Xa rồi mùa đông

Hà Nội những ngày này lạnh quá. Cái lạnh thở ra như hơi thở xuýt xoa của một khối băng tuyết ở đâu đó choàng phủ xuống phố phường. Sáng ra, Hà Nội chưa tan sương mù đã vây bủa cùng cái lạnh buốt da thịt.

Đông đến, thèm cảm giác được tay trong tay dạo chơi trên phố, mặc những cơn gió lạnh buốt đang đùa nghịch vây quanh. Đông đến, thèm cảm giác ấm cúng ngồi bên bếp lửa. Đông đến, thèm bữa cơm gia đình nóng hổi, quây quần bên nhau…. Mỗi người đều kiếm tìm cho mình chút ấm áp để xua đi cái lạnh. Với Lê Nguyễn Lam Thy, nhớ lại những kỉ niệm nơi quê nhà- kỉ niệm tuổi ấu thơ cùng con người cảnh vật miền đất Hà Tĩnh có lẽ là một cách đứa con xa xứ tìm chút ấm áp sưởi ấm trái tim. Chúng ta hãy cùng men theo dòng suy tưởng của Lam Thy để tự cảm nhận hơi ấm tình người…

Xa rồi mùa đông

Hà Nội những ngày này lạnh quá. Cái lạnh thở ra như hơi thở xuýt xoa của một khối băng tuyết ở đâu đó choàng phủ xuống phố phường. Sáng ra, Hà Nội chưa tan sương mù đã vây bủa cùng cái lạnh buốt da thịt. Lạnh giá là vậy nhưng trong mờ mịt sương sớm bóng người đã chen nhau ngược xuôi, xe chạy vù vù, mọi người rụt cổ trong những chiếc áo choàng to, khăn len dày, những mũ đội và găng tay tránh rét của người Hà Thành. Từ nhà tôi ở lên cơ quan lần lượt đi qua ba cái hồ nước rộng mênh mông mà buổi sáng chỉ tay cho con gái thấy sương sớm mọng nước bay trĩu quanh mặt hồ còn ngái ngủ. Đó là hồ Linh Đàm, hồ Ba Mẫu và hồ Thiền Quang. Mỗi lần đưa con đến trường, lên cơ quan làm việc, đi qua những cái hồ đủ rộng để thấm làn gió phả lên từ mặt hồ mang theo hơi nước buốt lạnh, con gái lại dúi đầu vào lưng mẹ xuýt xoa: “Mẹ ơi, lạnh quá”.

Mà lạnh thật, người cứ co ro trong lớp áo khoác dày mà vẫn thấy rét ở đâu đó. Thế mà bên hồ, những cụ ông, cụ bà đi tập thể dục buổi sớm đã sải đều bước chân. Tự dưng thấy lòng thắt lại vì nhớ mẹ, nhớ mùa đông nơi lành quê nghèo xứ Hà Tĩnh, và những ngày ấu thơ lam lũ với cái lạnh nơi quê nhà. Mùa này làng Chợ Bến quê tôi đang sắp sửa vào vụ cấy. Ngày xưa, dẫu là cán bộ thoát ly nhưng cuộc sống của mấy mẹ con, cha con vẫn phải trông cậy vào mấy đám ruộng mượn của Hợp tác xã để tăng gia sản xuất thêm. Sau vụ hè thu, đất đai được nghỉ ngơi tý chút là đến vụ đông. Còn nhớ những ngày đầu tháng Chạp, mẹ đã sấp ngửa giở nắp chum ra gạt lấy đấu thóc giống để dành từ mùa năm ngoái để ủ mầm bắc mạ sớm. Mẹ nói, con nhà nông phải biết bắc mạ từ sớm kẻo qua tháng Chạp rét đậm, mạ nghẹn lạnh không nhú mầm lên được , cây mạ mảnh mai, cấy xuống ruộng trong màu nước giá đen xỉn, cá chết hàng loạt, rồi cây mạ cũng quắt lại mà chết.

Những ngày cuối năm là những ngày rét đậm nhất, người dân làng Bến quê tôi ngày xưa chỉ có độc manh áo bông vá chằng vá đụp mặc quanh mùa rét, với cái quần thâm ống rộng. có nhà nghèo quá, đến áo bông cũng chẳng có, cả gia tài có được cái áo cánh nào cũng mặc vào hết cho đỡ rét. Thiếu thốn quá, có người hết ba tháng mùa đông mới thay áo một lần. Chuyện như đùa mà hoàn toàn có thật. Những người nông dân chân không bao giờ biết đi dép ở quê tôi, mỗi lần ra đồng nhúng chân xuống ruộng để cấy lúa lại phải khoác áo tơi vào cho đỡ gió, tránh được rét. Áo tơi làm bằng lá tro, chằm lại bằng lạt tre như một cái phên bó tròn dùng để che cái nắng chang chang mùa tháng 7 đỡ rát lưng khi cúi mặt giữa đồng ruộng, nhưng áo tơi cũng dùng để che những cơn mưa phùn nặng hạt ngày đông giá. Ngày xưa, nhà ai cũng nghèo, lấy đâu ra tiền để sắm nổi một tấm áo mưa bằng nilon, mà nhà ai khá giả hơn có tiền thì cũng có đâu nhiều nilon bán ở chợ như bây giờ để mà mua. Vì vậy, nắng hay mưa gì người nông dân ở Hà Tĩnh cũng có chiếc áo tơi làm bầu bạn. …

Làng tôi nằm bên con sông Ngàn Mọ chảy từ một nhánh rẽ nhỏ của dòng sông La thơ mộng. Bởi thế mùa đông nào làng tôi cũng dường như lạnh hơn ở những ngôi làng khác. Sáng ra, đàn bà vác khoai, rau lội xuống sông rửa ráy. Sương sớm từ sông bay la đà bên bóng những người đàn bà chợ Bến quê tôi. Chiều về túm tụm bên bến nước, chỗ này là đàn trâu đằm mình kì cọ vết bùn, bên kia là những người đàn bà gội đầu, rửa rau, vui vẻ và bình yên như thể chưa bao giờ họ biết tới mùa đông giá là gì. Người dân chợ Bến quê tôi hồi đó chỉ có độc một dòng sông làm nguồn nước ăn, nước sinh hoạt. Cả làng nấu ăn bằng nước sông, tắm rửa bằng nước sông, sinh hoạt bằng nước sông. Sông chảy từ thượng nguồn Ngàn Phố, nên không bao giờ cạn, không bao giờ thiếu đi sự trong xanh. Kỳ lạ hơn, mùa đông nước ở sông bao giờ cũng ấm. Vén quần lội xuống nước, nước sông ấm như có ai hâm nóng lên, chẳng vậy mà thỉnh thoảng cha tôi vẫn đi tắm sông vào giữa những ngày giá rét nhất. Cha nói, tắm nước sông. được đầm mình giữa lòng sông còn ấm hơn là tắm nước nóng mẹ hâm ở nhà, giội lên người vẫn lạnh lắm. Hà Nội những ngày này lạnh lắm, lại sắp sửa một mùa Giáng sinh trôi qua, một năm mới lại đến, đi giữa phố phường Hà Nội trong lớp lớp áo khoác dày vẫn thấy lạnh. Phố phường đã rực lên không khí Noel, ông già Tuyết dã đứng tươi cười trên các bậc tam cấp của nhà hàng, khách sạn. Cây thông trĩu đèn sáng và quà cáp đã lung linh trong từng căn nhà nhỏ bé. Mùa đông này, những người nông dân ở quê tôi vẫn thế, đang là vụ cấy lúa Xuân nên thay nhau vì mơ tưởng đến một Giáng sinh ấm áp, họ đang mải miết cúi mặt giữa cánh đồng bao la. Đâu đó, những chiếc áo tơi vẫn không bao giờ cũ. Cũng là một cuộc đời, một đời người nhưng những người dàn bà nông dân nơi quê tôi không bao giờ biết tới cái lạnh không giờ của đêm Giáng sinh tràn ngập ánh sáng. Lũ trẻ con quê tôi không bao giờ mơ thấy ông già Noel gõ cửa tặng quà… Và đâu đó, nơi miền quê Hà Tĩnh nghèo, những đứa trẻ trong ngày đông giá vẫn lớn lên, vẫn yêu thương rồi nên vợ nên chồng, sinh con đẻ cái và làm nên những cây đời bình dị bên trời.


(An ninh thế giới)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác