Càng đi xa càng nhớ về nguồn cội



(Toquoc)- “Hai bờ thời gian”(*) là tập thơ thứ tư của nhà thơ Hải Đường. So với những tập thơ trước của anh mà tôi đã đọc, thấy đằm hơn và cũng thao thiết hơn trong những vần thơ anh viết về nguồn cội. Dường như càng đi xa tới nhiều miền quê, vùng đất và các quốc gia trên thế giới, anh càng muốn quay trở về nơi chôn rau cắt rốn.  

Càng đi xa càng nhớ về nguồn cội  - ảnh 1
Bìa sách

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý cho rằng “Đi hết làng quê mình sẽ gặp Đất nước, đi hết Đất nước mình sẽ gặp Nhân loại” (tr.5). Điều này hoàn toàn đúng theo logic phát triển tự nhiên từ bé đến lớn, từ hẹp đến rộng, từ hữu hạn đến vô hạn…

Còn tôi lại không nghĩ thế. Đối với những người như nhà thơ Hải Đường, thì đi đến với nhân loại sẽ gặp đất nước, đi đến với đất nước sẽ gặp làng quê mình. Chiều diễn dịch ngược này, mới nghe có vẻ không hợp lý, theo logic hình thức thông thường, vì người ta bao giờ cũng bắt đầu cuộc đời từ nơi sinh ra, mà đại đa số những người thuộc thế hệ Hải Đường trở về trước được sinh ra từ làng, thì ấn tượng đầu tiên bao giờ cũng thuộc về làng, rồi mới đến nước, ra thế giới.

Nhưng, nhìn theo quan điểm logic biện chứng thì nên hiểu ngược lại. Vì thông thường với tất cả những người sinh ra từ làng, cho đến lúc ra đi (khoảng 17-18 tuổi) hầu như chưa đi hết làng, theo đầy đủ ý nghĩa của cụm từ này. Nếu có, cũng chỉ đi hết bằng đôi chân, bập bẹ đôi ba câu chữ của làng và vài ba công việc hàng ngày giúp gia đình, học hành, âu cũng chỉ là sự bắt chước mà thôi, còn cái gọi là “làng” theo nghĩa rộng thì dường như các chàng trai, cô gái ấy chưa hề nghĩ tới và hiểu được, mà có nghĩ cũng không xong, vì kinh nghiệm sống chưa có là bao, kiến thức văn hóa còn ít, lại mãi lo những công việc cụ thể khác, còn thì giờ đâu mà nghĩ.

Minh chứng là khi nhà thơ ra đi đến nơi khác lại nhìn thấy làng mình rõ hơn, sâu sắc hơn. Làng hiện lên trong mắt nhà thơ Hải Đường không chỉ có ông bà, cha mẹ, mái tranh, lũy tre, giếng nước, vườn rau, ruộng lúa… mà còn có bao phận người côi cút mưu sinh, bao vật đổi sao rời:

Bây giờ nắng nắng mưa mưa

tiếng gà gáy giữa ban trưa nát long

tiếng làng ai gọi ai mong

bước chân in dấu thẳm trong cõi người

(Tiếng làng)

Làng trong tâm thức của anh là cái làng “thẳm trong cõi người”. Ngồn từ không mới, câu chữ không có gì là khó hiểu, nhưng đọc lên nghe ghê ghê, rờn rợn, thật sự ám ảnh. Cái “cõi người” ấy đâu chỉ có những nụ cười hả hê, hạnh phúc tràn trề, mà cò có khi phải “nát lòng”. Không “nát lòng” sao được, khi trời còn sáng nắng, chiều mưa, huống chi cuộc đời, phận người không đổi thay mới là chuyện lạ.

Dẫu vẫn biết mọi đổi thay đều là dấu hiệu của sự phát triển, nhưng sự phát triển bao giờ cũng có tính hai mặt, tích cực và tiêu cực. Nếu đấy là sự phát triển theo hướng tích cực thì quá hay, vì ai chẳng muốn như vậy. Trớ trêu là, ước vọng ấy của con người không phải bao giờ cũng được thực hiện, mà nhiều khi nó hoàn toàn ngược lại, khiến bao người xót xa, nuối tiếc và có người còn thầm nghĩ thà đừng thay đổi còn hơn, chứ thay đổi kiểu ấy chỉ làm “nát lòng” nhau mà thôi.

Trong “Hai bờ thời gian”, hai mảng đề tài chính được nổi lên khác rõ: làng và những nơi ngoài làng mà nhà thơ đã có dịp tới đó. Nhưng tựu chung dù viết về đề tài nào, thì chủ đề về nguồn cội vẫn là một sợi dây xuyên suốt, quán xuyến và chi phối toàn bộ tập thơ. Nguồn cội ở đây nên hiểu là các bậc sinh thành ra mình, vợ con, gia đình, những người thân, bà con xón giềng, mảnh đất trưởng dưỡng tuổi thơ ta, xa hơn là nơi có đồng đội, đồng bào mình đã, đang và sẽ sống, lao động, chiến đấu, hy sinh cho cộng đồng người Việt ngày càng cường thịnh, sánh vai với các nước trong khu vực và thế giới.

Lập đi lập lại mô thức “Làng” trong phần lớn tập thơ như: Bài hát quen, Sau mưa, Mây vẫn bay, Nàng dâu, Lang thang chiều Ba mươi, Nghĩ trên luống cày, Làng, Tiếng làng, Nhớ làng, Tết này con vắng mẹ… chứng tỏ một điều là khi càng bay cao, vươn xa, càng dày cái tuổi, thì người ta càng khao khát về nguồn cội. Cái nguồn cội chẳng bao giờ tồn tại về mặt thực thể như thưở ấu thơ của mỗi người, có chăng chỉ còn lại những hoài niệm đẹp về nó, nhất là khi ta lang thang giữa dòng đời bất tận nơi phố thị, không biết bấu víu vào đâu, giữa chiều Ba mươi Tết:

Tôi nhà quê ra tỉnh

nửa đời rồi chưa quen

chiều Ba mươi ngơ ngẩn

tiếng gọi đò mênh mang

Lang thang con phổ nhỏ

gặp toàn người ế hang

ngẫm mình còn may chán

hồn vẫn neo ở làng

(Lang thang chiều Ba mươi)

Thời buổi làm ăn khó khăn, những gánh hàng chiều Ba mươi Tết ế ẩm, ai chẳng nẫu ruột nẫu gan, bỏ thì thương, vương thì tội. Mai mồng Một Tết rồi, bán cho ai. Nỗi buồn se sắt của nhà thơ như muốn sẻ chia với những người đang hàng ngày vật lộn mưu sinh mà vẫn không thoát khỏi cảnh ế ẩm. Rõ ràng anh vẫn là người may mắn hơn, khi còn có chỗ để mà neo đậu. Ở làng không bao giờ có chuyện bán chạy hay bán ế hàng, mà chỉ có tình nghĩa xóm giềng như ngọn lửa hồng sưởi ấm lòng ta trong những đêm đông lạnh giá.

Làng như một phần của nguồn cội, vừa sâu xa, vừa dài rộng, cũng vòi vọi cao, nên ở đâu, đi đâu, làm gì, tâm thức làng cũng vẫn luôn gắn chặt đối với mỗi người. Đối với phần lớn những ai sinh ra từ làng chẳng bao giờ muốn quên dù làng mình to hay nhỏ, giàu hay nghèo, hiển vinh hay lận đận. Càng đi hết rộng dài cuộc đời, dường như làng càng níu kéo ta trở lại, nhất là khi tắt lửa tối đèn, thì làng càng hiện hữu và càng day dứt trong ta. Quả là các cụ ta xưa nói chẳng có sai “Cóc chết ba năm còn quay đầu về núi”. Cám ơn nhà thơ Hải Đường đã nói hộ nỗi lòng của bao người con đã từng sinh ra, lớn lên và rời làng đến phố.

   Đỗ Ngọc Yên

--------------------------

(*)“Hai bờ thời gian”. Thơ Hải Đường, Nxb Hội Nhà văn, 2013

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác