Các nhà giáo đi B *

(Toquoc)- Giữa năm học 1960-1961, thầy giáo Nguyễn Đức Siêu, dạy cấp II ở thành phố Nam Định được triệu tập về Hà Nội để nhận nhiệm vụ mới. Trước kỳ nghỉ hè năm ấy, các cô cậu học trò yêu quí và những đồng nghiệp không hề biết người thầy quê Hoài Nhơn, Bình Định đã ba lô trên vai, lên đường đi B theo sự điều động của Ban Tổ chức Trung ương. Đây là chuyến đi đầu tiên của các nhà giáo miền Bắc vào chi viện cho mặt trận giáo dục vùng giải phóng miền Nam sau cuộc đồng khởi năm 1960.

Các nhà giáo đi B * - ảnh 1

Các nhà giáo đi B theo đường dây bí mật, khởi đầu từ một ngôi làng ở Quảng Bình, bằng lối mòn len lỏi xuyên dải rừng già Trường Sơn, qua bao nhiêu dốc đèo sông suối hiểm trở, tiến về đất "Thành Đồng Tổ quốc". Đội mũ tai bèo, nằm võng, ngủ rừng... các nhà giáo đi B hệt như các chiến sĩ trên đường ra mặt trận. Vượt Trường Sơn vào Nam công tác, họ đương đầu với sốt rét ác tính, với thám báo, biệt kích, bom mìn rình rập suốt lộ trình.

Thời kỳ đầu, bình thường một chuyến đi phải mất bốn tháng mới đến điểm tập kết về Tiểu ban giáo dục R (gọi tắt là B3) nhận nhiệm vụ. Tuy nhiên, cũng hành trình ấy, có Đoàn phải hơn một năm mới tới nơi. Bao nhiêu gian khổ dọc đường không kể xiết. Nhưng không có gì cản được bước chân của những người lên đường vì sự nghiệp giáo dục cách mạng, thống nhất đất nước. Họ chấp nhận khó khăn thử thách, cả những hy sinh xương máu. Điểm lại, từ năm 1961 đến cuối năm 1973 đã có 10 chuyến đi B của gần 3000 thầy cô từ các mái trường, giảng đường, nhiệm sở ở Hà Nội và các tỉnh thành miền Bắc đã đi B. Nhiều người tuổi đời còn rất trẻ. Có người vừa tốt nghiệp Đại học, nhưng cũng có những nhà giáo ở tuổi bốn, năm mươi đã có thâm niên và thành tích xuất sắc trong công tác quản lý, giảng dạy. Một số thầy, cô quê gốc miền Nam, ra Bắc, "đi B" là lúc "trở lại quê nhà". Còn số đông là các thầy, cô quê ở bên này bờ sông Bến Hải, tự nguyện lên đường vì nghĩa vụ cao cả khi Tổ quốc cần. Đi B, số đông các thầy, cô được phân công về các cơ sở, bám trụ ở các địa bàn công tác. Họ trực tiếp góp công sức xây dựng trường sở, vận động quần chúng, lên lớp giảng dạy. Họ còn tham gia chiến đấu, chống càn, phá vây, thực hiện "ba cùng" với nhân dân các xóm ấp, làng buôn vùng tạm chiếm, vùng tranh chấp, vùng giải phóng. Một số thầy, cô nhận nhiệm vụ tại căn cứ chiến khu, dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, xây dựng Tiểu ban Giáo dục R, thành lập tháng 10-1962, sau này thuộc Bộ Giáo dục và Thanh niên Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam. Tiểu ban có chức năng làm tham mưu cho Trung ương Cục miền Nam, đề xuất chủ trương, đường lối, nhiệm vụ công tác giáo dục cách mạng từng thời điểm cụ thể và cả định hướng lâu dài. Xin đọc lại một đoạn "trích dẫn văn bản" để "tiếp cận" khung cảnh cuộc đấu tranh trên mặt trận "không tiếng súng" ở miền Nam ngày nào:

"Dựa vào lực lượng nhân dân, cán bộ giáo và các nhà giáo yêu nước, kiên quyết đả phá chính sách ngu dân và các hình thức giáo dục nô dịch, phản động, ngoại lai, đồi truỵ của Mỹ-nguỵ, tích cực xây dựng một nền giáo dục dân tộc, dân chủ và khoa học theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nhằm bồi dưỡng chính trị, văn hoá cho nhân dân lao động trước nhất là cán bộ và chiến sĩ, nhằm đào tạo thế hệ trẻ toàn diện, biết căm thù giặc sâu sắc, biết yêu nước nồng nàn, có kiến thức, đạo đức và sức khoẻ để tiếp tục sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và kiến thiết xã hội sau này" (Thông tư 44/TT ngày 13-2-1963, tr.8).

Những mái trường lợp lá dừa nước ríu ran tiếng trẻ học bài. Những mái lán lợp lá trung quân trong tán rừng chiến khu hội tụ những gương mặt sáng ngời những chiến sĩ trẻ măng say sưa giải toán, làm văn bên các thầy, cô giàu nghị lực và tâm huyết trước từng trang giáo án. Những cuốn sách giáo khoa, những tài liệu giáo dục biên soạn và in ấn dưới ngọn đèn cầy và ánh hoả châu ra đời, toả về các cơ sở. Những cuộc họp chi bộ, những cuộc hội ý chớp nhoáng giữa 2 trận càn. Các nhà giáo đào hầm tránh bom B52, chụm bếp Hoàng Cầm che mắt địch, làm rẫy trồng mì chống đói, đan lưới bắt cá suối, hái rau rừng cải thiện bữa ăn, san sẻ từ hạt muối mặn đến viên thuốc đắng để duy trì sinh hoạt, công tác. "Tiểu ban giáo dục R một thời để nhớ " còn sưu tầm được những trang nhật ký, hồi ức của nhiều thầy, cô cùng những sáng tác thơ, ca khúc... những tấm ảnh tư liệu - kỷ vật thiêng liêng...Và sâu hơn nữa, trong tâm khảm những người đồng nghiệp còn lại hôm nay, gương sáng của trên 600 nhà giáo hai miền Nam, Bắc đã hy sinh trên dải đất miền Nam trước ngày đất nước thống nhất, để lại những dòng tên bất khuất khắc trên tấm bia tưởng niệm các nhà giáo liệt sĩ được xây dựng trên đồi 82 Tây Ninh, khánh thành năm 2005. Trong danh sách những nhà giáo "Hiến thân cho nước: sống đã vinh mà thác cũng vinh/ Hết dạ vì dân: mệnh chẳng thọ mà danh lại thọ" (trích văn bia tưởng niệm do Giáo sư Vũ Khiêu soạn) có thầy Nguyễn Đức Siêu lên đường từ Nam Định, đi B ngày 22-5-1961, hy sinh ngày 23-3-1967, tại Đăklăk. Có cô Lê Bạch Cát, quê Nghi Thuỷ, Nghi Lộc, Nghệ An, vừa tốt nghiệp Đại học Thể dục Thể thao Từ Sơn, Bắc Ninh, đã tình nguyện vào Nam, nhận công tác tại B3. Cũng như nhà giáo - nhà thơ liệt sĩ Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), cô Lê Bạch Cát tham gia chiến dịch tổng tấn công xuân Mậu Thân (đợt 2), anh dũng hi sinh năm 1968, tại Sài Gòn. Giờ đây, tại quận 11 thành phố Hồ Chí Minh, có một đường phố mang tên cô. Đó là Dương Lệ Chi, cô giáo trẻ quê Long An, dạy ở trường Nguyễn Văn Trỗi, từng lấy thân mình chắn cửa hầm trú ẩn cho học sinh. Cô hy sinh ngày 10-5-1970, tại Campuchia. Đó là thầy Huỳnh Phương, sinh năm 1939, quê Hội An, Quảng Nam, khoa Sinh trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đi B ngày 20-12-1964, hy sinh ngày 30-10-1972 tại Bà Rịa...

Đồng nghiệp ở Tiểu ban Giáo dục R nhiều năm đã qua vẫn không nguôi tiếc thương nhà giáo Phạm Xuân Phương (Trần Phạm) - một cán bộ xuất sắc của Phòng Bình dân học vụ B3. Anh sinh năm 1942, quê Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi - ở khoa Toán Đại học Sư phạm Hà Nội, đi B ngày 22-12-1964, hy sinh ngày 27-2-1973, tại biên giới Việt Nam -Campuchia, đến nay vẫn chưa tìm thấy mộ phần giữa đại ngàn hoang vắng... Trong cuốn sách tư liệu này, những người biên soạn trân trọng in ảnh chân dung và những dòng "trích ngang" tiểu sử những nhà giáo đức độ, giàu nhiệt huyết, từng trực tiếp "đứng mũi chịu sào", tham gia lãnh đạo Tiểu ban Giáo dục miền Nam từ những ngày đầu gian khổ, đến ngày toàn thắng, tiếp quản Sài Gòn, tháng 5-1975, hoàn tất công việc chuyển giao, hợp nhất ngành Giáo dục toàn quốc từ ngày đất nước thống nhất. Đó là các ông Ngô Văn Cát (Ba Cát), Lê Văn Chí (Mười Chí), Nguyễn Hữu Dụng (Tư Dụng), Trần Đạo (Sáu Thành), Hoàng Đào (Chín Nam),Tôn Thất Dương Kỵ, Vũ Môn (Hai Trọng), Nguyễn Ngọc Thưởng (Sáu Thưởng) cùng chân dung 379 thầy, cô từng có "một thời để nhớ" ở Tiểu ban giáo dục R - những người góp phần làm nên những dấu son sáng mãi trong sự nghiệp giáo dục cách mạng Việt Nam thế kỷ vừa qua.

Phạm Trọng Thanh

----------------------

* Nhân đọc Tiểu ban Giáo dục R một thời để nhớ - Nguyễn Quốc Bảo, Phạm Thanh Liêm,Trần Trâm Phương,Trịnh Hồng Sơn biên soạn - NXB Giáo dục, 2005


Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác