Về lại Rừng xà nu

“Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”…

Lần theo câu văn đẹp như mời gọi ấy chúng tôi tìm về lại nơi Rừng xà nu mà nhà văn Nguyễn Trung Thành (tức Nguyên Ngọc) đã viết 45 năm trước (1965-2010).

Về lại Rừng xà nu  - ảnh 1
Cháy rừng xà nu
Gần nửa thế kỷ qua, truyện ngắn “Rừng xà nu” như một nỗi ám ảnh người đọc, người học (trích giảng ở chương trình Ngữ văn lớp 12). Nó ám ảnh từ cảnh sắc đến con người, từ sức sống đến tinh thần chiến đấu ngoan cường giữa chốn ngàn xanh. Truyện lấy bối cảnh vùng núi Ngọc Linh thuộc tỉnh Kon Tum, nơi nhà văn đã từng tham gia hoạt động cách mạng.

Từ thành phố Kon Tum, theo đường Hồ Chí Minh (quốc lộ 14 cũ) đi về hướng bắc trên 100 cây số thì đến thị trấn huyện Đăk Glei. Từ đây đi tiếp khoảng 30 km tỉnh lộ 673 nữa (ngang qua lối rẽ vào ngục Đăk Glei, nơi giam giữ nhà thơ Tố Hữu, để từ đây Tố Hữu có cuộc vượt ngục ngoạn mục. Ngày nay bà con nơi đây quen gọi là ngục Tố Hữu) là tới làng Xốp Nghét, nơi có đại gia đình của A Mét, nguyên mẫu nhân vật chính trong truyện ngắn nói trên, cư ngụ. Trước khi đến làng Xốp Nghét chúng tôi tìm thăm ông Đinh Như Rươn, bác sĩ vừa về hưu, là con trai cả của cụ Mét đang cư ngụ ở thị trấn Đăk Glei. Ông Rươn thừa hưởng gien bố nên có dáng hình to cao, đẹp lão. Cụ Mét đã mất năm 2.000 (thọ 79 tuổi) nên mọi khai thác bây giờ chỉ trông vào ông Rươn.

Qua ông Rươn, có thể vắn tắt cuộc đời Mét: Tập kết ra Bắc năm 1954 mang theo vợ là Y Ruân, con gái Y Rênh và con trai A Rươn vừa 3 tuổi. Đến ngày 24 tháng 4 năm 1959, Mét vượt Trường Sơn 13 tháng trời ròng rã về lại quê nhà tổ chức dân làng chiến đấu. Sau ngày Giải phóng 1975, Mét được đề bạt làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Đăk Glei một thời gian. Công trạng đầy mình nhưng chậm được đề bạt làm cán bộ có lẽ một phần do Mét không biết chữ! Khi làm Chủ tịch Mặt trận, Mét cũng chỉ được con cái bày cho mỗi một cái chữ ký! Sau khi bà Ruân bị bệnh mất ở bệnh viên Bạch Mai và khi về lại quê nhà, Mét lấy bà vợ sau là Y Cháp sinh ra con gái Y Léo và hai trai là A Mết và A Phim. Cả ba người này đang sinh sống bình thường (nếu không muốn nói là khó khăn) tại làng Xốp Nghét.

Cuộc đời chiến đấu của Mét để lại nhiều chuyện kể. Như lần Pháp kêu gọi Mét nếu chịu quy phục sẽ được phong hàm Thiếu tướng ngay! Hoặc có giai thoại rằng Mét giả dạng làm người khác chủ động tìm gặp Pháp bảo có thích giết Mét không thì dẫn đường chỉ điểm cho. Pháp tin thật đi theo liền bị Mét tổ chức giết chết! Lại có giai thoại kể rằng sau nhiều năm vắng mặt (tập kết ra Bắc) khi về lại, có người nhận ra Mét do có chiếc răng vàng, Mét bèn gỡ bỏ luôn răng để khỏi bị lộ!... Mét tổ chức các tổ chiến đấu và tổ chức đánh địch rất giỏi bằng mọi cách, từ làm bẫy đá, bẫy thò, tên nỏ đến việc thu súng trường Mát của địch trang bị cho dân quân. Có lần đồng chí Trần Kiên (Trưởng Ban Thanh tra Đảng lúc ấy) nói với ông Rươn: “- Không biết cha mày đánh địch cách sao mà không lần nào Pháp, Mỹ chạy thoát được!” A Phim, con trai út của Mét thì kể: “- Ông già suốt ngày chỉ lo đi chiến đấu thôi, không biết lo tí gì đến chuyện nhà cả. Khi hết giặc quay về thì vợ con đề huề cả đàn cả đống, ông già vui lắm!”

Ông Rươn cho biết gia đình và địa phương đang làm thủ tục đề nghị truy tặng Mét là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Việc châm trễ công nhận Anh hùng này, cũng theo ông Rươn, có lẽ do mấy nguyên nhân: - Một là khi vợ mất ngoài đất Bắc, Mét cứ nằng nặc đòi về lại Nam, nên bị đánh giá là dao động tinh thần! - Hai là cũng có thể do trong quá trình chiến đấu, hễ bắt được tên địch nào là Mét cho giết ngay, điều này vi phạm luật tù binh, nhiều lần được tổ chức nhắc nhở nhưng Mét không nghe!

Ông Rươn nhớ có lần Mét về nhà chìa ra một cuốn sách, bảo: “- Truyện này thằng Ngọc nó viết về tao đó! Bây giờ tao đổi tên Đinh Môn rồi, không còn là Mét như trong sách nữa. Chúng bay đọc đi, tao không biết chữ!” Chúng tôi hỏi ông Rươn cảm nghĩ thế nào khi đọc được truyện viết về cha mình, ông Rươn bảo không đọc vì không thích văn học! Hỏi người nhà có ai đọc và nói gì không, ông Rươn bảo có lẽ cũng không vì không ai quan tâm tới văn chương chữ nghĩa!

Hỏi về cái làng Xô Man của Mét, ông Rươn bảo rắc rối lắm! Ông Rươn theo cha rời làng từ năm 3 tuổi, mãi đến tháng 4-1975 mới về lại, nên quê nhà là một cái gì mù mờ trong trí nhớ. Ông bảo cả huyện Đăk Glei này không đâu có tên làng Man. (Có lẽ nhà văn đã sáng tạo cái tên làng ấy như đã gọi làng Xi Tơ của Anh hùng Núp là làng Kông Hoa trong “Đất nước đứng lên” vậy). Ông Rươn chỉ biết ngày xưa làng nằm sâu tít trong chân núi Ngọc Linh, cách làng định cư ngày nay dễ chừng bảy, tám mươi cây số đường rừng. Có thể làng Xô Man là làng Tu Dốp mà ngày xưa ông còn nhớ mang máng có người gọi như thế. Qua nhiều lần chuyển đổi chỗ ở, ngày nay định vị là làng Xốp Nghét thuộc xã Xốp huyện Đăk Glei - Kon Tum. Việc dời làng là chuyện không có gì ngạc nhiên vì trước đây bà con Tây Nguyên có lệ du canh du cư. Thêm nguyên nhân nữa là thời chiến tranh các làng phải thường xuyên đổi dời chỗ ở để trốn tránh địch, để tổ chức thành làng chiến đấu. Sau ngày giải phóng, hưởng ứng chính sách định canh định cư, lại một lần nữa rất nhiều làng phải di dời về nơi ở mới. Rồi qua quá trình nhập vào tách ra của các đơn vị hành chính nên tên huyện, tên xã, tên làng cũng có nhiều thay đổi. Ví dụ làng Xốp Nghét bây giờ ông Rươn còn nghe đâu đó gọi là Xốp Dùi! Và xã Xốp hiện nay cũng là vừa tách ra từ xã Đăk Choong… Ông Rươn nhớ có hơi lẫn lộn nhưng gần đúng sự thật, vì qua điện thoại, nhà văn Nguyên Ngọc cho biết chính là làng Xốp Dùi, nhưng bởi sáng tác nên ông đã đổi tên thành Man.

Đoàn làm phim tư liệu cho chương trình “Từ trang sách bước ra đời thật” của báo Khăn quàng đỏ, Mực tím, Nhi đồng từ thành phố Hồ Chí Minh (nhà thơ Nguyễn Thái Dương, đạo diễn Vũ Hùng…) trông rất lơ mơ khi hỏi chúng tôi (tôi và Văn Công Hùng ở Hội Văn nghệ Gia Lai cùng đi) rừng xà nu đâu để quay vài trường đoạn. Chúng tôi chỉ vào đôi vạt rừng thông lưa thưa buồn bã, bảo đấy là rừng xà nu. Các vị “người thành phố” lộ vẻ ngơ ngác ngỡ ngàng! Thì ra xà nu cũng là cái tên có lẽ do nhà văn sáng tạo! Đấy chính là cây thông ba lá (là nghe nói thế chứ cũng không rành hết các chi họ nhà thông!), người dân tộc Jẻ bản địa gọi là Loong Rúh, người Kinh gọi là cây Ngo. Điện thoại hỏi nhà văn Nguyên Ngọc, được ông bảo xà nu là cách gọi của người Xơ-đăng nhánh Tơ-drá. Đem điều này hỏi ông A Jar, nhà dịch sử thi và nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên, người dân tộc Tơ-drá chính hiệu, thì lại bảo dân tộc ông không gọi xà nu mà gọi là cây Hơ-ngua! Có lẽ do âm “ngua” gần với “ngo” nên người Kinh gọi chệch theo là cây Ngo! Loài cây này chứa nhiều nhựa thơm, dùng để giữ lửa, nhóm lửa là tốt nhất nên bà con rất quý! Thực hư thế nào chắc phải chờ tìm hiểu tiếp!

Câu văn đẹp “Những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời” là tả rừng của những… ngày xửa ngày xưa. Ngày nay nạn phá rừng đã khiến cho rừng xà nu nơi đây trở thành nham nhở, thưa thớt, hoang tàn! Còn một đoạn văn đẹp nữa trong truyện viết rằng: “- Tnú lại ra đi. Cụ Mết và Dít đưa anh ra đến rừng xà nu bên con nước lớn. Trận đại bác đêm qua đã đánh ngã bốn năm cây xà nu to. Nhựa ứa ra ở những vết thương đang đọng lại, lóng lánh nắng hè. Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắc như những mũi lê!” Vâng, đúng thế, sức sống truyền đời của xà nu (hay ngo, hay thông) là mãnh liệt, ghê gớm như thế thật. Nhưng đó cũng chỉ là chuyện… ngày xưa! Vì ngày nay dưới lưỡi cưa oan nghiệt và ngọn lửa bạo liệt của nạn phá rừng tàn bạo từ đủ các thành phần xã hội thì khó còn thấy lại được cảnh tượng ấy ở quanh vùng này nữa! Để tìm lại bóng dáng gần giống “nguyên mẫu” rừng xưa như nhà văn mô tả, chúng tôi phải dẫn đoàn ngược đường đến khu sinh thái Măng Đen thuộc huyện Kon Plong ở mé Đông Trường Sơn, nơi còn lưu giữ được những vạt rừng xà nu nguyên vẹn nguyên sơ để quay mấy thước phim làm tư liệu, minh họa cho những trang sách “Rừng xà nu”!

Mới hay từ trang sách bước ra cuộc đời là cả một bước dài với lắm sự không ngờ và thú vị!


Kon Tum, 5-2010

Tạ Văn Sỹ

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác