Tôi vẫn yêu anh như buổi ấy...

“Trường Sơn không chỉ là một dãy núi mà là những cánh quân đông đảo hàng triệu người ra trận. Tôi gắn bó máu thịt với Trường Sơn và có thể nói, Trường Sơn đã đẻ ra nhà thơ Phạm Tiến Duật.

Trước đây, bây giờ và sau này nếu tôi viết được gì neo lại trong lòng bạn đọc chính là nhờ những năm tháng Trường Sơn” (Đi dọc cánh đồng thơ- Trịnh Thanh Sơn, NXB Hội Nhà văn)

Tôi vẫn yêu anh như buổi ấy... - ảnh 1
Nhà thơ Phạm Tiến Duật
Đầu năm 1970, xong khoá huấn luyện, đơn vị tôi lên đường vô Nam. Xe lửa một mạch từ Đáp Cầu đến Vinh rồi chuyển ô tô tải quân sự, đi tiếp. Cứ thế, ngày hành quân, đêm nghỉ. Cuối đất Quảng Bình là cuộc vượt tuyến xuyên rừng bằng đôi chân: ít đạn bom và pháo sáng dọc đường hơn, nhưng nhọc nhằn hơn. Đang lúc chưa biết đích đến là mặt trận nào và tuỳ theo đó có khi biết đến vài tháng không chừng thì chưa đến ngày thứ mười của cuộc hành quân chúng tôi dừng lại, cả tiểu đoàn tất bật từ quân tới lính được lệnh bổ sung cho một đơn vị mới được thành lập trên sườn Trường Sơn: Binh trạm 27.

- Đây thuộc đường dây 559?

- Phải.

- Có nhà thơ Phạm Tiến Duật?

- Phải. Mấy ngày trước vừa qua đây. Về Bộ Tư lệnh rồi.

- Bộ Tư lệnh ở đâu?

- Ở đâu? Gọi thử vào cái hữu tuyến này xem...

Vậy rồi cũng phải mất vài hôm, tôi mới liên lạc và làm quen được với con người có cái tên khá trúc trắc ấy qua đường điện thoại. Tôi kể rằng chúng tôi yêu anh đến thế nào, rằng vào cái buổi tối trước ngày lên đường, tôi tập hợp đại đội lại để đọc lên những bài thơ đầy cảm xúc lính của anh thì mới hay, những "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" và "Tiểu đội xe không kính", những "Lửa đèn" với "Gửi em cô thanh niên xung phong" ấy đã nằm cả trong hành trình những người lính trẻ của mình rồi; rằng tôi cảm thấy may mắn và tự hào được ở cùng một đơn vị với anh đấy, anh Duật ạ...

Giữa bom đạn chiến trường, cuộc làm quen văn chương hơi vội vàng rối rít ấy dường như lạc lõng? Có thể, nhưng không phải không có nguyên nhân, bạn trẻ ạ. Nếu tôi nói rằng vào cái thời điểm ấy, Phạm Tiến Duật và những chùm thơ Trường Sơn mới xuất hiện của anh trên báo Văn nghệ đang bắt đầu làm nên một hiện tượng độc đáo của thời thơ chống Mỹ thì có lẽ còn chưa nói gì. Tôi phải nói thế này, hãy tin đi: bạn đang lim dim tỉnh thức giữa trưa hè phải không? Thì đột ngột ào xuống cả thác nước. Cảm giác đầu tiên là ngạt thở, cảm giác thứ hai là trời sụp và thứ ba, rồi mới đến với bạn cái bất ngờ sung sướng được hưởng thụ. Và còn hơn cả một thác nước đột ngột trưa hè ấy chứ: bạn không chỉ một lần duy nhất hưởng thụ mà có quyền gặm nhấm nó hoài hoài... Đấy, thơ Phạm Tiến Duật đã đến với chúng tôi như thế!

Vâng, tưởng như cùng đứng lại trong quân khu Trường Sơn (Đoàn 559 còn được gọi như vậy), lại đã có phút làm quen qua sóng điện ngay từ buổi đầu ấy, chúng tôi sẽ có rất nhiều cơ hội để mà gặp nhau. Vậy mà phải đến 7, 8 năm sau, khi chiến tranh đã đi qua được gần 2 năm rồi, tôi và Phạm Tiến Duật mới có dịp được tương diện tại thủ đô Hà Nội. Chiến tranh mà, biết làm sao được. Mà Trường Sơn thì dằng dặc ôm cả chiến trường. Những năm ấy chúng tôi đã có không ít dịp "đuổi" mà chẳng có khi nào kịp "bắt" được nhau. Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tôi từ đường 16, anh từ đường 128, hẹn sẽ hợp quân ở SêPôn, rồi cũng không. Sau chiến dịch, miền Bắc gửi vào một đoàn văn công. Duật gọi điện như dao chém đá nhắn đợi, anh sẽ tháp tùng đoàn từ Bộ Tư lệnh Quân khu vào chỗ tôi mà cũng trượt nốt. Anh phải vội đi sư đoàn bộ binh 968, không kịp cả một lời nói đỡ. Nhưng đoàn văn công thì vẫn vào, và cô nghệ sĩ múa Cánh chim mặt trời xinh nhất đoàn đang làm tôi lấn bấn lúc ấy: "Có lẽ nào anh lại..." thì đã kịp khoe mấy câu thơ anh ghi tặng nàng trong sổ tay: Em cầm hoa ấy hoa gì?/ Cái cánh thì trắng cái thuỳ thì xanh? Phải gì hoa của riêng anh..." và giải thích: em bị kẹp ngón tay phải cuốn băng, xanh mê-ti-len (thuốc sát trùng) thấm từ trong ra... Tôi đã xin phép nàng được thêm vào một câu cho trọn bài: "Thưa rằng hoa ấy đã dành anh P..." và dặn khi trở ra "nhớ đưa cho ông Duật coi". Đến giờ tôi vẫn chưa có dịp hỏi lại...

*

Không thể không thừa nhận Phạm Tiến Duật có tài gì đó hơi đồng bóng trong tính cách. Anh uyên bác, sắc sảo nhưng cũng hồn nhiên, dễ dãi, ai nói gì cũng tin, hào phóng ban tặng lời khen, thoải mái bình luận cả những lĩnh vực còn thiếu thông tin. Nếu cần tìm ra nhược điểm, theo tôi đây chính là nhược điểm của anh. Nó làm hại anh ít nhiều và thường gây những "sự cố" nho nhỏ. Nhưng anh không nhận ra cũng chính từ sự hồn nhiên ấy. Khoảng mười năm sau Đổi Mới, có lần tôi phê bình cái "chính trị - tư tưởng" của anh bò hơi chậm, đến bây giờ mà vẫn viết "đây là vấn đề ai thắng ai", anh đã cự lại kịch liệt. Nhưng ngay tối đó anh lại gọi cho tôi: "Ừ, mày đúng..."

Duật luôn chỉn chu, râu tóc nhẵn nhụi, ngồi lên xe máy chỉ có một kiểu nghệt mặt thẳng về phía trước quan sát đảm bảo an toàn giao thông nhưng lại ít chú ý đến mình, ít lo cho bản thân. Hồi anh còn tá túc ở số 9, ngõ Yên Thế - gầm chạn cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, khách văn lại chơi vào cỡ 9 giờ tối thường chứng kiến màn gián lao vù vù như trực thăng đi càn, Duật vẫn thản nhiên gạt những chú gián "hạ cánh" xuống mặt mình để tiếp tục câu chuyện. Đồ đạc có giá duy nhất trong nhà lúc ấy là bộ xa-lông bằng gỗ xà cừ đường năm mà Tào Mạt đem đến. Biết anh chưa có nhà cửa, ông Lê Đức Thọ thân gửi một lá thư nhờ Hà Nội lưu tâm đến chỗ ở cho gia đình một nhân tài. Duật cũng chẳng nệ vào đó để xin chỗ thuận tiện hơn (dù không khó); anh vui vẻ ngày ngày leo lên tầng 5 - tầng cao nhất của ngôi nhà mới được xây dựng ở Trung Tự là người ta phân cho: "Vậy là quá tốt rồi!".

Nhưng Duật lại thương người, yêu bạn. Cái vụ "Vua lốp" dạo trước, ngang trái quá, nhà thơ bỏ đi làm phóng sự, giật lên tiếng chuông về tình cảnh khống nạn của "vua" cùng những bất cập ngổn ngang một thời kỳ chuyển đổi. Thương các nữ đồng đội Trường Sơn thuở nào giờ đây vào nương cửa phật, anh đi thăm, vừa đi vừa kóc để viết nên Tiếng bom và tiếng chuông chùa. Còn với bạn văn, Duật luôn sẵm lòng và nhiệt tình với những gì là mình có thể. Hầu như ai nhờ tựa hoặc bạt cho những tập thơ thậm chí tự xuất bản - anh cũng gắng giúp. Cái giỏi (và thiện chí) là Phạm Tiến Duật luôn khều ra được những sở trường lấp ló đặng làm nhẹ đi những sở đoản nhiều khi lại là "trường đằng đẵng" của tác phẩm và tác giả. Chẳng ngại mất danh, ông nói họ đang tập bước ấy mà, đừng làm họ ngã. Một lần - cái dịp anh đang làm Phó chủ tịch Hội đồng thơ - một bạn viết có tuổi, tóc phất phơ và đầu bóng loáng, mặt mày đỏ tía vì men rượu đến mắng anh sa sả vì vụ lại để ông ta trượt "cái hội viên". Duật rót nước mời, nhẹ nhàng giảng giải về cái chân của lý nằm ở đâu. Người đi rồi, anh ngồi thừ một lúc rồi bảo, người ta cứ nghĩ cái nọ tức là cái kia. Buồn thật.

Anh cũng chẳng ngại khen truyện ngắn và ba thứ linh tinh mà tôi viết ra khiến nhiêu lúc tôi phải bối rối. Nhưng anh cũng trách tôi lười viết, lười làm bạn văn chương với anh vì không chịu... làm đơn xin vào Hội. Hai lăm năm trước tôi và Duật cùng bắt tay vào một kịch bản truyền hình về một nơi máu lửa của một thời máu lửa của hai đứa, tên: "Đường Trường Sơn, những người lính nhớ lại". Không phải tài liệu, không phải phim truyện, không theo chiều dọc thời gian, một thứ hồi tưởng chủ đề, dự kến 10 tập. Vì một vài lý do, việc lúc ấy không thành khiến chúng tôi ngẩn ngơ. Rồi dòng thời gian cứ băng băng chảy, chốc đã đứng trước lễ kỷ niệm 50 năm con đường anh hùng. Mới rồi chúng tôi bàn nhau tìm cách khởi động lại dự án. Đang tính tới những khó khăn phải khắc phục thì bây giờ lại đứng trước khó khăn lớn nhất: sức khoẻ của anh. Gặp nhau trong bệnh viện, chúng tôi tự dưng thôi nhắc tới việc này…

*

Nếu có một điều gì đáng tiếc ở Phạm Tiến Duật thì có lẽ là đây: Anh đã leo qua đỉnh văn chương của mình quá sớm. Cầu Trời khấn Phật cho anh sức khoẻ để tiếp tục có những tác phẩm mới cống hiến cho đời nhưng dù vậy thì ta vẫn buộc phải thừa nhận điều này. Không phải đến bây giờ mà từ hơn 20 năm trước tôi đã cảnh báo anh. Duật không nói gì nhưng có vẻ không đồng ý. Rồi 10 năm sau đó khi tôi thất vọng khẳng định thì anh vẫn giữ một thái độ như vậy. Thôi, dù bởi tại “sự cố khách quan” nào hay bởi tại chính anh, ta tiếc nhưng không thể trách Phạm Tiến Duật. Thế giới không thiếu gì những trường hợp qua đỉnh còn sớm hơn anh ấy chứ. Và ở ta, một nhà thơ nổi tiếng khác chẳng đã qua đỉnh từ khi còn là một cậu bé con, mặc dù bấy giờ anh vẫn đang còn ở cái tuổi sung sức đó sao. Tinh anh đâu có thể hoài hoài phát tiết và Duật ơi, đỉnh của anh đâu vậy?

Đỉnh của anh là Trường Sơn! Từ vời vợi nơi này anh được ngắm nhìn tổ quốc gấm vóc và tự hào đã góp phần mình cho giang sơn mãi đẹp và bền vững thời chẳng sướng sao!

Trong một bài gần đây, nhà báo Đặng Vương Hưng đã viết một bài đại ý, lễ kỷ niệm 50 năm qua Trường Sơn - Hồ Chí Minh đang đến gần và “nếu phải chọn một người đại diện cho giới văn nghệ sĩ nước nhà đi dự kỷ niệm ấy thì không ai xứng đáng hơn Phạm Tiến Duật”. Đương nhiên, Đặng Vương Hưng đã yêu quý và đánh giá cao anh, nhưng viết như thế là chưa hiểu gì Phạm Tiến Duật là nhà thơ của Trường Sơn, là máu thịt với Trường Sơn và bộ đội Trường Sơn! Đấy là nói một cách hình tượng, còn trên thực tế, vào những dịp kỷ niệm như vậy, anh bao giờ cũng là một trong những nhân vật chính trong ban tổ chức, chịu trách nhiệm lên danh sách cần mời những ai. Mười năm với con đường máu lửa, mười năm đi khắp Trường Sơn với khẩu súng là ngòi bút - thơ, Phạm Tiến Duật đã để lại tất cả những gì cần để lại. Lính Trường Sơn, không chỉ bộ đội vận tải mà cả công binh, bộ binh, pháo binh, giao liên…- đều biết và yêu quý anh. Với họ, Phạm Tiến Duật là một cái tên quen thuộc và ấn tượng như ngã ba Dân Chủ, trong điểm Chà Lì, Bản Đông, Tha Mé, Mường Noòng… Thậm chí, nơi Duật ngồi ngẫu hứng ca lên:

Lại đi, lại đi, tình đời tha thiết thế

Chết cỏ đường người, trai gái mến thương nhau…

rồi cũng được định danh là “đá anh Duật”. Năm 1973 từ Trường Sơn tôi có gửi cho báo Văn nghệ một chùm truyện ngắn (rất tiếc, nhờ người đem đến tận 17 Trần Quốc Toản mà sau này toà soạn bảo không nhận được) trong đó có một truyện (tôi rất tâm đắc) về người lính lái xe và thơ Phạm Tiến Duật. Tôi có để tình huống đưa đẩy tới nhận thức ước lệ: Nếu trong chiến tranh Vệ quốc của Liên Xô, mỗi bài báo của Ilia Erenbua được đánh giá với sức công phá của một sư đoàn bộ binh thì ở đây, mỗi bài thơ của Duật mang năng lượng của một tiểu đoàn xe vận tải chiến lược. Vâng, giá mà bạn được chứng kiến những gì người lính Trường Sơn nói về anh, háo hức những câu thơ, lời hát mà mỗi lần ngân lên là mỗi lần thêm lửa; giá mà bạn từng nghe người chỉ huy cao nhất căn dặn phải bảo vệ anh như thế nào mỗi khi xuất kích cùng bộ đội vận tải chiến lược…

Sinh ra từ đồi rừng Phú Thọ, Duật từng viết: “Từ cây ta lại về cây/ Từ rừng lại trở về đây với rừng”; và cũng từng nói: “Trường Sơn không chỉ là một dãy núi mà là những cánh quân đông đảo hàng triệu người ra trận. Tôi gắn bó máu thịt với Trường Sơn và có thể nói, Trường Sơn đã đẻ ra nhà thơ Phạm Tiến Duật. Trước đây, bây giờ và sau này nếu tôi viết được gì neo lại trong lòng bạn đọc chính là nhờ những năm tháng Trường Sơn” (Đi dọc cánh đồng thơ, Trịnh Thanh Sơn, Nxb Hội Nhà văn).

Nhưng Duật đâu chỉ khu trú ở Trường Sơn. Nói về sự được yêu thích và tính phổ biến thì thơ Phạm Tiến Duật của thời chống Mỹ có thể so sánh với thơ Tố Hữu của thời kháng Pháp, nhưng hiệu ứng tích cực và sức lan toả, công bằng mà nói thì hơn bởi các phương tiện truyền thông báo chí thời này đã khá hơn rất nhiều, chưa nói thơ anh còn được phổ nhạc. Không thể không nhớ lại những năm khói lửa, thơ của Duật được đọc lên trong các giảng đường, trong những chặng nghỉ hành quân, trong rủ rỉ đôi lứa bên nhau trước giờ người con trai lên đường ra trận. Thơ của anh được hào hứng đón nhận vì nó lạ về thi pháp, nó quá đẹp mà giản dị về ngôn từ, rất giàu cảm xúc và hình tượng một thời chiến tranh giải phóng, nó tuyên truyền đấy mà không có tự thân mục đích tuyên truyền. Vâng, vì nó được sinh ra từ cảm thức quần chúng, cảm thức lính, cảm thức thế hệ. Sướng là vậy!

Chính vì thế, Tư lệnh Bộ đội 559 Đồng Sĩ Nguyên đã nhiều lần được nhắc đến với những lời đánh giá sâu sắc về Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây và coi đó là bản quân ca trữ tình của Bộ đội Trường Sơn. Và cũng chính vì thế, Lửa đèn dường như đã trở thành cổ điển ngay cả khi tác giả vẫn đang còn sáng tác. Nhạc sĩ Huy Loan lấy cảm hứng từ Lửa đèn để viết nên một giao hưởng thơ 3 chương và Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia đã trình diễn ở Nhà hát lớn. Năm 1969, chàng sinh viên công nhạc O(nay là Nghệ sĩ Nhân dân) đang thụ giáo ở nhạc viện Anh lặng lẽ cất tờ báo vào đáy vali và bây giờ đang lôi ra để dựng một vở ba lê hoành tráng. Được biết Trung thu này Nhà văn hoá Thanh niên Hà Nội dự kiến làm một cây đàn kéo quân thật to, thật đẹp, cỡ Guiness Việt Nam, trên đó sẽ khắc vào những dòng hàn sảng: “Ta sẽ làm cây đàn kéo quân thật đẹp/ Cho những người những cảnh hôm nay/ Hiện muôn đời trên mặt ngọn đèn xoay…” (Lửa đèn). Một nhà làm phim nước ngoài, Evann Ham, có lần nói với tôi anh rất muốn làm một bộ phim dựa theo Lửa đèn. Việc Evann còn đang dự tính thì hãng truyền hình ABC (Australia), trong loạt phim The Vietnam Peace, đã dựng một trường đoạn nhiều cảm xúc nương vào Gửi em cô thanh niên xung phong, Tiểu đội xe khônh kính, Vòng trắng.

Tại sao không có ai nghĩ ra việc tặng Huân chương cho những nhà thơ chỉ do những dòng thơ cống hiến của họ?

Và với tôi, dù có thể các Hội đồng quan phương có cách nhìn của họ, tôi nhìn vào hiệu ứng tích cực của sự vật để giơ tay xin dành cho Phạm Tiến Duật phần thưởng cao quý nhất mà anh xứng đáng được hưởng. Hỡi những người yêu thơ và những bạn cùng thời, các bạn có đồng ý với tôi?

Nhà thơ Phạm Tiến Duật sinh ngày 14 tháng 1 năm 1941. Quê quán: Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Hiện thường trú tại: Hà Nội. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Văn khoa, nhà thơ Phạm Tiến Duật gia nhập quân đội. Sống và viết trong chiến tranh trên đường mòn Hồ Chí Minh. Từng là phó Trưởng ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam. Tổng Biên tập tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (7/2001-6/2006).

Tác phẩm chính: Vầng trăng quầng lửa (Thơ, 1970); Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994); Ở hai đầu núi (Thơ, 1981); Vầng trăng và những quầng lửa (Thơ, 1983); Thơ một chặng đường (Tập tuyển, 1994); Nhóm lửa (Thơ, 1996); Tiếng bom và tiếng chuông chùa (Trường ca, 2000); Vừa làm vừa nghĩ (2003).

Nhà thơ được nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, đợt I, 2001.

VŨ CAO PHAN (Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác