Truyện ngắn của Lê Vũ Trường Giang

Trong ba truyện ngắn dưới đây, hẳn độc giả sẽ thấy không có gì nổi bật. Khi đọc chăm chú các sáng tác này, chỉ một điều duy nhất là chìa khoá mở cho mọi thắc mắc: tại sao lại cần đọc? đó là vì trong các truyện ngắn này là những trải nghiệm cuộc sống qua trang viết của một tác giả trẻ mà ở một chừng mực nào đó có thể chấp nhận được.

Truyện 1.

Chiến đấu với bầy ong


Tôi là thằng nổi tiếng nghịch nhất lớp. Trò tinh quái nào trong lớp, trong trường đều có mặt tôi. Cái trường tiểu học Thủy Châu bé nhỏ thấp thỏm núp dưới những hàng cây xanh, bóng mát trùm cả một khoảng lớn. Cũng cái trường này ngày ngày chứng kiến các "phi vụ khủng bố" của bọn con trai lớp tôi dành cho đám bạn gái và cả những đứa khác lớp.

Hôm nay tôi đến lớp muộn. Nhưng ngồi được một chút thì thằng Việt chạy lại chỗ tôi, rỏ vào tai những điều mà tôi nghe ra cũng thấy sợ. Số là sáng nay có hai thằng lớp bốn đi học bằng con đường tắt sau trường, không hiểu chúng chui bụi, lủi bờ thế nào mà va phải một tổ ong vò vẽ. Cả hai thằng bị đốt sưng cả mặt mày, tay chân nên phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Tình hình có vẻ nghiêm trọng lắm. Nhưng thằng Việt tò mò, nó rủ tôi ra đó xem sao. Tôi hỏi:

- Có ai ngoài đó không?

- Có, bọn lớp trên tụ tập cả ngoài ấy. Có cả bác bảo vệ nữa. Bác ấy đuổi mãi mà chúng chẳng đi- Việt trả lời.

- Ừ, thì ra xem sao.

Chúng tôi chạy ra sau con đường tắt. Nhiều cậu bé trạc tuổi tôi đứng chỉ chỏ vào một bụi cây cách các cậu dăm ba mét. Bụi cây đó nằm bên kia con đường Lầm (gọi thế vì nó có nhiều cây). Trường tôi hai mặt giáp đường. Mặt trước giáp với đường quốc lộ, mặt này giáp với con đường làng mang tên Lầm này. Thằng Việt chỉ tôi:

- Đó, đó cái tổ ong đó!

Tôi phát hoảng vì cái tổ ong to tướng. Nó to bằng cả chiếc nón lá, không, to bằng cả cái mâm ăn cơm mới đúng. Ngoài bụi cây, lũ ong bay đi bay lại cảnh giới trông phát sợ. Một thằng nào đó liều lĩnh cầm một cục đá chạy tới sát bờ rào, ném một phát thật mạnh vào bụi cây, trúng cả vào tổ ong. Tức thì, hàng trăm con ong bay ra, bay cả tới chỗ bọn chúng tôi đang đứng. Cả đám hãi quá, chạy ba chân bốn cẳng. Thằng nào chậm thì lũ ong cho ăn kim mất. Tôi cố chạy thật nhanh và thầm trách cái thằng manh động đó.

Được một lúc, đàn ong bay về tổ. Chúng tôi lại kéo ra xem, lại ném đá vào tổ, rồi lại chạy. Thằng nào thằng nấy mệt lử cả người nhưng vẫn thấy vui.

Ra chơi, chúng tôi lại tụ tập chơi lại trò chơi thú vị này. Cho đến khi, một thằng ném đá mà đứng quá gần tổ ong. Khi ong bay ra, nó chạy không kịp nên bị ong đốt cho mấy mủi. Thằng ấy khóc bù lu bù loa vì những vết sưng bắt đầu nổi lên trên khuôn mặt cậu ta.Chắc là nhức nhối lắm vì hắn cứ nấc lên từng hồi, hai tay cứ xoa xoa vào vết đốt. Bọn tôi giải tán ngay lập tức vì thầy giám thị và bác bảo vệ chạy ra dọa sẽ lập biên bản kỉ luật ai dám chơi trò này. Chúng tôi chạy tán loạn, để mặc cậu kia lúi húi, sợ sệt đi theo thầy giám thị vào phòng y tế mà cậu ta cứ tưởng là lên văn phòng giám thị.

Tôi nói với thằng Việt:

- Ê, chiều nghỉ học hai đứa mình lên rủ thêm vài thằng nữa lên chiến đấu tiêu diệt tổ ong này đi.

Thằng Việt hơi sợ nhưng nó cũng gật đầu:

- Ừ, đi thì đi. Tao rủ thêm thằng Xuân bên tổ ba nữa. Mấy cái trò này nó thích lắm!

*

Buổi chiều ba thằng bọn tôi tập trung tại nhà bà ngoại thằng Việt. Chỗ ấy không xa trường mấy, lại có chứa hẳn một kho vũ khí rất cần thiết cho bọn tôi. Việt đứng ở cổng đợi hai thằng tôi đến. Nó ngồi bên gốc ổi với một rá toàn là ổi to, thơm phức và một dĩa muối ớt đỏ choét. Ba đứa hí háu ăn, xem như là bữa tiệc khao quân. Ăn xong, bọn tôi vớ lấy mấy thứ gậy gộc, một túi da, cây ná thun mà thằng Việt đã chuẩn bị từ trước lén lút lên đường. Bà ngoại Việt hỏi đi đâu, chúng tôi nói là lên trường lao động, tiện thể đi bắn vài con chim. Bà tin thật lại còn dặn lo về sớm và dúi cho chúng tôi thêm một chai nước phòng khi khát mà uống.

Đến gần bụi cây có tổ ong, cả ba chúng tôi tập trung lại một chỗ. Tôi hơi có kinh nghiệm trong việc chiến đấu với lũ ong nên nói trước:

- Bọn mình phải kiếm lá cây mà phủ khắp người cho con ong tưởng cây mà không đốt. Bẻ thêm vài nhánh to cầm trước mặt mà làm lá chắn.

Xuân và Việt nghe tôi liền chia nhau đi bẻ cành, giúp nhau cột vào người. Mấy người qua đường thấy bọn tôi cứ nhìn nhìn, có người bịt mồm cười. Cả ba chúng tôi cũng cười, trông lại thằng nào chẳng khác như chú bộ đội mang lá ngụy trang, oai khiếp!

Thằng Xuân hả hê:

- Ngày xưa các chú bộ đội đánh Pháp, đánh Mĩ còn mình thì đánh bọn ong, thua gì!

Hai thằng tôi cười như nắc nẻ:

- Phải đấy! Phải đấy!

Tôi vớ cây ná thun ra đi từ từ tới bụi cây, lựa chỗ trống mà nhắm bắn. Thằng Việt đi sau, cẩn thận không kém gì tôi. Riêng thằng Xuân chạy đi kiếm vài cục đá to để chơi đòn kết liễu. Bọn ong bay nhì nhằng quanh tổ khi sáng, nay bám phục nơi cửa tổ như đang ngủ. Tôi thấy rõ ràng sắc vằn cam, đen của lũ ong. Chúng cụp cánh xuống, bò đi bò lại trên tổ. Thỉnh thoảng, mấy con ong thợ bay đi bay về làm bọn đang nằm, đang bám trên tổ động đậy bay ra loạn xạ cả lên. Cánh chúng đập vo vo, xè xè nghe như gió thổi.

Cách cái tổ độ ba, bốn mét, tôi giương ná lên, dây thun căng ra. Vút một cái, hòn đá bay như đạn bắn ra khỏi nòng súng đánh xào vào bụi cây. Thằng Việt cũng bắn theo tôi. Hai viên đá không trúng cái tổ nhưng làm bọn ong hoảng loạn. Chúng bay ra nháo nhác. Con nào con nấy không hiểu vì sao có đá từ đâu bay tới bụi cây. Tôi bảo thằng Việt ngồi xuống, lấy cành che kín người. Hai, ba con ong bay tới dò dò, lượn vòng một chặp rồi bay vào. Hai đứa một phen hú hồn. Rõ ràng là cái chiêu dùng lá ngụy trang che thân của tôi đã phát huy tác dụng. Bọn ong lại bám vào tổ. Lần này chúng cẩn thận hơn, cho vài chú lính bay lui bay tới tuần phòng.

Thằng Xuân trở về. Tay nó cầm nguyên mấy cục đá to tướng, to gấp chục lần mấy hòn sỏi ná thun. Nó nhe răng sún cười hai thằng tôi co cụm như hai bụi cây chết. Nó bảo:

- Tránh ra để đại bác khai hỏa. Mau!

Hai đứa tôi vùng dậy chạy lui, vừa chạy vừa lấy đá nhét vào cái đợn ná. Tôi vớ lấy đá từ tay Xuân cùng ném với cậu ta. Hai cục đá to bay vào bụi cây làm cành lá gãy rụng, gốc cây chao đảo. Thằng Việt cũng bắn được hai phát. Đến phát thứ ba thì ôi thôi! Ong không biết bao nhiêu con túa ra khắp ngã. Con nào con nấy như máy bay tiêm kích, đằng đằng sát khí lao về phía chúng tôi. Thằng Việt chạy trước. Nó quớ quá vất luôn cả ná. Tôi thì chẳng sợ, chạy qua một bụi cây góc đường,bình tĩnh ngồi xuống. Thằng Xuân ngồi tại chỗ. Rủi thay, ong lại bay tới vo ve trên đầu nó, quệt cả vào tóc. Xuân sợ quá, tái mặt tái mày. Cành cây nó cầm run run lay động. Hỏng rồi! Tôi vụt đứng dậy, cầm lấy cành cây  chạy ra quất tới tấp vào đám ong trên đầu Xuân. Mấy con ong bị tôi đánh trúng rớt xuống co quắp trên đường. Có con gãy cánh, đứt bụng rớt xuống bò dưới chân Xuân. Ong tản ra. Thằng Xuân không sợ nữa. Nó bắt chước tôi vơ lấy cành quất mạnh vào mấy con ong trước mặt. Tôi bảo nó:

- Lui quân thôi!

Hai đứa chạy bở hơi tai mới đến chỗ thằng Việt đứng đó khá xa. Xuân ngồi xuống, lấy nước ra uống cho đỡ khát. Nó còn lôi ra trong túi một quả ổi mà khi ở nhà bà Việt nó giấu không ăn. Nó cạp vài miếng rồi chê chát, vứt qua một bên. Tôi hí hửng:

- Chơi thế này thì thích nhỉ? Hề! Hề!

Việt và Xuân cũng cười. Được một lúc, bọn tôi lại lấy đá ném bắn vào tổ ong không thương tiếc. Ong đòi, lại chạy cuống cuồng, mỗi đứa mỗi ngã. Chơi chừng nửa tiếng thấm mệt, tôi quyết định đánh trận cuối cùng cho tan tành cái tổ luôn.

- Đánh nốc-ao nhé!

Ba đứa chồng tay vào nhau, rồi hất mạnh lên trời:

- Dzô, đánh nốc-ao!

Tôi đi trinh sát trước. Dù đứng khá xa nhưng tôi thấy rõ cái tổ ong to gần bằng cái nón úp không còn nguyên vẹn nữa. Một mảng tổ đã bị đánh trúng, toạc ra, lộ cả con nhộng trắng muốt. Bọn ong không có chỗ bám, bay nháo nhào, lộn xộn cả lên.

Lần này bọn tôi không dùng ná nữa mà mỗi đứa bê luôn hai cục đá, hùng hổ xông tới tổ ong. Cả lá ngụy trang cũng tháo ra vì sợ vướng (đánh trận cuối cùng mà). Chỉ có thằng Xuân cẩn thận (vì nó sợ) là cò y nguyên bộ áo đó thôi. Ba đứa đến gần tổ rồi. Một, hai, ba, một trận mưa đá xối xả rơi vào cái tổ vốn dĩ chẳng còn nguyên vẹn gì của lũ ong tội nghiệp. Chúng tôi chạy liền, chạy rất nhanh để thoát khỏi mũi kim của chúng. Quả thật đàn ong bay ra truy kích đông chưa từng thấy, chắc cả tổ. Ba đứa tôi bán sống bán chết chạy. Phía sau bầy ong đuổi rất gấp.

Rầm một cái, tôi và thằng Việt đâm sầm vào một chiếc xe đạp của ai đi ngược lại. Đau điếng, tôi đứng dậy định chạy nhưng nhìn lại thấy ai quen quen. Hóa ra là thầy Chiến, chủ nhiệm lớp 5/3 đây mà. Thầy ấy dữ và nghiêm có tiếng trong trường. Tôi chưa kịp chào thì thằng Việt hốt hoảng quát:

- Chạy thôi! Nhanh lên!

Biết thế là vô phép lắm nhưng tôi chỉ biết la lên với thầy:

- Chạy thôi thầy ơi!

Thầy không hiểu gì, có ý giận bọn tôi. Thầy hỏi:

- Các em đi đâu mà....

Chưa dứt lời, thầy đã xám mặt lại. Ong! Một bầy ong vò vẽ đông như kiến, hung hăng lao đến. Tôi và thằng Việt vùng chạy nhưng không kịp rồi. Đàn ong lao đến, đốt bừa vào ba đống thịt đang ngây ngô đến không biết phải làm sao. Chúng bâu vào tóc, vào mặt, tay chân chúng tôi. Tất cả chỗ nào hở da, hở thịt mà chúng có thể đốt được. Con cong đuôi, xòe ra một cái kim nhọn hoắt, cứ thế mà đâm vào da, vào thịt của mấy kẻ mà chúng coi là kẻ thù dẫu biết rằng một lần đốt chúng cũng sống chẳng được bao lâu. Con ong đốt xong thường phải trả giá đắt là cái chết của chúng. Vậy mà vì nhiệm vụ chúng vẫn cứ làm, xả thân bảo vệ đồng loại, bảo vệ mái nhà mình. Những kẻ phá hoại tổ ong và cả người vô tội bị vây đánh trong muôn trùng ong, lăm lăm kim nhọn. Ba thầy trò huơ tay huơ chân chống trả bừa. Mạnh ai nấy chạy, tôi cố vùng hết sức đạp phăng chiếc xe qua một bên rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy cuống cuồng. Nhưng chạy đâu cho thoát bầy ong, cả tôi, thằng Việt, thầy Chiến chỉ làm tấm bia thịt cho những mũi kim găm vào một cách tức giận. Mỗi mũi kim tiêm vào người là một luồng nọc độc, đau rát thấu tim gan. Tôi nhận gần chục mũi như thế. Miệng không ngớt kêu la. Nhưng tôi cố gắng không khóc, khóc thì giống cái cậu khi sáng bị ong đốt à. Thế thì anh hùng gì? Nếu không có thằng Xuân quay lại dùng cành cây đánh bừa vào bầy ong cho chúng nhả con mồi ra thì còn lâu chúng tôi mới thoát được. Tôi lúi húi phủi mấy con ong bám trên tóc, trên cổ áo. Nhìn lại thằng Việt và thầy Chiến trông mới tội nghiệp làm sao. Khỏi cần phải nói, mặt mày chúng tôi lúc đó như thế nào chắc các bạn cũng biết...

Thầy Chiến hỏi bọn tôi:

- Các em có sao không? Sao các em nghịch dại thế?

Bọn tôi không trả lời, đứa nào cũng cúi gầm mặt. Miệng lẩm bẩm xin lỗi thầy. Lúc ấy, tôi đã cảm giác mình đứng không nổi nữa.

Tối hôm đó, tôi không ngủ được. Những vết ong đốt sưng tấy lên, đau buốt xương lại còn gây sốt cao nữa. Tôi đi không nổi, khóc lóc, rên rỉ làm cả nhà lo lắng, quên cả rầy la cái tội đáng lẽ phải cho ăn đòn. Mẹ tôi nấu cháo bò, thứ cháo mà tôi thích ăn nhất, thơm nghi ngút mà tôi mở mồm cũng không được. Cứ thế suốt đêm, suốt cả ngày hôm sau nữa. Đầu tôi, thân thể tôi trắng lỗ chổ vết vôi bôi, lại còn uống đủ thứ thuốc nữa. Đầu tuần sau tôi mới đi học được. Thằng Việt cũng y như thế. Riêng thằng Xuân là vẫn bình an vô sự.

Còn thầy Chiến thì giờ chào cờ bọn tôi mới biết là thầy phải đã nhập viện, đến giờ vẫn chưa ra. Thầy bị đốt gấp mấy lần bọn tôi. Chuyện tai quái đó làm cả trường đều biết, ai cũng trách móc. Mẹ tôi phải mấy lần lên làm việc với cô giáo. Ba đứa tôi hối hận lắm, kéo nhau đi thăm thầy Chiến. May thay, thầy bỏ qua cho, lại khuyên chúng tôi học hành cho tốt, đừng hoang nghịch nữa.

Mấy ngày sau có dịp đi qua đường Lầm, tôi thấy một mảng hàng rào cây sau trường bị phá hỏng, chỗ có cái tổ ong ấy. Riêng cái tổ bị ai đó đốt cháy đen thui, tan nát. Cả bụi cây cũng bị vạ lây, cháy trụi không còn một mống. Chắc ai đó nghĩ đó là mầm họa nên mới diệt đi. Thế cũng đỡ! Bọn tôi mỗi lần đi qua vẫn hay nhìn nhìn, đôi lúc đứng lại ngó nghiêng một hồi. Nghĩ lại, đứa nào cũng còn thấy sợ.Tôi chẳng biết nói gì, chỉ khuyên các bạn rằng:" Các bạn đừng ai nghịch dại như việc bọn tôi đã làm với cái tổ ong vò vẽ đó nhé!"

     Truyện ngắn của Lê Vũ Trường Giang - ảnh 1 


Truyện 2.

Vượt vòng vây

 

Cánh đồng Thanh Lam về đêm thật tĩnh mịch. Bầu trời không sao, thỉnh thoảng lại rực sáng lên bởi một loạt hoả châu được bắn ra từ căn cứ Mỹ- Nguỵ phía trong đồi. Cầm không muốn chèo ghe đi qua con hói để ra đồng nữa mà nằm trên ghe, ngước nhìn pháo hỏa châu đang rỉ rả bay. Cô nhẹ nhàng vuốt lên cái vỏ sò trắng sáng, thứ vỏ sò được mài nhẵn để làm dây đeo cổ cho mấy cậu bé con. Trong đầu Cầm, một cậu bé choai choai, mình đen nhẻm chạy như bay trên bờ ruộng, miệng không ngớt xua bầy vịt chen chúc bơi dưới chân mình. Cầm cười, chạnh lòng. Thiết! Cầm chợt nhớ và lo cho Thiết quá. Mới đây thôi, ở giữa cánh đồng làng Lợi Nông, Thiết còn nắm tay Cầm hứa hẹn:

- Anh đi mấy ngày rồi về sớm thôi. Em lo coi mấy con vịt, đừng để bọn nó đẻ lung tung. Cầm không nói, nhìn Thiết, mắt ngấn lệ. Thiết dúi vào tay Cầm thứ gì đó, rồi lẳng lặng đi. Chân bước nặng.

*

Con đường độc đạo từ làng Lợi Nông băng qua cánh đồng Thanh Lam vào đường quốc lộ xuất hiện mấy bóng đen, bước đi rất có trật tự. Thiết dẫn anh em đi trước đến điểm hẹn. Người chiến sĩ mặc chiếc áo lính đã sờn màu, cũ kĩ, trông anh khá già dặn hơn cái tuổi hai tư của mình. Anh nắm chắc tay vào báng súng như thể sẵn sàng đương đầu với mọi hiểm nguy đang rình rập phía sau bóng tối của cánh đồng ngập nước. Thiết là anh du kích giỏi nhất của làng, nhiều lần được bầu danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn huyện với thành tích: bắn cháy hai chiếc xe bọc thép, diệt được mười tên địch. Ấy vậy mà ngày làm lễ ghi công, Thiết không đến dự và chỉ trả lời câu hỏi của cấp trên với lí do: “Bọn nó còn đông như kiến thế nớ mà công với kiếc gì. Đến khi nào độc lập, tự do rồi hãy bàn.’’

Thiết đã quen cây súng trong phong trào đồng khởi. Một anh du kích đã cố giấu nó trong lùm cây khi hai chân bị bắn nát. Anh chết dưới khẩu súng lục của một thằng đại uý có tiền nghiệp chăn trâu, đôi mắt anh vẫn nhìn vào lùm cây có bóng một đứa nhỏ và khẩu AK47 mười viên đã lên nòng… Hai ngày sau đám lính đi càn vất vả lắm mới lôi được xác của gã đại uý thất học trong cái lùm cây đầy gai và ruồi nhặng…

*

Đội công tác đang cố quan sát xung quanh bằng đôi mắt đã quen với bóng tối. Họ gồm tất cả bảy người khác nhau tuổi tác giọng nói nhưng giống nhau ở ý chí và sự can trường. Đây là một chuyến mạo hiểm lớn mà sự thành công của nó đem lại sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với tình hình chiến sự ở đây. Trong bảy người tham gia làm nhiệm vụ có năm người là anh em du kích trong làng, hai người còn lại là cán bộ từ mặt trận cử về truyền đạt nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến mới cho các căn cứ cách mạng trong vùng.

*

Con đường từ đây vào chiến khu đầy khó khăn và nhiều cạm bẫy. Trên quãng đường độ gần chục cây số đó là một hệ thống đồn bốt chắn ngang cánh đồng ra làng, các cứ điểm cao ở đồi Châu Sơn và một loạt trạm bảo an, dân vệ ở làng Dạ Lê- làng ranh giới để vào chiến khu. Chưa kể là các toán tuần tiễu trên đường quốc lộ, đường làng và các ổ phục kích bất cứ nơi đâu. Một vòng vây đáng sợ! Thiết hơi lo ngại. Nhưng người chiến sĩ mưu trí, dũng cảm đã nghĩ ngay ra kế hoạch hành động. Anh chia đội ra làm hai toán nhỏ đi rời nhau để bảo đảm an toàn. Anh và hai người nữa đi bảo vệ chú Hoàn- cán bộ của mặt trận, số còn lại theo bên anh Huy- cán bộ huyện ủy. Họ không đi theo con đường độc đạo mà lội băng qua cánh đồng. Nhóm của Thiết đi trước mở đường. Trời thế này mà lội qua đồng thì thật lạnh và nguy hiểm. Cánh đồng ngập nước ngang đầu gối, vì là mùa lũ nên chả có một ruộng lúa nào, chỉ có vài bụi cỏ lơ thơ có thể làm chỗ ẩn nấp nếu bị phát hiện. Trong bóng tối lờ mờ chú Hoàn nhận ra vài cái khối lù lù trước mặt không xa chỗ họ đi lom khom là mấy.

- Cái gì thế kia hả anh Thiết? Chú Hoàn hỏi nhỏ người dẫn đường.

- Lô cốt đó chú. Những ba cái án ngữ từ đường quốc lộ ra làng cháu. Nhưng không sao, bọn đó ngơ và nhát lắm. Trời như ri là bọn nó chỉ biết ngủ thôi à.

Thiết thản nhiên đáp như không khiến ông Hoàn cũng bình tâm. Người cán bộ thâm niên của mặt trận, từng tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ trên chiến trường Trị Thiên cảm thấy như gần gũi với anh du kích này quá. Ông định nói tiếp với anh nhưng Thiết ra hiệu cả nhóm im lặng. Họ nằm phục xuống nước chỉ để hở đầu và mấy khẩu AK vì trước đó có ba bốn bóng đen lạ, đang đi lập rập trên đê. Bọn lính cười nói rất to, có vẻ như phiên đi tuần gặp nhiều chuyện vui. Nước ngập lên tận cổ các chiến sĩ, lạnh buốt. Cũng may, chỗ này gần bờ đê nên cỏ mọc dày, cao và rất kín đáo. Thiết cũng cảm thấy lạnh nhưng bàn tay ấm nóng của Cầm đã làm anh quên tất cả. Bàn tay ấy trắng muốt, mềm mại ngay từ lần đầu Thiết nắm tay Cầm và thủ thỉ lời yêu thương nơi bến Vọng. Bàn tay ấy mới đây thôi cũng ấm khi Thiết trao sợi dây đeo cổ làm vật tin rằng chuyến này Thiết sẽ trở về…

Cậu Tân nằm bên thì thầm vào tai Thiết:

- Bọn nó đi rồi anh ơi. Thiết bây giờ mới để ý thấy đám lính đã khuất hẳn sau mấy cái bốt. Thiết phất tay, mọi người lại nhỏm dậy đi tiếp. Anh lắc đầu cho tỉnh táo. Nhóm anh Huy cũng đã rời vị trí. Bây giờ cả hai nhóm đã tiếp cận chân đê. Thiết nhìn đồng hồ thì đã thấy cái kim dạ quang chỉ gần mười hai giờ. Phải nhanh lên nếu trời sáng thì hỏng hết. Anh Vệ làm trưởng nhóm bên kia, bò sang hỏi Thiết:

- Anh Thiết ơi, tôi định thế này. Ta cứ men theo chân đê đến chỗ cái cống thì lội qua con kênh nhỏ đâm thẳng xuống chân cầu mà không cần phải băng qua đường quốc lộ. Như thế an toàn hơn là chạy thẳng từ đê vào đường quốc lộ.

Thiết nãy giờ hơi lưỡng lự, nghe thế thì đồng ý ngay. Bảy người lại bò trườn theo chân đê, lội qua mương, qua khỏi đường quốc lộ một cách vô sự. Khi vừa mới nhếch thân thoát khỏi con đường thì từ hướng Phú Bài có ánh đèn pha rọi lên. Tiếng động cơ rù rù của mấy chiếc xe bọc thép kéo thành một hàng dài đang lăn bánh trên đường. Ai nấy thót tim vì suýt nữa là đi toi cả mấy mạng. Ông trời cũng biết phù hộ cho những con người luôn đương đầu với hiểm nguy, với cái chết có thể đến lúc nào trong thời buổi chiến tranh loạn lạc chẳng thương xót ai với những viên đạn không phân biệt phải-trái, chính-tà.

Lại mất nhiều phút để đợi đoàn xe này qua hết bởi chúng đâu phải yên ổn đi một mạch. Một chiếc Jep không biết từ đâu đi ngược lại chắn ngang đoàn xe. Dưới ánh sáng đèn, có hai tên sĩ quan người Mỹ trên xe bước xuống trao đổi với viên chỉ huy đoàn xe cái gì đó. Một tên lính Mỹ tự dưng tách đoàn rời xe bước xuống kênh, hắn dáo dác nhìn quanh. Anh Vệ cầm lấy súng sẵn sàng, Thiết ngăn lại. Bóng tên lính to lớn đứng lại, có tiếng róc rách, xè xè. Thì ra hắn đang làm “nhiệm vụ” rất quan trọng và cần thiết cho hắn.

- Thằng khốn nạn suýt nữa thì mi làm bọn ông lộ hết- Thiết chửi thầm. Có tiếng còi xe vang lên, tên lính chạy lại xe. Chiếc Jep quay đầu và cả đoàn xe lại rù rù tiến về thành phố.

Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Đã hơi an toàn rồi. Bước tiếp theo là vượt qua làng Dạ Lê. Điều này cũng không mấy khó khăn vì chỉ cần men theo con kênh chạy một mạch là vào làng. Lại theo dòng khe nhỏ, hai bên rậm rạp cây bụi là có thể vào hướng rừng, rồi từ đó chạy thẳng vào chiến khu Dương Hoà. Chỉ sợ là trên đường di chuyển gặp phải các ổ phục kích bất ngờ. Lần này từng tốp hai người đi cách quãng nhau mười mét. Riêng Thiết luôn kề cạnh bên chú Hoàn không rời một bước. Chẳng mấy chốc mà đến cửa rừng. Ngồi nghỉ một lúc vì ai cũng mệt, có mấy người cảm thấy đau rát khắp thân thể vì va phải gai góc trên đường đi. Thiết cũng bị xước nhẹ lúc anh có lao qua một bụi cây chắn ngang cái khe. Thiết tiếp tục làm tiếp nhiệm vụ của người chỉ huy. Anh chọn cậu Tân là thanh niên làng này, từng rong ruổi khắp chốn thâm cùng, tỏ thông ngỏ ngách làm trinh sát để dò đường vào rừng. Tân cho biết đoạn này vào chiến khu phải vượt qua một hàng rào phòng thủ rất chắc chắn. Cả một đại đội cả Mỹ lẫn Nguỵ đóng chốt, nhiều lô cốt, bãi mìn, dây thép gai và nhiều chướng ngại khác. Thiết ghé vào tai Tân nhắc nhở:

- Mi đi cẩn thận. Coi chỗ mô tụi nó đóng quân thì tránh đi. Mau lên cả trời sáng. À, lỡ khi đụng độ bọn nó thì đừng có nổ súng mà lộ hết anh em. Thôi đi đi!

Tân gật đầu rồi biến mất trong bóng tối. Cả đội lại nằm chờ. Thiết liếc nhìn đồng hồ thì đã gần một rưỡi sáng, lòng lại nơm nớp lo. Chú Hoàn thấy nét mặt của Thiết thì cũng muốn chia sẻ. Chú an ủi Thiết:

- Cậu lo lắm à. Cứ bình tĩnh đi, rồi chúng ta sẽ vượt qua được.

- Chú à, trời sắp sáng rồi mà việc còn lỡ dở như ri thì con sợ lắm. Nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì còn mặt mũi nào để về gặp anh em nữa.

Ý thức trách nhiệm của người du kích làm chú Hoàn cảm động. Ông thích nhất cái giọng Huế rắn rỏi, cương nghị và cả cái sự dũng cảm, gan dạ, lạc quan cũng như lòng nhiệt tình của anh mà đêm đầu gặp gỡ đã để lại trong ông nhiều ấn tượng. Ông muốn làm gì đó cho cậu trai này lắm.

- Có lẽ là... Ông định nói tiếp nhưng có tiếng sột soạt gần đó nên thôi. Thấy động, ai nấy nín thở siết chặt tay súng. Một dáng người nhỏ bé quen thuộc lộ ra. Thế là Tân đã quay trở về. Mặt lấm tấm mồ hôi dù trời rất lạnh. Tân cho biết hướng vào rừng đã bị bịt kín chỉ còn một chỗ hở là đi qua một sân bay dã chiến có lính canh. Qua được đó xong còn phải vượt qua hai ngọn đồi nhỏ mới tiếp cận được hàng rào théo gai. Đến đây chỉ cần bẻ thép là thoát được. Việc này rất khó thực hiện bởi đâu có dễ dàng mà vượt qua bao nhiêu là vật cản thế kia. Dường như chưa bằng lòng với những gì Tân nói Thiết hỏi lại:

- Không còn đường nào khác à?

- Không. Các chỗ khác đều có chòi canh và lính tuần tiểu dày đặc. Riêng ở sân bay dã chiến thì chúng canh giữ qua loa vì chỗ đó hình như không còn dùng nữa.

- Thôi cứ liều đi. Trời sắp sáng rồi.

Thiết chia làm ba tốp. Đi đầu là Tân và một chiến sĩ nữa làm nhiệm vụ dò đường. Thiết đi cuối cùng với chú Hoàn để bọc hậu. Mọi người đều lên đạn để đề phòng trường hợp bị phát hiện. Họ leo lên khỏi bờ khe, tiến chậm về hướng sân bay. Chốc chốc lại nằm bẹp xuống đất mỗi khi thấy hoả châu bắn lên, rực sáng cả một khoảng rừng. Đến sân bay, đó là một khoảng đất rộng sát mấy ngọn đồi được rải nhựa bằng phẳng đủ để chứa hơn chục chiếc trực thăng. Nhưng lúc đó không còn chiếc nào cả. Có hai tên lính bồng súng đứng gác về hướng bắc. Chúng chỉ đứng một chỗ và để lộ một khoảng rộng có cây che là đường dẫn tới ngọn đồi và hang rào thép gai. Tốp của Tân bò áp sát  ở chỗ trống đó. Đợi khi bọn lính ngó lơ là chạy nhanh vào mấy bụi cây dưới chân đồi. Cứ thế, lần lượt các tốp đã qua khỏi sân bay một cách an toàn.

Giờ việc mấu chốt cuối cùng là qua đồi. Ngọn đồi nhỏ với nhiều  bụi cây thấp lè tè. Nhưng chả ai thấy trên đó có gì vì trời tối và pháo hoả châu không bắn tới đó. Ai cũng lo vì một ngọn đồi đứng sát sân bay chẳng nhẽ không có cứ điểm án ngữ trên cao. Lỡ ra mà lên đó gặp phải ổ súng máy thì đi đứt còn gì. Thiết quyết định đi men theo sườn đồi cho an toàn. Họ trườn thành một hàng dài cách quãng, tiến lên theo sườn đồi thoai thoải. Không một tiếng động giữa đêm tối, chỉ nghe toàn tiếng côn trùng kêu. Khi người đầu tiên tiếp cận được hàng rào thép thì anh ta mới giật mình là trên đồi có một nhóm lính đang canh gác bên cạnh là khẩu súng máy xoay nòng và những băng đạn lúc nhúc, loắn xoắn hàng ngàn viên. Chúng ngồi rất thấp dưới công sự đào sâu xuống đất. Mắt chúng chăm chăm ngó vào đêm tối. Cách bên phải ngọn đồi chừng hai trăm mét nổi lên một đống lửa tàn, xung quanh có các lều dã chiến và nhiều bóng người cầm súng. Đã đến nước này rồi thì không còn sợ nữa. Anh rút cái kìm đã chuẩn bị sẵn ra bẻ lần lượt các dây thép loăng quăng. Thứ hàng rào dã chiến vốn được phát minh ra để bảo vệ chế độ tư hữu tài sản của người Mỹ thế kỉ 19, nay được trưng dụng làm thứ chướng ngại đáng lo ngại trong chiến tranh. Chúng cứng và dẻo nên cậu Tân ở sau bò lại phụ một tay. Mươi phút sau hình thành nên một lỗ hổng đủ để một người chui qua lọt. Những người đi đầu bò qua một cách nhẹ nhàng, cẩn thận và rất gọn gàng. Một, hai chiến sĩ bò qua an toàn. Rồi ba, bốn. Đến người thứ năm thì bất thình lình có tiếng súng liên thanh nổ giòn giã trên đầu. Bọn lính bắn vu vơ về phía cánh rừng chẳng nhằm vào ai cả nhưng anh du kích đó hoảng sợ tưởng bị phát hiện, bò vội vàng qua dây thép. Khốn nỗi vì nhanh quá nên chân bị vướng vào đống dây làm anh ta kêu lên một tiếng nhỏ. Rồi bụi súng theo gió bay xộc vào mũi ngứa ngáy. Vừa đau vừa khó chịu, anh ho mấy tiếng hộc hựa. Anh cố gắng lấy tay bịt miệng lại nhưng… cái không khí im ắng sau tràn súng và ngọn gió vô tình đã phát tán tiếng kêu đó đến tai bọn lính. Thấy động, chúng nghi ngờ. Một tên đứng dậy cẩn thận nhìn quanh xuống đồi. Chẳng thấy gì, hắn vội bật một cây đèn pin để đi tuần tra. Hắn rảo khắp một vòng quanh đồi. Nhưng khi ấy, anh du kích đã nhanh nhẹn rút cái chân bị thương ra và lủi nhanh vào các bụi cây mà đồng đội anh đang ẩn nấp. Chỉ còn hai người còn kẹt lại là Thiết và chú Hoàn. Lúc này nếu tên lính mà đi về phía họ thì mọi sự sẽ hỏng cả. Thiết ra hiệu chuẩn bị chiến đấu. Ánh đèn pin dọi tứ tung mọi hướng và dừng lại ngay chỗ hang rào bị chọc thủng. Hắn kêu lên:

- Có người đột nhập. Du kích bây ơi!

Không chần chừ Thiết giương khẩu AK bắn một phát vào tên lính. Hắn ngã xuống. Cùng lúc, Vệ ở bụi cây bên kia quăng lựu đạn vào ổ súng máy. Một tiếng nổ vang lên xua đi cái khoảng tối im lặng của mùa đông giá rét. Ổ phòng ngự của địch bị diệt gọn. Hai người vội lao nhanh qua hàng rào thép. Chậm một chút thôi thì khó thoát khỏi sự truy kích của cả một lực lượng tuần tiễu hùng hậu sẽ tới đây tức thì. Quả thế thật, đã có tiếng còi báo động ở khắp nơi rộ lên.

Thiết  băng qua đến hàng rào rồi cùng mọi người chạy lẩn vào rừng vì biết có vào được đó mới tránh được sự truy kích của địch. Mới chạy có vài bước thì đã nghe thấy tiếng súng phía sau dội tới. Nhiều ánh đèn loé khắp mọi nơi. Địch chia làm hai ngả hướng về phía đồi. Một cánh tuần tiễu chạy từ bên trái đồi và bên phải là một trung đội Mỹ đang trú trong các lều dã chiến. Chúng chạy rất nhanh đến chỗ phát ra tiếng nổ. Chúng bắn loạn xạ vào các bụi cây đằng sau hàng rào vì nghi những kẻ đột nhập chưa chạy xa được.

Thấy tình thế nguy kịch, Thiết bảo Vệ dẫn chú Hoàn chạy trước, còn mình ở lại cầm chân chúng rồi rút lui sau. Chú Hoàn cố can nhưng Thiết quát to:

- Chú chạy đi! Cháu tự lo việc của cháu.

- Nhưng mà bọn chúng đông thế kia thì làm gì được. Chú không muốn các cháu gặp chuyện đâu.

- Anh Vệ dìu chú ấy đi đi! Thiết trợn mắt, tức giận.

Biết là không lay chuyển  được ý định của chàng trai trẻ, hai người đành ra đi. Trước khi đi, ông Hoàn đưa cho Thiết một khẩu súng lục với một băng đạn. Ông nói:

- Cháu cố giữ gìn. Chú đợi cháu…

*

Mấy thằng Mỹ hung hăng lao vượt qua hàng rào không chút lo lắng cho cái tính mạng của chúng. Những cái bóng đầu tiên vừa thấp thoáng đã bị một tràng AK từ đâu xé gió quật ngã, gục ngay trên hàng rào. Bọn đi sau hoảng sợ không chịu lên. Một tràng khác lại nổ giòn giã. Bực mình, một tay sĩ quan thúc lính liều chết xông lên. Chúng rất đông nên vừa bắn hạ vài tên thì bọn lính đã áp sát chỗ ẩn của Thiết. Anh rời vị trí rút lui vào rừng. Có tiếng rên la của mấy thằng bị thương. Địch tiếp tục truy kích. Chúng bám ráo riết đằng sau anh. Một viên đạn bắn trúng chân làm Thiết quỵ xuống. Anh cố chạy thì ngã dúi vào một bụi cây. Ba thằng Tây chạy tới, Thiết giơ súng lên, chưa kịp bắn thì mấy tên đó đã ngã lăn sau mấy tràng súng không biết từ đâu bắn tới. Thiết hoàn hồn. Có tiếng gọi:

- Anh Thiết, em đây! Tân đây! Thì ra Tân không chịu rút lui mà ở lại cùng Thiết chiến đấu. Thiết ngỡ ngàng:

- Anh em mô rồi?

- Họ rút lui an toàn rồi. Em dìu thằng cu Bột bị thương ở chân. Nó không chịu đi đòi ở lại để chuộc lỗi khi hồi nó mắc dây thép khiến ta bị lộ.

- Bọn mi ngu quá, đứng lại đây là chết hết. Đi đi!

- Kệ! Bọn em ở lại. Cả hai người đồng thanh trả lời.

Ba chiến sĩ cảm tử ở lại, sát cánh chiến đấu bên nhau, diệt hàng chục tên địch. Riêng cái trung đội lính Mỹ bị đánh cho tơi bời bị thương và chết khá nhiều. Sau đó, chúng điều thêm nhiều đơn vị có trực thăng yểm hộ lên cứu viện. Cuộc chiến diễn ra cho đến sáng rõ mặt người. Những anh hùng của chúng ta chiến đấu rất ngoan cường dưới nỗ lực của ít ỏi những viên đạn cuối cùng làm bọn lính Mỹ- Nguỵ khiếp sợ.

Đạn hết. Ba người cố chạy vào hẻm đồi phía sau. Tân lại một lần nữa không chịu đi. Tân đã thấy cái thằng sĩ quan lần trước ra lệnh đốt nhà ông ngoại, thiêu luôn ông bà ngoại và cả mẹ của Tân. Tân nghiến răng: “Tau phải giết mày.” Thiết và Bột dìu nhau, tập tễnh chạy ra sau. Anh chỉ nghe tiếng rú thất thanh của một cái giọng già hết kiếp và tiếng súng liên hồi, gầm xé bắn vào kẻ vừa kết thúc cuộc đời con ác thú.

Trực thăng bay trên hẻm đồi, quạt tung cành lá. Bọn lính xung kích lại tiến lên. Tụi Mỹ theo sau, nói xi lô xi la ầm ĩ và tiến rất cẩn thận. Hai người bị dồn vào hẻm đồi. Đường cùng? Thiết rút khẩu súng lục ra, lên đạn. Bột mím môi.

- Pằng! Pằng! Pằng!... Những bóng đen...

Thiết thấy Cầm nắm cái vòng đeo cổ có con sò trắng, miệng mỉm cười hiền dịu. Nắm bàn tay trắng muốt, mềm mại, chợt lòng Thiết dần ấm lên… nóng lạ kỳ.

     Truyện ngắn của Lê Vũ Trường Giang - ảnh 2 


Truyện 3.

Lửa yêu thương

 

- Hiền, con ở nhà nhé. Ba phải đi làm đây.

Ông Tâm vừa dắt chiếc xe ra cổng vừa ngoái lại bảo đứa con gái. Chiếc xe 78 cũ kĩ nổ lên tiếng bành bạch, khô khan rồi đi thẳng, xa, xa dần đến khi chẳng còn nghe thấy tiếng gì nữa.

Giờ thì chỉ còn bé Hiền nằm một mình trong căn phòng bé tí teo kê đủ một chiếc giường con và một cái tủ nhỏ. Hiền cố gắng lết tấm thân mà cô xem nó như một khối nặng để có thể di chuyển đến gần cửa sổ. Ở vị trí này Hiền mới nhìn thấy được cái xóm Châu Thủy thân yêu của cô. Cái xóm khác và cách biệt với những cái xóm khác bởi cái tên lạ và chỉ có vài chục nóc nhà. Hiền muốn trông thấy sự đổi thay của những ngôi nhà quen thuộc trong cái ngày lễ trọng đại sắp tới mà cô đã trông đợi từ lâu. Vậy là đã gần hết một năm! Cái khoảng thời gian 12 tháng, 52 tuần, 365 ngày, 8760 giờ hay 525600 phút cũng sắp kết thúc. Hôm nay đã là ngày 23/12 dương lịch. Hiền thầm nghĩ thời gian sao mà trôi nhanh quá, mới đó mà sắp đến ngày lễ Giáng Sinh, sắp bước sang năm mới rồi. Vậy là mình già thêm một tuổi, mười bốn tuổi rồi, đúng không nhỉ? Còn ba thì cũng xấp xỉ bốn mươi rồi. Còn mẹ? Cô bé ngừng lại dòng suy nghĩ đang chảy trào. Cô muốn khóc quá! Giá như mẹ còn sống thì cũng đến ba bảy. Đúng là ba bảy vì năm kia sinh nhật mẹ tròn ba lăm tuổi cơ  mà.

Ngoài đường có tiếng trẻ con la hét:

- A, anh Tí đem thông về rồi!

- Ôi chao, thông đẹp quá!

- Cây thông mới to làm sao!

- Anh Tí ơi!  Tối anh cho em qua trang trí với nhé.

Anh Tí trả lời:

- Tránh cho anh đi nào. Ừ thì tối vậy.

Hiền cố gắng lần tới sát cửa sổ để trông thấy rõ cây thông mà bọn trẻ khen lấy, khen để. Nhưng chả thấy gì ngoài cái chóp cây xanh rì, nhọn hoắt. Cây thông Nô-en đó. Hiền nhớ lại lúc mẹ còn sống, lúc chân Hiền chưa bị liệt, lúc ba còn làm việc ở nhà máy thì Giáng Sinh nào, nhà cô bé cũng có một cây thông Nô-en đồ sộ, cả xóm không ai bằng. Vậy mà hôm nay sắp đến ngày lễ rồi mà vẫn chưa thấy gì. Tại ba bận quá. Dạo này ba còn phải thồ biết bao nhiêu là người muốn về quê để ăn tết, dù còn lâu mới tới tết ta. Vậy thì làm sao nhà mình có một cây thông trong đêm Giáng Sinh được. Ngoài kia, tiếng trẻ con lại rì rầm bàn tán về cây thông. Rồi chiều hôm đó, nhiều người trong xóm cũng lên ngọn đồi chặt về biết bao là thông. Nhìn cảnh náo nhiệt trong xóm, Hiền thở dài:

- Ôi, sao mình buồn quá! Mình muốn khóc quá! Chẳng ai quan tâm đến mình, đến cây thông Nô-en.

Cô bé buồn rầu nhìn mãi ra ngoài cho tới lúc hai mắt cô nặng trĩu, nặng trĩu dần. Cô thiếp đi trong nỗi thất vọng, xót xa…

Cả ngày hôm sau Hiền vẫn cứ rầu rầu như thế. Cô bé định nói với ba là nên làm cho nhà mình một cây thông Giáng Sinh để cho nhà thêm vui vẻ, ấm cúng. Nhưng lại thôi vì cô thấy ba có vẻ bận bịu quá. Không sao, không có cũng được mà. Ba đã cực nhọc nuôi mình, chạy đôn chạy đáo chữa bệnh cho mình, giờ còn bắt ba phải bày vẻ chi thêm nữa, mất công. Nghĩ thế nên cô bé nhìn ba âu yếm khi ông chào tạm biệt con gái để đi làm nhưng đôi mắt của cô đã làm ông Tâm lo lắng:

- Có gì buồn hả con?

- Không đâu ba. Ba cứ đi làm đi.

- À, tối nay hai ba con mình đến nhà thờ nhé. Hôm nay là lễ Giáng Sinh rồi phải không con?

- Đúng rồi ba. Tối ba nhớ về sớm nhé. Cô bé lộ vẻ vui mừng.

Ông Tâm trìu mến:

- Ừ, ba sẽ về sớm.

Thế là suốt ngày hôm đó Hiền mong cho trời mau tối để được đến nhà thờ dự lễ. Tối nay có nhiều tiết mục hay lắm đây. Cô bé đợi…

*

Lúc cô bé chưa bị đau, liệt ở chân thì ngày nào nhà cô cũng ngập tiếng cười đùa của chúng bạn… vậy mà nay Hiền chỉ lủi thủi một mình. Hiền muốn khóc thật to cho mọi người nghe thấy. Hiền đang buồn.

Khi đã khá rảnh rỗi, đám trẻ mới chợt nhớ ra là mình quên mất cô bạn- người mà chúng luôn yêu mến. Tình cờ tụ tập ở nhà anh Tí để trang trí cho cây thông chung của xóm, một đứa vô tình nói:

- Chúng ta có cây thông cho cả xóm, cho cả nhà mình rồi. Vậy mà khi nãy mình đi qua nhà Hiền chẳng thấy nhà nó có cây gì cả. Sao thế nhỉ?

Cả bọn mới chợt nhớ đến nhỏ bạn. Mấy đứa đứng lặng đi một lúc, thầm trách mình vô tình... Một điểm sáng cháy nồng lóe lên trong đầu những tâm hồn bé nhỏ nhưng rực lửa tình thương. Lũ nhỏ chạy thật nhanh lên đồi thông, thật nhanh trước khi niềm hi vọng đợi chờ có thể sẽ tan chảy sau bóng tối phũ phàng đang đến nhanh.

Cô bé vẫn thấp thỏm chờ trời mau tối. Sao mà lâu quá thế? Đêm Giáng Sinh ơi hãy đến nhanh nhé! Ông già Nô-en cũng đến đây chơi với cháu đi! Cháu cần mọi người ngồi bên cháu!

Chợt có tiếng ồn ngoài sân rồi một cậu bé trạc tuổi Hiền từ đâu chạy vào phòng, mặt hớn hở:

- Chào Hiền. Mấy ngày nay bọn tớ bận nên không qua nhà cậu được, xin lỗi nhé.

Hiền không nói gì. Thầm trách lũ bạn vô tình, cô quay mặt đi. Rồi có giọng nói khác:

- Làm gì ghê vậy em!? Anh cho em cái này hay lắm.

Rồi không đợi cô bé nói, cả cậu bé và anh Tí dìu cô bé ra phòng khách. Hiền cố chống cự lấy lệ nhưng ra tới phòng khách thì cô bé ồ lên ngạc nhiên.

- Ôi, đẹp quá. Ai làm thế này? Cám ơn mọi người. Hay quá!

Năm, sáu đứa khác đứng xung quanh cây thông vỗ tay đôm đốp, miệng cười khúc khích, trông chúng hạnh phúc lắm nhưng có lẽ người hạnh phúc nhất là bé Hiền. Hai người lại dìu cô bé đi quanh cây thông Nô-en tuyệt đẹp, Hiền rờ rẫm, sờ khắp cả cái cây từ chân đến đỉnh, từ cành lá đến cái nơ, quả chuông xinh xắn. Tay sờ, miệng cười, chưa bao giờ Hiền vui như thế.

Bọn trẻ ngồi tán gẫu cho đến tối. Chúng rủ luôn Hiền đi lễ nhà thờ. Cô bé muốn đi lắm nhưng còn đợi ba nữa. Nhưng đợi mãi vẫn không thấy ba về. Cô bé đành đi cùng chúng bạn.

Tan lễ, mọi người vui vẻ về nhà. Nhóm bạn lại dìu dắt đi bên cô bé, lòng Hiền vui phơi phới. Nhưng đến nhà cả bọn thấy lạ. Ngôi nhà Hiền sáng rực lên một thứ ánh sáng hồng hồng như lửa cháy. Hiền cũng thấy lạ. Gì thế nhỉ? Mọi người đi nhanh vào nhà Hiền. Và lạ chưa. Đó không phải là ngọn lửa mà là ánh sáng của những cây nến. Chúng lung linh, tắt đỏ theo từng cơn gió thoảng. Đẹp quá! Cây thông cũng rực lên bởi những bóng đèn điện chớp đỏ mà hồi chiều bọn trẻ nghĩ đến nhưng không tìm được. Và, ai mà to đùng thế kia, đang ngồi trên chiếc ghế giữa nhà thế?

- Ai đó? Một đứa lên tiếng.

Ông ta chẳng trả lời. Người đàn ông đứng lên bước về phía bọn trẻ. Cả đám đồng thanh:

- A, ông già Nô-en.

Một ông già Nô-en với bộ đồ màu đỏ chói, chùm râu trắng như tuyết mỉm cười với chúng:

- Chúc các cháu một đêm Giáng Sinh vui vẻ! Hà hà!

Bọn trẻ cười theo. Hiền chưa hiểu gì thì ông già Nô-en bước đến bên cô bé, thầm thì:

- Xin lỗi con, ba về trễ. Ba sẽ chuộc lỗi với con. Con hãy xem đây.

Hiền ngây người, không nói được một lời. Bọn trẻ cũng trố mắt nhìn.

Ông già Nô-en Tâm kéo tấm màn phòng khách lên để lộ ra một cái bàn tròn xung quanh đầy nến và biết bao là thức ăn. Một bàn tiệc đêm Giáng Sinh chính hiệu, có thịt gà quay, một chiếc bánh kem đề chữ nổi Merry Chirstmas và biết bao món ăn ngon khác. Cả bọn ồ lên sung sướng.

Riêng bé Hiền ngạc nhiên và bất ngờ quá, bé lấy hết sức bật lên thành tiếng:

- Ba ! Ba làm con ngạc nhiên quá!?

Rồi cô bé khóc, khóc ngay trên tay một cô bạn. Ông Tâm ôm con dỗ dành:

- Hôm nay là ngày vui mà con. Nín đi kẻo các bạn cười đó.

Bọn trẻ đứng cạnh cũng đùa:

- Hiền mà khóc là xấu lắm! Hì hì! - Một cậu răng sún nham nhở ghẹo Hiền.

Anh Tí thì bảo:

- Khóc thế này chẳng ai chơi với bé Hiền nữa.

Hiền mới ngưng, chỉ còn thút thít. Đoạn ông quay lại bảo lũ trẻ:

- Thôi, các cháu lại bàn ngồi đi.

Bọn trẻ vâng lời đi đến các chỗ ngồi. Chúng để ý thấy còn một chỗ trống ông Tâm cố tình chừa lại, ai cũng hiểu đó là chỗ của mẹ Hiền mà ông Tâm trân trọng để dành cho bà cùng ngồi chung vui với mọi người. Đứa nào đứa nấy cảm động không nói nên lời. Bữa tiệc diễn ra trong không khí vui vẻ chưa từng có, vui hơn lúc bọn trẻ ở nhà thờ. Vừa ăn mọi người không ngớt chúc nhau một mùa Giáng Sinh vui vẻ, hạnh phúc.

Cuối buổi tiệc, ông già Nô-en Tâm lại làm cho chúng thêm một phen ngạc nhiên. Ông vác ra nguyên một bao to mà chúng đoán chắc đó là quà. Và đúng thế thật. Những món nhỏ được bọc trong những cái bít tất xanh đỏ, đẹp mắt như thể chúng được làm ra từ một công xưởng nào đó của ông già Nô-en ở Bắc Cực, được trao cho từng đứa. Chúng cảm ơn ông già rối rít, có đứa còn ôm hôn cả ông. Hiền thấp thỏm chờ đến lượt mình. Và món quà của Hiền không phải nằm trong bao mà là một món quà lớn: một chiếc xe lăn với một chú gấu bông xinh xắn đang ngồi bên trên. Thế là từ nay Hiền đỡ vất vả hơn khi đi lại, cô có thể đi khắp nơi cùng chúng bạn bằng chiếc xe và chú gấu dễ thương. Tuyệt quá!

Cả đám lại vỗ tay hoan hô:

- Chúc Giáng Sinh vui vẻ!

Ông già Nô-en Tâm cười to hơn cả. Ông nhìn đứa con gái đang mỉm cười trong hạnh phúc, lòng vui lạ lùng. Chiếc xe lăn lặng im. Nó biết rằng mình rồi cũng sẽ thừa, khi một ngày kia tình thương và niềm tin sẽ dìu dắt cô bé bước sang trang mới của cuộc đời./.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác