Về đồng ôm bó cỏ may...

Đi khắp các nẻo quê, nơi nào cũng bắt gặp bạt ngàn hoa cỏ dại. Những loài cây mặc nhiên tự tại, nhiều khi không sắc không hương mà vẫn ghi trong lòng người và lữ khách tình cảm yêu mến.

Về đồng ôm bó cỏ may...  - ảnh 1Xa rất xa

Dấu chân ấu thơ chìm trong cỏ dại

Không thể ngược thời gian, tìm lại tuổi mình

Cánh diều nối dây chênh chao chiều gió

Tuổi lên mười bay lên trời xanh 
                           (Xa rất xa - Nguyễn Đức Mậu)

Nhờ trời phú, cỏ hoa quê có thể mọc bốn mùa ở mọi nơi mọi lúc, từ chỗ lún phún góc tường nhà, hàng rào, bờ giậu cho tới líu ríu ven đường ngõ, lượn quanh hồ ao, chạy từ nương dâu sang giồng khoai, ruộng lúa, ngoi từ bờ sông lên triền đê, vượt đỉnh gò đồi trượt xuống lũng vực. Dưới cái nắng oi ả con đường trở nên mát dịu, êm ái hơn trong vạt cỏ hoa.

Cỏ dại đồng quê có nhiều chủng loại như cỏ may, cỏ gấu, cỏ trâu, cỏ gà, cỏ bấc, cỏ mật, cỏ mần trầu, cỏ năn, cỏ lác, cỏ lam, cỏ hồng, cỏ bạc, cỏ tiên, cỏ giọt lệ - cườm thảo… Sở dĩ chúng được gọi như vậy vì hình dạng đặc biệt và lợi ích đáng kể: Cỏ mật- mùi vị ngọt ngào/ Cỏ sữa- nuôi trẻ lớn mau hàng ngày/ Cỏ gà- gáy sáng thật hay/ Tinh mơ trở dậy cầm tay ra đồng/ Cỏ gấu nghe tên dữ dằn/ Cỏ tranh bức vẽ xanh rờn lá cây/ Cỏ may thì lại khéo tay/ Vải đem khâu lại thành ngay áo quần (Các loài cỏ - Phạm Thị Thu Hoài).

Trong các thứ cỏ, lau thuộc loại lớn nhất, từ cọng đến ngọn cao hơn hai mét. Trừ tháng lạnh, lau xanh tốt quanh năm, vào xuân hoa nở đến đông kết hạt. Trước khi chín rụng, bông lau đổi màu nhiều lần, từ phớt hồng sang xám, bạc rồi trắng, hạt dính trên cọng rất lâu. Lau luôn đứng trơ trơ, vì thế văn học nghệ thuật đã coi đây là biểu tượng của tự do và khát vọng, cũng xem những bông hoa trắng tượng trưng cho sự trinh tiết và thánh thiện; những cây ven mặt nước, sườn đồi là hiện sinh của vẻ đẹp hắc hiểm: Hoa lau/ Như chưa có loài hoa nào dại hoang đến thế/ Kiêu hãnh miền sỏi đá/ Bất cứ đâu/ Nơi chân trời góc bể/ Tự bung mình cho sự sống mai sau (Hoa lau - Trần Lâm Bình). Từ xưa, lau đã là trò chơi quen thuộc của trẻ thơ: Nắng tháng tư tinh nghịch/ Trắng một mầu cỏ lau/ Ta kéo chiếc mo cau/ Em ngồi sau khúc khích (Cỏ lau - Đặng Thiên Sơn), là nhánh hoa ép trong trang vở gợi nhớ thời niên thiếu, là kỷ vật của tình yêu những buổi trai gái hái tặng ngỏ lời ước hẹn, và cũng là điều để trách ai ra đi mà không trở lại: Em đứng mãi giữa muôn ngàn lau sậy/ Sóng nhấp nhô sóng thổi bạc mái đầu/ Anh có biết chiều nay bông lau nở?/ Bông rất dài mà đời rất ngắn/ Sao anh không vội đến tìm nhau? (Đi về phía hoàng hôn - Lê Nguyễn Trâm Ca). Lau cũng là nỗi nhớ của người mẹ nơi quê nghèo ngóng đứa con đi làm ăn xa: Thà thôi lau cỏ hiên nhà/ Một đêm trắng xóa mẹ già chờ con (Cỏ lau - Trần Hoàng Vy).

Về hoa dại bụi bờ có thể kể đến hoa trinh nữ, mua, sim, dã quỳ, roi ngựa, bồ công anh, mõm sói, bạch hạc, chua me, những cây gia vị hoang như đay, riềng, gừng, nghệ, xương sông, nhọ nồi… Trong đó hoa bìm nổi bật nhất. Cây giống như những làn sóng nhấp nhô nhờ hàng trăm nụ tim tím rung rinh và lấp lóa, hoa nở xòe như chiếc đèn cù, cái loa phóng thanh chĩa về muôn ngả. Vì vẻ xinh tươi, hiền hòa ấy, phụ nữ thường nhuộm khăn áo theo màu hoa, thanh nữ cũng hay túm tụm bên luống hoa vui chơi, tâm sự thể hiện nét đằm thắm quê mùa: Bỏ quên lối nhỏ triền hoa/ Bìm bìm hoa dại tím tà áo thôn/ Trống tuồng chiều gõ bồn chồn/ Bỏ cơm quên áo để hồn đẩu đâu (Hồn quê - Nguyễn Tấn On).

Do sống hoang dã, cỏ hoa quê có rất nhiều đặc tính thú vị, như rễ có thể đâm sâu vào lòng đất hút nước ngầm, lá dày chống chịu mưa nắng, cây cũng trổ nhiều hoa, ra nhiều quả, kết nhiều hạt. Mỗi mét đất ẩn chứa hàng triệu loại hạt. Khi nắng gắt, đất cứng, hạt nằm im nhưng khi mưa to, đất mềm thì cựa quậy nảy mầm, chen lấn um tùm trở thành những trảng, rừng rực rỡ: Kiên nhẫn ngàn đời cỏ hoa lặng lẽ/ Chăm chút bên đường làm đẹp lối người qua/ Ta tất bật chẳng mấy khi nhìn xuống/ Dẫu đơn sơ hoa nở chẳng lơ là (Hoa cỏ bên đường - Thu Nguyệt).

Thời điểm cỏ hoa quê sinh sôi tràn trề là mùa xuân: Tháng giêng ấm áp cỏ gà/ Nhú mầm tấp tểnh đòi ra hội làng/ Mưa rào sạch lối đường ngang/ Cho em đi chợ mở hàng sớm mai (Lục bát tháng giêng - Phạm Văn Tình); Vạt cỏ qua một đêm/ Trải nắng vàng lóng lánh/ Cỏ xanh non mơn mởn/ Trải lượt là bãi sông (Buổi sáng đầu xuân - Ngô Thị Thục Trang).

Mỗi bông hoa dại cũng chứa nhiều mật ngọt hơn cây vườn, khi chúng ra hoa là ong bướm rập rờn, mê mẩn. Những cây bụi luôn nở hoa sớm, hấp dẫn bởi vẻ đẹp bất ngờ. Nhiều loài có cấu tạo kỳ lạ, như cỏ đậu chỉ cao dăm centimét, hoa và quả bé tí xíu như chiếc kim khâu. Chua me có lá giống ba trái tim non chụm đầu và hoa là những chiếc chuông nhỏ lúc lắc trên một cọng dài như sợi tóc. Gọng vó ngoài tự quang hợp, đầu lá còn treo những cái giỏ xinh xắn bằng móng tay út chứa đầy dịch lỏng để dụ kiến, muỗi, ruồi, bọ rơi xuống rồi tiêu hóa. Trinh nữ khi bị chạm, phiến lá khép lại như cô gái e thẹn. Bồ công anh có hoa mà mỗi bông gồm hàng trăm đến nghìn đài nhỏ, khi khô xù lên như cục bông chứa những sợi lông mang hạt, gió mạnh là tung bay như màn sương giăng giăng…

Bốn mùa, đồng cỏ hoa quê đều là những bức tranh tuyệt đẹp. Buổi sáng ẩm ướt, thường thấy trên lá những giọt sương long lanh. Buổi trưa hanh khô, ong bướm dính đầy hạt phấn chao lên lượn xuống. Lại có những con kiến mình gầy bụng to đen nhánh leo qua leo lại không biết bao lần; những chú chim sâu, chích bông, họa mi nhí nhảnh rượt đuổi đàn châu chấu, muồm muỗm béo tròn: Giọt sương ngậm đầy ngọn cỏ/ ơ kìa, đàn bướm bay ra/ Líu lo ban mai chim hót/… Thì ra tháng giêng đã về (Tháng giêng - Phạm Văn Mỹ). Ở bãi sông, cỏ dại thường cao ngợp đầu người, che kín những túp lều xiêu vẹo, những con đò con thuyền gác mái gối đầu say sưa. Thỉnh thoảng chợt gặp những nấm mộ đất nện, mộ gạch, ốp đá hay sành sứ, những ngôi miếu hoang tàn, những hố sâu trũng lòng giếng hoặc lô cốt, ụ súng: Cỏ non bãi pháo bờ nam ngạn/ Hoa dại ken dày ụ súng xưa/ Nhánh mạ tay em vừa đặt xuống/ Đuôi gà phơ phất bóng xuân mưa (Xuân ở Hàm Rồng - Lương Hữu). Mỗi nơi vương vấn một mùi hương. Từ bốn phía gió thổi mang theo âm hưởng xa vẳng. Gió cũng khiến đồng bãi nghiêng ngả, lạt xạt. Trời về tối, những vạt cỏ chia không gian thành những khoảng lặng cô quẻ, ở vài điểm tự nhiên le lói những đốm sáng chập chờn và có những bóng đen lầm lũi. Càng dấn sâu vào nơi đây càng lạc vào mê lộ mông lung: Hoàng hôn gió thổi ầm ào/ Dòng sông nghìn dấu hỏi bông lau (Nghìn dấu hỏi - Bùi Xuân).

         Về đồng ôm bó cỏ may...  - ảnh 2

Trẻ quê là đối tượng gắn bó với cỏ hoa dại nhiều nhất. Cũng bởi vì từ nhỏ, nhiều em đã phải đi chăn trâu cắt cỏ. Nhân lúc rảnh rang vừa ôn bài vừa rêu rao ca hát và bày trò chơi. Ví dụ thi cưỡi trâu chạy trên đồng, hái bông lau làm cờ tập trận, bịt mắt bắt dê, thả diều, đá bóng. Cũng có khi lăn lê bò toài, buông theo sườn dốc lộn xuống dưới. Không thèm phủi mẩy cỏ vương trên tóc và quần áo, mấy đứa con gái ôm bụi may tạo dáng cười nắc nẻ, ghé mũi sát bông mua hít hà, miệng tru choa phồng thổi cho những hạt cỏ khô bay xa. Mấy đứa con trai thì ngắt cỏ trâu buộc ngang đầu cọng kéo xem cỏ đứa nào đứt gãy. Cũng có lúc đuổi theo đàn niềng niễng, cào cào vụt chúng rơi lả tả rồi đem xâu que nướng ròn, hoặc giả đi bắt chim non, nhặt trứng, đào khoai nhóm lửa đun nấu ăn chia. Khi cần nghỉ ngơi cả bọn nằm kềnh, hồn nhiên bá cổ hát đồng dao ngây ngô, chẳng hạn: Củ ấu có sừng, bánh chưng có lá/ Cắt cỏ có liềm, câu liêm có lưỡi. Có đứa đang hát thì buồn ngủ lăn ra ngủ, bị đám bạn nghịch ngợm lấy cọng ấu ngoáy lỗ mũi, gan bàn chân, đứa kia bị nhột vùng dậy đuổi theo. Tiếng cười của lũ trẻ trong trẻo vang xa: Xa xa trên cánh đồng/ Trâu thung thăng gặm cỏ/ Bạn bè em ở đó/ Cùng vui đùa say sưa (Vần thơ cô giảng - Nguyễn Thị Huệ).

Sau buổi làm đồng, người lớn cũng thích ra triền sông, chân đê ngả lưng mướt màn cảm nhận hơi mát và hương thơm ngọt nựng thấm vào da thịt giúp thân thể khoẻ khoắn, nhanh nhẹn quên nỗi nhọc nhằn. Trai gái đến tuổi yêu cũng kéo nhau ra đây hẹn hò, thề nguyền, trao tặng những chiếc nhẫn cỏ, vòng hoa kỷ vật. Ở một số vùng quê còn dùng cỏ hoa cho các nghề đan lát, thêu thùa, vẽ tranh, khảm hoặc mở dịch vụ du lịch đưa những đồng cỏ rừng hoa thành tụ điểm vui chơi văn hóa như ngắm cảnh, leo núi, đóng phim, chụp ảnh, cắm trại: Khóm tre khóm trúc la đà/ Dải đê xanh cỏ chân qua tháng ngày/ Hoa thơm đọng mật ong bay/ Đồng xanh sóng lúa mê say lòng người (Nét quê - Nguyễn Tiến Bình).

Ai cũng yêu cỏ hoa dại quê hương. Đứng trước chúng đều thấy trìu mến. Khoảnh khắc dẫm lên bãi cỏ, ngập mình trong màu xanh bao la là lúc trở về với bản thể hiền hậu, đáng yêu: Ta để lại đầy vơi hương gió/ Biêng biếc buồn lá cỏ ngủ với mơ/ Thôi xa vắng đi về miền cỏ thức (Để dành - Vũ Thu Huế).

Những người tha hương luôn muốn về thăm nhà. Trên con đường quen, uốn khúc rợp màu hoa cỏ, không ít người sống dậy hồi ức tuổi nhỏ tinh nghịch dại khờ: Ta nay về đồng/ Về đồng làm trẻ chăn trâu chân không bên sông/ Sáo diều vi vu cỏ lau se sắt (Về đồng - Uông Thái Biểu); Con đường mồ côi loang lổ những phân trâu/ Sắc cỏ úa như lời nguyền thuở trước (Con đường tuổi thơ - Trần Thị Ngọc Lan). Cũng nhớ lại những hình ảnh, tiếng nói thân quen của cha mẹ, bạn bè, thầy cô, xóm giềng: Qua ao sen cũ tần ngần/ Thương người bạn ấy tảo tần nắng mưa/ Cỏ non xanh cả giấc mơ/ Bóng chiều phủ khói lưa thưa mái nhà (Thăm quê - Đuyên Hồng). Vào tiết thanh minh, con cháu lại ra đồng viếng mộ, rẫy cỏ tỏ lòng hiếu thảo tưởng nhớ tiên tổ: Con về nhặt lá vàng rơi/ Cỏ xanh bia mộ chơi vơi gió chiều/ Âm thầm bóng đổ liêu xiêu/ Khoảng trời thu một bóng chiều chao nghiêng (Bên mộ ngoại - Nguyễn Nguyên).

Trân trọng tự nhiên, dân quê không bao giờ chê trách hoa cỏ dại. Xưa kia, người dân còn khiêm tốn tự xem mình chỉ là cỏ dại hoa hèn. Đến nay, tuy cuộc sống xô bồ, nhiều người vẫn giữ được đức tính giản dị, chan hòa: Người đi phong lữ tiêu điều/ Giá sương gối chiếc đổ liều vào thơ/ Mong manh phận cỏ ơ hờ/ Nắng mưa tích cực vỗ bờ vai xanh (Bài thơ cho một người - Nguyễn Tuất). Người già luôn khuyên răn thế hệ trẻ về đạo làm người: Trâu ta ăn cỏ đồng ta/ Chớ sang ăn cỏ lân la đồng người/ Đồng ta xấu cỏ non chồi/ Đồng người cỏ tốt mà chồi không non (Ca dao).

Nhân buổi lao động, nghỉ tay, trai gái ngày xưa thường tỏ tình, trêu chọc bằng những lời bông đùa ý nhị: Cô kia cắt cỏ một mình/ Cho anh cắt với chung tình làm đôi/ Cô còn cắt nữa hay thôi?/ Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng; Hỡi cô cắt cỏ ven sông/ Có muốn ăn nhãn thì lồng sang chơi (Ca dao).

Giống như cha mẹ, các bạn trẻ hôm nay vẫn giữ thói quen giao lưu tụ tập trên đồng bãi, dạo đầu cho một tình bạn, tình yêu trong sáng: Ngày xuân năm ấy về quê/ Ai đưa tôi đến triền đê cỏ đầy/ Hoa găm quần đến kín dày/ Nụ cười-hỏi bạn-thơ ngây cỏ gì?/ Bỗng nghe trong gió thầm thì/ Cỏ may đan dệt lời thề đó anh (Cỏ may - Trần Hà). Bên cỏ hoa, dường như câu nhớ lời yêu trở nên dễ dàng hơn: Anh thương lắm một loài hoa cỏ dại/ Nhỏ nhoi một mình, heo hắt bụi đường xa/ Sao em cứ dùng dằng, vương vấn bước người qua? Chạm vào chân ai, níu vào ai hôm ấy (Hoa cỏ may - Khải Nguyên). Và cũng trôi chảy cho cả lời ướm hỏi, trách cứ: Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may/ áo em sơ ý cỏ găm dầy/ Lời yêu mỏng mảnh như màu khói/ Ai biết lòng ai có đổi thay? (Hoa cỏ may - Xuân Quỳnh); Lâu rồi chẳng thấy anh sang/ Cỏ trời thôi thắm, hoa đồng kém tươi (Ca dao).

Cũng có người đa cảm, chợt buồn rồi dự cảm mong manh: Ta gặp nhau một thoáng rồi xa/ Bờ ảo vọng rợp đầy hoa cỏ/ Hoài mong chi lời em theo gió/ Bởi anh chưa một lần- rằng có trong em (Chưa một lần rằng có trong em - Nguyễn Đức Tiên); Gạn chi nhau, đục rồi trong/ Ôm thẳm sâu, tiếng võng lòng, khát khao/ Đi tìm câu hát em trao/ Bông lau mệt lả, chen vào gió mưa (Lời ru tháng ba - Nguyễn Quang). Thế nhưng, với sự chân thành, mộc mạc, tin vào tình yêu ai đó vẫn thủy chung, đợi chờ: Trời vào hạ bây giờ đầy nắng/ Em gửi cho anh nỗi buồn xa vắng/ Trên li ti hoa cỏ đồng quê/ Lòng những mong buổi đón anh về (Hoa cỏ - Nguyễn Thị Minh Lộc).

Cỏ hoa là biểu tượng của tình yêu, hạnh phúc, khát khao và hoài bão. Nhờ vẻ mảnh mai, hoang sơ và khả năng làm sáng rực những ngả đường, hoa cỏ còn là một nét đẹp đặc trưng của làng quê.

Chu Mạnh Cường

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác