Văn chương Hậu hiện đại, nhìn từ góc độ sáng tác

(Toquoc)- Để khép lại chuyên đề đối thoại về văn chương hậu hiện đại Việt Nam, báo điện tử Tổ Quốc xin giới thiệu ý kiến của nhà văn Lê Anh Hoài, anh là một nhà văn- nhà báo hiện đại và các tác phẩm của anh phần nào minh chứng những điều anh trao đổi với chúng tôi.


Văn chương Hậu hiện đại, nhìn từ góc độ sáng tác  - ảnh 1
Nhà văn- Nhà báo Lê Anh Hoài (ảnh TTVH)
* Nhiều người cho rằng, cho đến thời điểm này, về cơ bản cảm thức hậu hiện đại ở ta vẫn chưa trở thành máu thịt của người sáng tác, anh nghĩ sao về vấn đề này
?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Cảm thức hậu hiện đại không phải là cái đại trà dành cho mọi người sáng tác. Chính vì thế, đương nhiên, "về cơ bản cảm thức hậu hiện đại ở ta vẫn chưa trở thành máu thịt của (mọi) người sáng tác" là một nhận xét đúng và luôn đúng.

Ngay trong nhà văn hậu hiện đại Việt Nam, tôi nghĩ cái mức gọi là “máu thịt” có lẽ cũng chỉ có ở rất ít nhà văn, nhà thơ, nhưng hiện nay, đã có những người lấy sáng tác hậu hiện đại làm con đường của mình. Bản thân hậu hiện đại (cảm thức/ chủ nghĩa) luôn đứng ở phía ngoại vi, phía phi chính thống và phía thiểu số. Bi vậy nên những người viết thực sự hậu hiện đại luôn ít.

Ở những nước dân chủ văn minh hơn, công chúng có thể chấp nhận được rất nhiều khuynh hướng/ hệ mĩ học sáng tác khác nhau thì nhà văn hậu hiện đại vẫn ít và họ vẫn thuộc loại tác giả khó bán sách (đồng nghĩa với ít công chúng hơn những nhà văn "chính lưu").

* Nếu một nhà phê bình nào đó xếp anh vào loại hình nhà văn hậu hiện đại, rồi tiến hành định giá, định vị các sáng tác của anh trong cái vùng ấy, anh cho rằng cách làm đó đã thoả đáng chưa?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Tôi viết khá nhiều thể loại và khi viết tôi không muốn quyết định và cũng không thể viết như là mình chỉ theo một chủ nghĩa nào đó.

Tuy nhiên, khi viết tiểu thuyết Chuyện tình mùa tạp kỹ (NXB Đà Nẵng 2007, sắp tái bản phục hồi lại tên ban đầu là Tìh êu) thì tôi đã định hình về chủ nghĩa hậu hiện đại, tôi thấy tinh thần của nó hợp với tôi. Nhận xét là quyền của nhà phê bình, nhưng cũng có thể xuất phát từ tâm thế người viết nên cuốn tiểu thuyết này được một số nhà phê bình, nổi bật và tập trung là Inrasara nhận định rằng tác phẩm mang tâm thức và sử dụng thủ pháp hậu hiện đại. Tôi thấy nhận định đó khả chấp.

Những cái tôi viết sau đây, có thể cũng sẽ có “hàm lượng” hậu hiện đại cao. Nhưng tôi xin nhắc lại, nó đi ra từ tâm thức chính tôi, chứ không phải tôi đang tuyên truyền cho một chủ nghĩa.

* Về mặt lí luận, thì các nhà văn hậu hiện đại đều rơi vào tình trạng khủng hoảng về thế giới quan. Còn anh thì sao?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Lý luận nào? Tôi ngờ rằng đây là lý luận của phái chính thống, trung tâm. Dưới cái nhìn của họ thì vậy. Điều này vô cùng dễ hiểu, bởi họ tuân phục một hệ thống đã được xác lập, vốn ổn định và thậm chí còn khá vững chắc, và họ không gặp vấn đề gì về cái gọi là thế giới quan bởi họ đã sống chìm lút trong thế giới của họ. Như đa số cá không biết những thế giới không nước.

Thế giới, đối với tôi đa dạng hơn, biên độ lớn hơn và đa cực hơn so với những người đang ngồi và phán về khủng hoảng thế giới quan. Tôi có thể nói thế.

* Nếu đồng nhất tính chất “khủng hoảng” trong cảm quan sáng tạo của chủ thể với “sự đánh mất những chuẩn mực thông thường về chân thiện mĩ, những chuẩn mực có uy tín và được lí trí chấp nhận” (A.Megill), thì sự mất mát của anh và “những người cùng số phận” với anh, cần hình dung thế nào cho đúng?

Nhà văn Lê Anh Hoài: "Những chuẩn mực có uy tín và được lí trí chấp nhận" chính là những điều đáng hoài nghi dưới mắt nhà văn hậu hiện đại. Và ở đây, tôi e rằng cần thay thế từ "đánh mất" có vẻ rất xót xa xoa đầu (sic!) bằng từ "đả phá". Nói một cách nghiêm xác thì đây chính là tính phản biện của chủ nghĩa hậu hiện đại (tôi thích dùng từ phản biện). Và nhà văn hậu hiện đại thực sự viết với ý thức đó. Cần nói thêm, đây là phản biện ở tính hệ thống và toàn cục chứ không phải ở quy mô nhỏ, tầm mức thấp.

Đó là suy nghĩ cá nhân tôi, tôi xin phép không dám đại diện cho bất cứ ai. Có thể có những người “mất mát”? Xin anh cứ đi hỏi từng người. Riêng tôi, nhà văn hậu hiện đại được thêm chứ không mất mát gì cả! Nếu có mất mát là mất tính cố chấp và bảo thủ trong tư duy, sự trì trệ và ứ đọng trong tinh thần, xu hướng một chiều và lạc hậu trong phương thức thể hiện.

* Hoàn cảnh văn hoá, xã hội nào đã đẩy anh và các tác giả hậu hiện đại cùng thời với anh đến chố “bất tín nhận thức” vậy?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Bất tín nhận thức hay bất tín lý trí thuần túy là điều mà Immanuel Kant (1724-1804) đã đề cập từ rất lâu. Điều này, sau đó được các nhà lý thuyết hậu hiện đại như Jacques Derrida (1930-2004), Jean-François Lyotard (1924)… phát triển.

Nói như vậy không phải nói chuyện “Tây”, mà để nói nguồn cơn của vấn đề.

Còn ở ta, tư tưởng và triết học vốn không phát triển theo hướng có “lý trí thuần túy” đặng đem ra “bất tín”, nhưng xã hội Việt Nam vẫn bị ảnh hưởng nặng nề của một vài tín điều du nhập. Người Việt vốn có niềm tin khá thô sơ, nhưng mạnh mẽ, điều này đủ để hình thành những giáo điều khá điển hình.

Thật ra, một giáo điều vốn không có tội tình gì. Vấn đề ở chỗ, khi nó đã xơ cứng, mọt ruỗng mà lại vẫn được đa số người sử dụng để khăng khăng áp chế lên đám đông hay ngăn trở tinh thần phiêu lưu sáng tạo, thì phản ứng với nó, theo tôi là điều đương nhiên.

* Xin anh cho biết, “chiến lược tự sự” của anh hay nguyên tắc cơ bản nhất mà anh luôn sử dụng để tổ chức văn bản nghệ thuật (hậu hiện đại)? Phải chăng anh chủ định chối bỏ tất cả những qui tắc, những giới hạn mà truyền thống văn hoá, văn học trước đây đề ra? Ví dụ nào tiêu biểu cho điều đó?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Tôi không hề chủ định chối bỏ tất cả những qui tắc, những giới hạn mà truyền thống văn hoá, văn học trước đây đề ra. Nên nhớ rằng, nhà văn hậu hiện đại phải rất hiểu cái mà mình đang phản biện. Điều đó có nghĩa, anh ta còn “truyền thống” hơn nhiều người vỗ ngực truyền thống.

Phản biện thì không có nghĩa là phá bỏ tất cả. Cái tôi mong muốn là mở biên, vượt qua giới hạn (mà cái chính thống quy định) đang hiện hành; gợi ra tính bất toàn của mọi khuôn định đang được áp đặt lên cuộc sống con người đương đại (mà cái chính thống thì luôn an ủi bằng những hình mẫu).

Khi viết, tôi chú ý đến những trường hợp ẩn chứa trong đó xung đột giới hạn, xung đột chủ lưu - phụ lưu, xung đột đa số - thiểu số… dĩ nhiên xung đột này phải là xung đột mang hoàn cảnh hậu hiện đại dù bề ngoài những câu chuyện nó có vẻ “tầm phào, vặt vãnh”. (Mà càng “tầm phào, vặt vãnh” lại càng tốt).

Cụ thể, một ví dụ: tôi rất quan tâm đến dòng “thơ dân gian đương đại” kiểu như của Bút Tre và gần đây là Nguyễn Bảo Sinh, tất nhiên của vô số tác giả khuyết danh nữa. Họ có một tinh thần giải thiêng, giải trung tâm, hoài nghi những “chân lý” và thần tượng rất tuyệt vời. Về thủ pháp giễu nhại, họ là bậc thầy. Nhân đây tôi cũng nói thêm, tôi cho rằng ở miền Bắc, Bút Tre chính là nhà thơ hậu hiện đại đương đại đầu tiên dù có thể ông không tự ý thức rõ được việc mình làm.

Trong cuốn tiểu thuyết của tôi, tôi đã lồng vào những câu thơ như vậy. Một ví dụ nữa, tiểu thuyết chương hồi cổ điển nêu cao trật tự, nhưng tôi cũng dùng chương hồi mà chẳng có trật tự nào. Đây không phải là làm ngược, mà mở thêm những chiều kích mới.

* Chúng ta đều biết rằng, “các nghệ sĩ hậu hiện đại đã truyền đạt cảm quan của mình về tính hỗn độn của thế giới bằng tính hỗn loạn được tổ chức một cách cố ý trong tác phẩm nghệ thuật”. Nhưng có không ít độc giả băn khoăn rằng, họ chẳng biết làm thế nào để nhận biết được “tính hỗn loạn được tổ chức một cách cố ý” với “tính hỗn loạn của sự tuỳ tiện, vụng về”. Từ góc độ của người sáng tạo, anh có thể chỉ cho độc giả cửa ngõ đến với văn chương Hậu hiện đại không?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Hướng dẫn cách đọc văn chương, theo tôi là một việc làm kỳ cục. Tuy nhiên vì anh đã hỏi, thì theo tôi, muốn phân biệt được đề cập ở trên, độc giả cũng phải được trang bị để có phần nào cái “cảm quan về tính hỗn độn của thế giới”. Ở trường hợp “hỗn loạn được tổ chức một cách cố ý”, thực chất nhà văn hậu hiện đại chỉ tái hiện những gì anh ta thực sự cảm nhận. Còn ở trường hợp “hỗn loạn của sự tuỳ tiện, vụng về”, nhà văn cố gắng tạo ra một câu chuyện hoàn hảo, nhưng không thành công.

Cần nói, hệ thống giáo dục của ta nói chung và giáo dục về văn chương nói riêng lại không hề quan tâm đến “tính hỗn độn của thế giới”. Tất thảy đều nhất nhất vẽ ra một thế giới nhất thể, có nguyên nhân - kết quả, có đầu - cuối, tròn vành vạnh.

Thế nên, có những độc giả “băn khoăn”, theo tôi đã là điều tốt. Sợ nhất là những độc giả, và nhà phê bình, không cần băn khoăn gì hết, họ dùng các chuẩn của hệ thống mà họ tin tưởng rằng chỉ có nó, phang thật lực vào cái không giống họ!

* Tôi nhớ, I.P.Ilin từng nói: chủ nghĩa hậu hiện đại có tham vọng đóng vai trò lí thuyết chung cho nghệ thuật đương đại nói chung và cảm quan hậu hiện đại nói riêng. Vậy, anh và các tác giả cùng khuynh hướng sáng tạo với mình cũng có tham vọng chiếm lĩnh và độc quyền văn đàn đương đại chứ?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Tôi nghĩ, nên xem câu nói của I.P.Ilin trong văn cảnh nào, và thời điểm nào, vì gần đây, chủ nghĩa hậu hiện đại đã phát triển rất mạnh mẽ theo nhiều chiều hướng, đã có những nhận định nên cập nhật. Một điều nữa, nhận định của các nhà lý thuyết đôi khi khá xa với thực tế sáng tác.

Tuy nhiên, đúng là hoạt động nghệ thuật đương đại (đương đại, ở đây là một “tính” - khái niệm dùng trong nghệ thuật), ít nhiều đều có bóng dáng hậu hiện đại. Điều này, theo tôi rất tự nhiên, chứ không phải do “tham vọng” của một ai.

Riêng tôi, và theo quan sát của tôi, các tác giả sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại ở Việt Nam mà tôi biết không hề có tham vọng chiếm lĩnh và độc quyền văn đàn đương đại. Nên nhớ rằng đa số sáng tác mới ra lò không phải là văn chương có khuynh hướng đương đại. Và, dù mới được viết chưa ráo mực, những sáng tác này vẫn mang tinh thần cũ kỹ.

Vì sao ư? Số phận của hậu hiện đại là đứng về phía ngoại biên, phi trung tâm; phía cá nhân, thiểu số, phi chính thống… phía cái riêng, phi hệ thống v.v… v.v Nếu nó “chiếm lĩnh” và mưu toan trở thành phổ quát thì nó đâu còn là nó nữa.

* Thưa anh, trong văn chương đương đại của ta, những tác giả nào chỉ mới chạm tay vào hậu hiện đại và những cây bút nào đã thực sự mang chở cảm thức hậu hiện đại? Nên lí giải thế nào đối với các hiện tượng chưa “chín đều” đó?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Với ý thứ nhất, tôi nghĩ nên tham chiếu ý kiến của các nhà phê bình thực sự quan tâm và am hiểu tình hình văn chương hậu hiện đại. Ở trong nước, đó là Inrasara, ở ngoài nước, đó là Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc-Tuấn. Với ý thứ hai, tôi nghĩ việc “chưa chín đều” là chuyện đương nhiên. Đây là các nhà văn chứ có phải là một vườn cà chua lai thương phẩm đâu. Hậu hiện đại là một mảnh đất mênh mông, đưa ra một tiêu chuẩn nào đó, rồi bình xét các nhà văn là “chín” hay chưa, tôi thấy không ổn.

* Tựu trung, người đọc làm thế nào để phân biệt được một sáng tác nào đó thuộc loại hậu hiện đại với một sáng tác thuộc kiểu tân cổ điển?

Nhà văn Lê Anh Hoài: Sự phân chia về lý thuyết thì luôn có vẻ sáng rõ, nhưng trong thực tế sáng tác, và đặc biệt với một văn bản cụ thể thì không phải lúc nào cũng rõ ràng.

Chủ nghĩa tân cổ điển tuyên bố: Cái đẹp đã trở lại! Nhưng đâu phải sáng tác hậu hiện đại thì toàn hướng về/ khai thác cái xấu xa và kinh dị. Với sáng tác hậu hiện đại, nhà văn và nghệ sĩ cố gắng đưa ra một cái nhìn khác về cái đẹp, mở rộng biên độ và chiều kích của cái đẹp.

Ở rất nhiều sáng tác của cả hai loại, người ta thấy điểm chung, đó là sự pha trộn, đa tạp, lưỡng phân. Nhưng khi hậu hiện đại tiếp tục chống lại nhất cực thì tân cổ điển lại đang nỗ lực xây dựng một cực dựa trên “cái đẹp”.

* Trân trọng cảm ơn anh.

Trần Thiện Khanh thực hiện


Ø Kỳ I. Câu chuyện về một kiểu cắt nghĩa xã hội (hay là chủ nghĩa hậu hiện đại như một hệ hình thế giới quan)

Ø Kỳ II. Một cái nhìn về thực tiễn văn chương hậu hiện đại

Ø Kỳ III. Đối thoại về con đường đi vào văn chương hậu hiện đại Việt Nam


Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác