Ngoài tập trước “Tự biết” và tập này là “Hồi quang”, thi thoảng tôi cũng có đọc thơ của Hoài Nhơn trên các báo. Càng đọc tôi càng thấy bất ngờ thú vị. Bởi lẽ chân tướng một “lão nông tri điền” ngày càng hiện rõ hơn trước mắt tôi, không thể giấu đi đâu được. Lẽ khác là dù bận việc quản lý trang trại, nhưng cái anh chàng lão nông này lại có một bộ sưu tập khá dày dạn về thành tích trên mặt trận thi ca và ký với 6 tập thơ và 5 tập ký đã in. Trong đó Hoài Nhơn đã nhận được trên dưới 10 giải thưởng, đáng kể nhất là giải ký của tạp chí Văn nghệ Quân đội và giải thơ của Tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam.

Tôi cảm thấy thật sự mến phục khả năng lao động nghệ thuật của một lão nông suốt ngày bận nông trại của mình mà vẫn “sinh nở” đều đều và đang “dọa” đẻ thêm dăm ba đứa nữa. Không biết tình hình thơ và ký có bị tăng cơ số tự nhiên giống như một số lĩnh vực khác nữa không? Tôi không biết Hoài Nhơn lấy đâu thời gian mà có thể viết được nhiều như vậy? Đây thực sự vẫn là một câu hỏi mà tôi chưa tìm được câu trả lời. Ví như tôi, chuyên nghề “cày chữ” mà cũng không thể nào viết khỏe được như Hoài Nhơn.

Tôi không đánh giá cao về giải thưởng, bởi lẽ từ đỉnh cao của một phong trào hay một cuộc thi nào đấy để có thể trở thành một nhà thơ, nhà văn đích thực, dường như vẫn còn có một khoảng cách không nhỏ. Vì giải thưởng “ở cái nước mình nó thế” (chữ dùng của nhà văn Hoàng Ngọc Hiến), ngoài tài năng ra, còn có cơ cấu, vùng miền, giới tính, dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, cơ hội... và cuối cùng vẫn không loại trừ may rủi. Nhưng bất kể ai làm thơ, viết truyện hay lý luận phê bình đã hoặc chưa từng được giải tôi đều tôn trọng cả.    

Tuy nhiên, đối với nàng thơ kiêu kỳ và đỏng đảnh nhất trần gian này, xem ra cái sự “sinh nở xoàn xoàn” ấy có vẻ như không hợp với nàng lắm, cũng như các chân dài thời nay, người ta sợ sinh nở nhiều mất đi eo thon. Vả, dù số lượng nhiều cũng chưa nói được là bao sức sống của những đứa con mà chính mình đã lao tâm, khổ tứ sinh thành nó ra.

Đọc thơ của một lão nông  - ảnh 1

Tôi đã đọc khá kỹ tập “Hồi quang” của Hoài Nhơn với 61 bài, nhìn chung là khá đồng đều, không có bài nào quá trội, cũng như không có bài nào quá non, là một tập thơ đạt yêu cầu, có thể xuất bản được mà không phải áy náy. Có một số bài khá như: Thu mưa, Thức cùng rừng cháy, Chợ làng, Đò ơi!, Hồi quang, Kí ức làng Cao, Lục bát tuổi 50, Mảnh vườn của mẹ, Mất nhịp, Màu tím Hữu Loan, Miền Trung, Mình ơi!, Nhịp cầu kí ức...

Âm hưởng chung của cả tập là nỗi niềm vọng niệm về một vùng quê nghèo khó miền Trung. Nơi ấy có những người thân yêu, kẻ còn người mất, kẻ đã ra đi đến miền quê mới mưu sinh, nhưng luôn vọng nhớ về những người ở lại nơi chôn rau, cắt rốn vẫn đầu tắt, mặt tối, lận đận suốt tháng năm mà vẫn chưa thể nào vượt thoát ra khỏi cảnh khốn khó.

“...Nói với mai này, tôi nói thực lòng tôi

Quảng Hòa gần hơn, sao quá nhiều trách móc

Mỗi bước chân quê đầy, vơi khó nhọc

Tôi gọi- đò ơi ! Cách trở chín chiều thương

 

Em đã tìm về nơi nhúm đất quê hương

Các cậu mự ta già hơn, cha mẹ không còn nữa

Một khúc sông xưa, một câu chuyện cổ

Các con ta đâu biết tháng năm này ?

 

Cầu bắc qua rồi, như một cánh tay

Những nối lại mười mong chín nhớ

Chợ Trường vẫn đông, thiếu tôi vẫn…chợ

Tôi bỗng thiếu quê hương trong kí ức đứa xa nhà.

(Nhịp cầu kí ức)

Không chỉ là vọng niệm, mà tâm lý của những người đi xa lâu ngày, ngay cả khi trở về đến quê hương xứ sở, vẫn cảm thấy xa lạ đến “lạc loài”. Cảm thức ấy trong thơ  Hoài Nhơn được lặp đi lặp lại nhiều lần.

“...Ta khờ khạo với cuộc đời chưa đủ

Bỗng thành gã ăn mày xó chợ lang thang

Đồng bạc cắc không người bố thí

Nằm mơ thấy ta chết đói giữa đất làng...”

(Võng biển)

Có lẽ chỉ có những người trong thảm cảnh tha phương cầu thực mới cảm thông chia sẻ được với nhà thơ. Trong ba miền Bắc- Trung- Nam, thì miền Trung là vùng đất trầy trật nhất cả trong bom đạn chiến tranh, lẫn thiên tai khắc nghiệt, dồn những con người nơi đây vào thế chẳng còn gì để mất, nên phải bằng mọi cách mà tồn tại:

“Rơm rạ một đời- quê ơi rơm rạ

Ta- cuộng lúa gầy khẳng ngày thất bát mùa

Bữa đói, bữa no mẹ chèo, cha chống

Biết lấy gì sống trọn hết nắng mưa ?

 

Thương đứt ruột một vùng quê nghèo khó

Miền Trung ơi, đá sỏi lát giấc mơ

Từng ứa khóc, núi buồn, biển thất sắc

Có gì như không thật, không ngờ…”

(Miền Trung)

Đối với người miền Trung dường như ông Trời không có mắt, nên mới dồn hết mọi khốn khó cho họ lúc thời chiến cũng như trong hòa bình. Khó khăn gian khổ tưởng chừng như không thể vượt qua, ai mà không thương xót. Càng thương xót hơn khi vượt thoát rồi, kiếm được miếng ăn, miếng để lần tìm về nguồn cội, chốn cố hương vẫn cảnh cũ người xưa. Vì thế lại ra đi, đi mãi để không bao giờ có thể trở lại cõi ngày xưa ấy:

“...Vành nôi tuổi ấu thơ tôi sông dài, biển rộng

Sự thật lại trớ trêu, nghiệt ngã khôn lường

Nếu tôi chết trước bình minh hi vọng

Đấy chỉ là bài ca tuyệt diệu của tai ương...”

(Vẩn vơ?)

Trong “Hồi quang”, theo tôi hai bài trội hơn xét về mảng khối xa và gần, xưa và nay cũng như hình thức thơ truyền thống và hiện đại. “Về với mẹ” là về với nguồn cội ấu thơ xưa ngái được thể hiện bằng thể lục- bát truyền thống. Còn “Tình ca Nam Cát Tiên” là đến với miền đất hứa, dù nơi ấy vẫn còn thấm đẫm nghĩa đời, tình người, nhưng dáng vóc vạm vỡ của chàng trai đang lớn dám giương ngực ra hứng chịu mọi thử thách để vượt lên làm chủ cuộc đời mình. Quả thực đọc hai bài thơ này tôi thấy rất thích.

Trước hết là bài “Về với mẹ”, xin cho tôi được trích nguyên văn:

Con về bên mẹ , mẹ ơi

Nấm đất nâu với một trời mộ bia

Âm- dương là thế này, kia?

Hình như mẹ có ngoái về nhắc con

 

Thân gầy guộc, dáng còm nhom

Làm sao đếm được hao mòn mẹ ơi!

Đời như núi sụt, sông trôi

Bấc đèn cạn sáng, ngày vơi vợi buồn

 

Con quì cúi trước hoàng hôn

Văn từng hột cát vuông, tròn mà đau!

Mẹ ơi, mẹ bỏ đi đâu

Thông xanh giấu bóng đất nâu mẹ về.

Bóng hình người mẹ thân hình “gầy guộc, còm nhom” đã khuất xa mấy nẻo, mà như vẫn còn đâu đây, vẫn nhắc đến Hoài Nhơn. Thế đấy “tình là dây oan, đời là bể khổ” mà, đến nỗi “núi sụt, sông trôi/ Bấc đèn cạn sáng, ngày vơi vợi buồn” mà làm sao con được nhìn thấy mẹ, dù chỉ một lần nữa thôi. Nhưng mẹ đã về cõi đất nâu với ngàn thông xanh biếc rồi con ạ. Con hãy ráng lên mà sống với đời, thế là mẹ yên lòng, toại nguyện lắm rồi, vì con là con của mẹ.

Tình mẫu tử đã khiến Hoài Nhơn viết nên một bài văn điếu hơn là một bài thơ, vì nó đã vượt ra ngoài xúc cảm trong khuôn khổ một bài thơ, mà là xúc cảm của người con về thăm nơi yên nằm của mẹ. Nỗi niềm da diết nhớ thương người mẹ quá cố đã tạo nên mạch nguồn tự nhiên của thi tứ. Âu đấy cũng là cái cốt yếu làm nên giá trị của thi phẩm.

Đến “Tình ca Nam Cát Tiên” dường như Hoài Nhơn đã đổi khác hoàn toàn về thi pháp. Mạch thơ chắc khỏe, tuôn chảy như suối nguồn, ngôn ngữ hiện đại, làm nên dáng vóc vạm vỡ như cốt cách của “lão nông tri điền”. Chỉ khác đây không phải là lão nông trồng lúa nước với con trâu đi trước, cái cày theo sau, mà là lão nông thời @, lướt web, bán hàng qua mạng và hàng tháng trả lương nông trang viên, nên dù vất vả đến đâu, thủy tặc, lâm tặc hay các thứ linh tinh tình tặc cũng khỏe re, nỏ sợ chi mô. Vì:

“Chàng là con nai lạc của em sừng săn chân cứng

Từ Nam Cát Tiên bước ra hay từ đại ngàn về

Mắt ngơ ngác sao chiều, anh ánh dòng Ô-Ranh chảy

Nhấp nhổm ức ngài như bóng núi Đắc-Kia...”

nghe mà thổn thức, mùi mẫn:

“...Em nghe vọng ngàn, em nghe nước chảy

Em nghe mùi anh sau những phiến chiều

Một khoanh suối trong cùng anh gội tắm

Anh che giùm em chiếc lá lu là

Ngực em trắng thơm, mình em trắng lạnh

Váy em phơi còn trên mấu rai-da...”

Điều đáng nói nhất ở đây, chính là tác giả đã sử dụng một cách khá nhuần nhuyễn ngôn ngữ trong cách thể hiện tình cảm của người con gái dân tộc Mạ ở vùng Nam Cát Tiên. Đấy là một thành công rất đáng ghi nhận.

Nếu như ở mảng thơ viết về những người thân trong gia đình, Hoài Nhơn đã biết cách kéo người đọc xích lại gần hơn với nguồn cội bằng thể thơ lục bát truyền thống, thì ở mảng thơ viết về những vùng đất mới, những con người mới về truyền thống văn hóa, tập tục... anh lại có cách thể hiện khác phù hợp với môi sinh và tâm lý con người trong những điều kiện mới. Rõ ràng là chỉ có con gái dân tộc thiểu số, mà cụ thể ở đây là con gái dân tộc Mạ, hiện đang sống ở buôn làng truyền thống mới nói như thế này: “...Ngực em trắng thơm, mình em trắng lạnh/ Váy em phơi còn trên mấu rai-da...”, còn con gái Kinh hay các cô gái dân tộc nhưng đã bị “thành thị hóa” rồi không bao giờ họ nói như vậy. Đấy là điều khác biệt cơ bản trong cách nghĩ, cách kể và cách thể hiện đặc trưng khu biệt về tính cách, tạo nên dấu ấn đậm nét của ngôn ngữ thi ca mà Hoài Nhơn đã làm được.

Đỗ Ngọc Yên

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác