Có một đồi thơ ở hồ Dầu Tiếng

Thùy Phương

Phóng xe máy bạt gió từ thị xã Tây Ninh khoảng 70km thì đến Lòng hồ Dầu Tiếng. Cô bạn cùng đi chỉ cho tôi ngọn đồi nhỏ um tùm lau lách và ngổn ngang đá nằm, đá ngồi: "Đồi thơ đó!".

Cố căng mắt ra tìm mà chẳng thấy Thơ ở đâu, chỉ só tiếng sóng hồ vỗ lách chách vào bờ đá. Tháng cuối năm, gió mát lạnh và không gian yên tĩnh vô cùng. Phong cảnh tuy hoang vắng nhưng thật hữu tình, bên kia là núi Cậu thuộc tỉnh Bình Dương soi nghiêng bóng nước hồ Dầu Tiếng. Đây đó còn in dấu vết nền xưa, tường cũ một thời nhộn nhịp công trường. Năm 1980, biên giới Tây Nam vừa yên tĩnh trở lại thì Tây Ninh có một sự kiện trọng đại là khởi công xây dựng hồ Dầu Tiếng, công trình thuỷ lợi lớn nhất Việt Nam. Ròng rã tới năm 1985 thì chính thức ngăn con suối đầu nguồn sông Sài Gòn chảy từ nước bạn Campuchia sang, tích trữ 1,4 tỉ m3 nước vào lòng hồ, cung cấp nguồn thuỷ lợi cho Tây Ninh và các tỉnh Long An; Bình Dương; Thành phố Hồ Chí Minh.

Công trường thuỷ lợi Dầu Tiếng hồi đó có hơn 400 cán bộ công nhân thuộc Xí nghiệp khai thác thuỷ lợi Dầu Tiếng trực tiếp thi công. Họ toàn là người miền Bắc. Nhân dân trong vùng quen gọi là “công trường người Hà Nam Ninh”, nhưng thực ra họ là người của nhiều địa phương như Hải Dương; Hưng Yên; Ninh Bình; Nam Định; Vĩnh Phúc… Những người thợ xây dựng công trình thế kỉ tìm cách lưu danh với mai sau bằng việc làm ra “Đồi thơ”, nơi mà chúng tôi tìm đến và đang ngẩn ngơ trước cảnh mây trời, non nước và đá lớp lớp xếp chồng lên nhau trên diện tích 1,6ha.

Một cây gạo cổ thụ xù xì thân gai và hàng trăm cành lá khẳng khiu đứng giữa đám cây xà cừ, bã đậu, tràm… lúp xúp cỏ đuôi chồn che kín lối mòn dẫn vào khu đồi thơ. Phải vạch cỏ lau và cành cây mà tìm lối đến với những “trang thơ đá”, cô bạn của tôi nét mặt đầy lo lắng.

- Coi chừng rắn đó anh!

Đây rồi! Một hòn đá lớn cao hơn hai mét, phải ba người vòng tay ôm mới hết, bụi thời gian phủ mờ những dòng chữ khắc chìm trên tấm đá hoa cương rộng 40cmx60cm:

“VỚI 400 LAO ĐỘNG THUỘC XÍ NGHIỆP LIÊN HIỆP KHAI THÁC THUỶ LỢI DẦU TIẾNG DO ÔNG TRƯƠNG MẠNH ĐỔNG CHỦ TRÌ; NHÀ ĐIÊU KHẮC, HOẠ SĨ QUỐC VĂN SÁNG TÁC TRANH, ÔNG ĐÌNH THUỴ NGHỆ NHÂN TỈNH HẢI HƯNG THỰC HIỆN 32 TRÍCH ĐOẠN TÁC PHẨM THƠ LÊN ĐÁ. xong ngày 7.8.1991”

Không biết những người thợ tiến hành khắc thơ lên đá vào thời gian nào? Những lúc rảnh rỗi, ngày nghỉ hay khi tâm hồn thơ của họ bất chợt bay bổng… Năm 1996, cô bạn tôi đang học Phổ thông trung học Hoà Thành, lớp có tổ chức buổi dã ngoại thăm Lòng hồ, nhưng các cô cậu học sinh không phát hiện ra “đồi thơ”. Công trường hồi đó rất tấp nập với tiếng búa máy, tiếng xe tải, nhiều nhà hàng ăn uống, giải khát, có cả những bóng hồng làm dịch vụ …vui vẻ, chị em đang mùa ế ẩm nên chèo kéo cả mấy cậu học sinh còn mặc đồng phục trường PTTH, rồi nói tục đến mức mấy cô nữ sinh mắc cỡ đỏ hết cả người và thề “không bao giờ thèm trở lại Lòng hồ”. Đến chục năm sau, khi nghe nói ngoài lòng hồ còn một đồi thơ khắc trên đá do những người thợ xây lắp thuỷ lợi để lại, vội kéo bạn ra thăm, thì nơi đây đã trở thành hoang phế.

Tôi cho rằng ông Trương Mạnh Đổng, tổng chỉ huy công trường Dầu Tiếng năm ấy, ngoài lòng yêu văn học, còn là người biết ý thức về dân tộc và đất nước. Chiến tranh biên giới Tây Nam do Kh’mer đỏ gây ra mới chấm dứt hơn một năm, bọn tàn quân còn lảng vảng quấy nhiễu biên giới nước ta suốt mấy năm đầu thập kỉ 80. Công trường thuỷ lợi thế kỉ khởi công trong hoàn cảnh ấy, nên ông Đổng cho những người thợ thể hiện ý chí dân tộc ngay trên đá bằng bài thơ của Lý Thường Kiệt:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Thời hậu chiến, cuộc sống còn gian khổ lắm. Thiếu thốn đủ bề. Chắc những bữa ăn của người thợ công trường cũng hạt mì, bo bo độn cơm cả thôi, ở vùng đất Tây Ninh nắng lửa mưa dầu chắc còn khó khăn hơn những nơi khác. Họ khắc thơ lên đá cũng là để nhắc nhở mình hoàn thành tốt nhiệm vụ lịch sử. Gia đình, quê hương, người thân… ở mãi ngoài Bắc xa xôi. Với một vùng đất vừa hồi sinh sau hai cuộc chiến, điều kiện liên lạc chỉ là những lá thư gửi theo đường bưu điện đi hàng tháng trời mới tới, làm sao không khỏi những giây phút xao lòng. Đọc bài thơ của vị anh hùng áo vải Lê Lợi, tôi cứ nghĩ đó chính là tâm sự của những người thợ.

Gian nan nào ngại cách non sông
Già cả mà ta vẫn vững lòng
Nghĩa khí dẹp tan mù mấy lớp
Tráng tâm san phẳng núi muôn trùng.

Hình như người chọn thơ khắc lên đá luôn có ý tưởng thông qua quá khứ để nói hoàn cảnh thực tế. Bài thơ nào đọc lên cũng thấy đầy ắp tâm sự của với đất nước, với sự nghiệp phát triển XHCN. Còn những băn khoăn, day dứt chưa nói lên được thì thông qua những bài thơ trên đá, họ mong các thế hệ sau sẽ hiểu và thông cảm cho mình. Từ bài thơ Cảnh Khuya của Hồ Chủ Tịch:

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Đến Lời thề non nước của Tản Đà:

Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng trông…

Hay khắc khoải theo tâm tư Bà huyện Thanh quan khi qua đèo Ngang. Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc… Thù nhà mỏi miệng cái gia gia. Cũng có bài thơ mang tính thời sự như Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, bởi thời điểm đó cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ vừa thắng lợi, đất nước liền một dải vừa trọn 5 năm. Chúng ta cũng vừa đập tan âm mưu lấn chiếm biên giới của Kh’mer đỏ và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Mà đọc trong trích đoạn thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn đình Chiểu thấy loáng thoáng hình ảnh người hiệp sĩ “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”.

Nhớ câu kiến ngãi bất nghi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.

Bốn câu đầu của truyện Kiều cũng được trích “in” ở đây, trên một hòn đá đứng tít mãi trong giữa đồi.

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…

Ý tứ của người đục đá ở mấy câu này kín và tâm trạng, làm người ta nhớ tới lời một bài hát về rừng. “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng/ Gian khổ biết nhường phần ai/ Ai cũng một thời trẻ trai…”

Cảnh núi non, sông nước thời rừng còn chưa bị ‘bóc da, xẻ thịt”, tình cảm chân chất, quý mến của người dân miền Đông Nam bộ đã làm rung động trái tim người thợ. Tôi tin chắc như vậy vì họ cất công đục vào đá cả bài Thu ẩm của Nguyễn Khuyến và thơ tình của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Chỉ tiếc là bài thơ của Xuân Quỳnh do khắc vào đá hoa cương rồi mới gắn lên đá nên đã bị con người hoặc thiên nhiên làm vỡ gần hết, chỉ còn câu cuối. Khi nào ta yêu nhau. Có lẽ đoạn thơ trích đầy đủ là.

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết được
Khi nào ta yêu nhau

Một số bài thơ khác cũng chung số phận như vậy, chủ yếu là những trích đoạn khắc lên đá hoa cương rồi gắn vào đá núi. Gần khu vực có nhiều cây cao nhất, bỗng gặp câu thơ của Chu Mạnh Trinh, lãng đãng giữa không gian tĩnh lặng, gió mát lạnh ru nhẹ cành lá, thanh thoát như gặp chốn thiền lâm.

Tiếng đàn tiếng phách vang lừng
Cá khe lắng kệ chim rừng nghe kinh…

Nhà điêu khắc, hoạ sĩ Quốc Văn cố gắng trổ tài trong việc “minh hoạ” những trích đoạn thơ trên đá. Những bức tranh đá này khá đẹp, như cảnh sông nước, vầng trăng sau lá trúc ở bài Cảnh khuya của Hồ Chủ Tịch; Cảnh núi điệp trùng, mây lãng đãng và mấy cánh chim trời chao cánh trong trích đoạn Lời thề non nước của Tản Đà hay Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh quan; Cuốn sách bên lọ mực có chiếc bút lông ngỗng ở các trích đoạn bài Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi… Tất cả được nghệ nhân Đình Thuỵ thể hiện bằng những nét đục tài hoa, tạo nên một tác phẩm thơ đá đồ sộ trên khắp quả đồi rộng. Chỉ tiếc bây giờ những vần thơ đá không có ai bảo quản gìn giữ, nó đang bị bụi thời gian, cỏ cây, lau lách che phủ và biết đâu vài năm nữa, do nhu cầu lấy đá xây dựng, người ta lại huỷ hoại nó như từng đánh sập nàng Tô Thị ngoài Lạng Sơn năm nào. Tại đây, diện tích “đồi thơ” giờ nằm trong khu vực thuê đất làm trại nuôi trai lấy ngọc của một thanh niên 33 tuổi người Bắc Giang. Ông chủ ngọc trai Lê Phi Ngọc này lăn lộn với Lòng hồ từ năm 2003, đến nay đã thành lập Công ty TNHH. Nghề nuôi trai lấy ngọc không biết có trở thành tỉ phú? Mà thời hạn thuê đất chỉ còn đến năm 2009, với lại mấy năm nay nhà nước cấm nuôi cá bè trên lòng hồ Dầu Tiếng nên trai của anh cũng bị… đói, phải chạy lên Bến Củi thuê đất làm trại khác. Anh Ngọc cũng rất tâm đắc với “đồi thơ”, với khung cảnh hữu tình của Lòng hồ. Anh nói ngôi nhà còn lại trong khu vực nếu được sửa sang, nâng cấp làm nơi du lịch, nghỉ dưỡng cho người cao tuổi hoặc làm nơi mở trại sáng tác cho văn nghệ sĩ thì tuyệt vời.

Nhưng đó cũng chỉ là ý tưởng của mấy người hay mộng mơ như chúng tôi. Trong cơn lốc của nền kinh tế mới, có những điều người ta phải quên đi để đạt được điều gì đó. Tuy nhiên, “đồi thơ” ở Dầu Tiếng còn “trơ gan cùng tuế nguyệt” và đang đón chờ những người biết trân trọng nghệ thuật, trân trọng tấm lòng của những người thợ xây lắp thuỷ lợi năm nào. Chỉ một niềm khắc khoải trong lòng tôi và những người bạn, rằng những người thợ năm xưa khắc thơ lên đá, hơn 400 con người giờ ai còn, ai mất? Có ai còn công tác đâu đó trên mọi miền đất nước và họ có nhớ, có biết số phận “đồi thơ” của đơn vị mình gần hai chục năm qua ra sao? Bài viết này của tôi, mong là chút thông tin nhỏ để có ai đó đọc được mà nhớ lại một thời.

Tháng 12/2007

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác