Trò chuyện về “Bên kia sông Đuống”

Bên kia sông Đuống là một trong những bài thơ tiêu biểu của Hoàng Cầm. Chúng ta hãy cùng lắng nghe nhà thơ tâm sự đôi nét về tác phẩm này.

Bên kia sông Đuống là một trong những bài thơ hiếm hoi làm nổi bật được vẻ đẹp của làng quê Việt Nam với những “lớp văn hoá” đặc sắc. Ông đã viết bài thơ như thế nào?

Nhà thơ Hoàng Cầm:

Viết về quê hương, điều cốt yếu phải làm hiện lên rõ nét cái hồn của vùng quê đó. Như vậy đòi hỏi phải có cảm xúc mạnh, trí tưởng tượng sâu rộng, sức liên tưởng dồi dào qua các sự vật tình cảnh có thực, đồng thời phải thấu hiểu lịch sử và nhân vật lịch sử của một vùng đất. Từ nhỏ tôi đã theo mẹ đi lễ chùa, dự hội chùa Phật Tích, Chùa Dâu, Bút Tháp, Tiên Sơn, Long Khánh… và đến phường hát Quan họ mà mẹ tôi là thành viên. Những đêm hát ấy thấm đậm vào hồn tôi từ hồi đó.

Lớn lên, tôi vào bộ đội năm 1947 và có viết một số bài thơ kháng chiến. Đầu năm 1948, tôi và một số anh em lập đội văn công, đóng ở chiến khu 12 thuộc làng Thượng huyện Phú Bình, giáp Thái Nguyên. Một buổi chiều Tư lệnh trưởng chiến khu 12 (gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Ninh và Lạng Sơn) gọi tôi lên và nói: “Tối nay có mấy người ở làng Đông Hồ lên báo cáo về tình hình chiến sự ở vùng này. Anh sang nghe vì đó là quê anh”. Tôi hồi hộp và mong mỏi cả buổi chiều. Trước đó tôi nghe tin đồn rằng làng tôi bị giặc Pháp từ Hà Nội đánh lên, chiếm lấy. Ở đó tôi còn mẹ già, vợ và ba đứa con thơ. Chín giờ tối, một người liên lạc đưa tôi đến Bộ Tư lệnh. Vương Văn Trà là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn sông Đuống, lính toàn người địa phương, vừa cầm súng vừa đi cày. Vương Văn Trà là người làng tôi nên mỗi lời nói của anh khiến tôi đau nhói nơi ngực trái. Bọn giặc chiếm được làng nào là lập hội tề ngay ở làng ấy và đốt đình chùa, phá chợ, cướp bóc của cải, đàn áp dân lành. Làng mạc tan tác, bố mẹ vợ con li tán. Chính gia đình tôi cũng bị li tán, không biết đi đâu, sống chết ra sao. Báo cáo quá nửa đêm mới hết. Tôi như ngồi trên cả đống than, đống lửa. Trở lại toà soạn báo Quân Việt Bắc do Nguyên Hồng làm Tổng biên tập, đóng trong một nhà dân, mọi người đã ngủ say, hơi lành lạnh của buổi đêm đã quá khuya. Ngổn ngang trong lòng. Tôi ngồi đốt thuốc lào nhưng không có ý định viết gì vì nỗi lo lắng về gia didnh, vợ con tràn ngập trong tim. Khoảng hai giờ sáng, tiếng gà gáy vang lên, ngọn đèn dầu bập bùng. Tôi như tỉnh, như mê, tình cảm trào ra bên ngoài, vội vơ lấy bút giấy và như có tiếng ai đó đọc dịu dàng văng vẳng bên tai:

            Em ơi, buồn làm chi

            Anh đưa em về sông Đuống

            Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Cứ thế, tình cảm trào ra ngòi bút. Tôi viết một mạch đến bốn giờ sáng. Tôi đánh thức Nguyên Hồng dậy đọc cho nghe. Mới đến câu thứ năm với giọng đọc thiết tha, nức nở của tôi, Nguyên Hồng bật khóc và cứ thế thổn thức cho đến khi tôi đọc hết bài thơ dài. Bài thơ nhanh chóng được phổ biến khắp nơi. Bây giờ nhớ lại cảm giác khi Nguyên Hồng khóc, tôi biết, tôi đã làm được một chút gì đó cho quê hương yêu dấu của tôi.

Người “em” trong bài thơ này là ai và có ý nghĩa gì?

Nhà thơ Hoàng Cầm:

            Em ơi buồn làm chi

            Anh đưa em về sông Đuống

Những câu thơ đầu tiên như thể có ai đọc cho tôi chép, chúng như thể những lời an ủi dịu dàng đối với tâm hồn đau khổ của tôi. “Em” ở đây tượng trưng cho nỗi khắc khoải của tâm hồn thi sĩ. Câu mở đầu là một lời an ủi nên các từ toàn là âm bằng dịu dàng. Tâm hồn thi sĩ vượt qua khoảng cách của không gian và thời gian tìm về làng xóm quê hương. Tâm hồn ấy muốn dằn vặt, muốn đau nỗi đau chung của quê hương. Chỉ cần bằng hai câu mở đầu đó thôi, bài thơ lập tức được chuyển về đúng khung cảnh của quê hương và qua đó có thể trực tiếp nói lên tất cả nỗi đau đớn dang giày vò mảnh đất ấy mà không cần phải dùng đến “nỗi nhớ” “nỗi li biệt” “nỗi xa cách” nữa. Như vậy chính tâm hồn thi sĩ đã trở về đúng nơi nguồn cội của mình. Ở mảnh đất yêu dấu ấy, bằng kí ức thơ ấu, bằng nỗi nhớ thương lo lắng không nguôi cho gia đình hoà trộn với ấn tượng từ lời kể  của Vương Văn Trà, tâm hồn thi  sĩ mường tượng ra tất cả, từng khuôn mặt từng dáng người, từng bờ cỏ, bụi cây.

Hình ảnh đầu tiên hiện ra thật  thơ mộng yên bình. Nhưng giờ đây khi một bờ là vùng giặc chiếm thì cả con sông như “nghiêng nghiêng” đau đớn. Theo tác giả, hình ảnh thơ này được hiểu như thế nào?

Nhà thơ Hoàng Cầm

Để hiểu câu thơ này trước hết phải hiểu được từ “nghiêng nghiêng”. Nếu chỉ dùng một chữ “nghiêng” thôi thì dòng sông được thể hiện trong trạng thái tĩnh. Còn khi dùng từ láy “nghiêng nghiêng” người ta có cảm giác dòng sông luôn xao động. Khi dùng chảy “nghiêng nghiêng” tôi muốn nói một sông Đuống trăn trở, vật vã, thao thức trong tâm hồn nhà thơ.


Trò chuyện về “Bên kia sông Đuống” - ảnh 1

Bên kia sông Đuống

 

Em ơi! Buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ

 

Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì


Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay

 

Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

 

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu ?

 

Ai về bên kia sông Đuống

Cho ta gửi tấm the đen

Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên

Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai

Trong chùa Bút Tháp

Giữa huyện Lang Tài

Gửi về may áo cho ai

 

Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu

Những nàng môi cắn chỉ quết trầu

Những cụ già phơ phơ tóc trắng

Những em xột xoạt quần nâu

Bây giờ đi đâu ? Về đâu ?

 

Ai về bên kia sông Đuống

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen

Những cô hàng xén răng đen

Cười như mùa thu tỏa nắng

Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen

Bãi Tràm Chỉ người dăng tơ nghẽn lối

Những nàng dệt sợi

Đi bán lụa mầu

Những người thợ nhuộm

Đồng Tỉnh, Huê Cầu

Bây giờ đi đâu ? Về đâu ?

 

Bên kia sông Đuống

Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong

Dăm miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm…

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn

Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo

Xì xồ cướp bóc

Tan phiên chợ nghèo

Lá đa lác đác trước lều

Vài ba vết máu loang chiều mùa đông

 

Chưa bán được một đồng

Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp trên bờ tre hun hút

Có con cò trắng bay vùn vụt

Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu ?

Mẹ ta lòng đói dạ sầu

Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ.

 

Bên kia sông Đuống

Ta có đàn con thơ

Ngày tranh nhau một bát cháo ngô

Đêm líu ríu chui gầm giường tránh đạn

Lấy mẹt quây tròn

Tưởng làm tổ ấm

Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm

Ú ớ cơn mê

Thon thót giật mình

Bóng giặc dày vò những nét môi xinh

 

Đã có đất này chép tội

Chúng ta không biết nguôi hờn

 

Đêm buông xuống dòng sông Đuống

- Con là ai ? - Con ở đâu về ?

 

Hé một cánh liếp

- Con vào đây bốn phía tường che

Lửa đèn leo lét soi tình mẹ

Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng

Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể

Những chuyện muôn đời không nói năng

 

Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống

Bộ đội bên sông đã trở về

Con bắt đầu xuất kích

Trại giặc bắt đầu run trong sương

Dao loé giữa chợ

Gậy lùa cuối thôn

Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn

Ăn không ngon

Ngủ không yên

Đứng không vững

Chúng mày phát điên

Quay cuồng như xéo trên đống lửa

Mà cánh đồng ta còn chan chứa

Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân

 

Gió đưa tiếng hát về gần

Thợ cấy đánh giặc, dân quân cày bừa

Tiếng bà ru cháu buổi trưa

Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu

"À ơi... cha con chết trận từ lâu

Con càng khôn lớn càng sâu mối thù"

Tiếng em cắt cỏ hôm xưa

Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay

"Thân ta hoen ố vì mày

Hờn ta cùng với đất này dài lâu..."

 

Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau

Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu

Cánh đồng im phăng phắc

Để con đi giết giặc

Lấy máu nó rửa thù này

Lấy súng nó cầm chắc tay

Mỗi đêm một lần mở hội

Trong lòng con chim múa, hoa cười

Vì nắng sắp lên rồi

Chân trời đã tỏ

Sông Đuống cuồn cuộn trôi

Để nó cuốn phăng ra bể

Bao nhiêu đồn giặc tơi bời

Bao nhiêu nước mắt

Bao nhiêu mồ hôi

Bao nhiêu bóng tối

Bao nhiêu nỗi đời.

 

Bao giờ về bên kia sông Đuống

Anh lại tìm em

Em mặc yếm thắm

Em thắt lụa hồng

Em đi trảy hội non sông

Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.

 

Việt Bắc, tháng 4-1948


Xin cảm ơn nhà thơ.

                                    (Trích từ Tác giả nói về tác phẩm - NXB Trẻ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác