Tôi muốn sống lại cái đời học sinh (*)

Mùa thu là mùa tựu trường. Mùa thu cũng là mùa của những cảm xúc rạo rực lòng người. Từng sống qua tuổi học trò, từng làm nghề dạy học tư trước khi trở thành công chức, mỗi khi thu về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng vẫn thấy lòng xốn xang trước những tà áo dài nữ sinh tha thướt, trước cảnh trời đất tĩnh mạc và những cảm hứng của sự sáng tạo và dấn thân. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc vài đoạn nhật ký của tác giả vở kịch Vũ Như Tô tương lai.

13-9-1938

Tôi muốn sống lại cái đời học sinh (*) - ảnh 1
Huế nay
Trời thu mát và xanh xanh. Trước cửa trường nữ học Đồng Khánh (1), một cảnh tượng như vẽ hiện ra: các nữ thí sinh thi vào năm thứ nhất trường Cao đẳng tiểu học. áo xanh, áo tím, áo đỏ, áo trắng, các cô yên lặng, như một bức tranh. Một bức tranh sống, vẽ trên một nền xanh đen, nhưng sáng, và rõ, vì trời vừa tạnh mưa. Những thân hình thướt tha, những màu khác nhau và hoà với nhau, nhưng thứ nhất, cái vẻ thê lương của ngày thu tĩnh mạc, nó có cái gì khiến cho tôi cảm thấy buồn: buồn do nhớ tiếc, do thèm muốn. Tôi nhớ lại cái lúc đi học, cái ngày khai trường và tôi tiếc những ngày ngây thơ. Và cái buồn nó thấm thía, tôi thấy đời tôi trống trải - trống trải tình yêu. Lòng của cái người 27 tuổi là tôi này, rộng quá, như cái nhà bỏ không, chưa có tình yêu nó như đồ đạc làm cho êm đềm và có sinh thú. Tôi nhìn những cô nhỏ, độ 13, 14 tuổi, họ chỉ bằng nửa tuổi tôi. Tôi thấy họ xa tôi, mà tôi xa họ quá. Họ như lãnh đạm với tôi, và như không có liên lạc gì với đời tôi cả. Tôi muốn sống lại cái đời học sinh. Cái đời học sinh của tôi thuở xưa nó tẻ ngắt, nhưng không sao: nó đẹp vì ngày ấy tôi là học trò, tôi không lo nghĩ như ngày nay - lo nghĩ tức là người nhớn: tôi không thích làm người nhớn.


16-9-1938

Tôi lại gặp nàng, người con gái Hàng Vôi. Cả một buổi sáng hôm nay, và đến bây giờ nữa, tôi sung sướng, tôi vui vẻ. Tôi lại được trông thấy mặt nàng mà tôi thường ao ước, nhiều khi một cách thất vọng. Sáng hôm nay, trường nữ học Đồng Khánh khai trường. Tôi đinh ninh từ bao nhiêu lâu, mong mỏi cái ngày quan trọng ấy. May ra nàng còn đi học, thật là hạnh phúc cho tôi để được gặp nàng. Quả nhiên, tôi gặp người yêu: sáng hôm nay, tôi soi gương thấy đẹp hơn mọi ngày. Tôi rẽ xe đạp vào phố Carreau (2) nơi các cô đợi giờ vào học. Ngay đầu phố, tôi gặp nàng đứng nói chuyện với bạn. Nàng không trang điểm, da nàng hơi đen, người nàng có lẽ đẫy hơn trước: nàng đi tắm bể về chăng? Đẹp hay không, cái đó không nhìn gì đến tôi; tôi thấy mặt nàng, thế là đủ. ở trong sở tôi ngồi đánh máy, chỉ sợ nàng nom thấy thì ê. Lắm lúc tôi nghĩ: “Có lẽ bây giờ nàng đang ngồi trong lớp mà nghĩ đến tôi.” Cái cảnh cô con gái ngồi học buổi khai trường, nó mới thú vị làm sao! Tôi thấy tôi sung sướng đầy đủ: hi vọng chứa chan, tôi mất hết cái vẩn vơ. Tôi muốn làm việc cho tên tuổi và vì nàng. Tôi muốn dâng nàng cuốn sách của tôi. Ôi sung sướng biết bao khi tôi biết nơi ăn chốn ở của nàng mà đột ngột gửi biếu nàng một cuốn sách!


17-9-1938

Như một người mẹ lúc lâm sản phải chịu bao nhiêu nỗi đau đớn, người văn sĩ trong công cuộc sáng tác cũng phải chịu bao nhiêu nỗi vất vả. Cũng như người mẹ trước khi sinh nở, thì lo ngại, sợ hãi, không được yên tâm, người văn sĩ cũng phải trải qua những nỗi thất vọng, những sự chán nản. Nhưng một đứa con đem lại cho đời bao nhiêu sinh thú, và một tác phẩm hay sẽ làm cho tác giả tự phụ biết bao! Sao ta lại sợ đau khổ? Sáng tác khó nhọc, nhưng sáng tác muôn năm. Người đàn bà không sinh nở thì khô khan và lẻ loi chán ngán: họ ao ước cái đau khổ mà không được. Làm người phải có sáng tác, cũng như người đàn bà phải sinh nở.

Tôi đi suốt buổi chiều qua lại trường Đồng Khánh để được gặp người yêu của tôi khi tan học. Trước cửa trường, vài cô nữ học sinh đứng nói chuyện. Và ở trong trường, những người lưu trú, áo màu khác nhau, đang đi đi lại lại, người vào nhà này, người vào nhà kia, ẩn ẩn hiện hiện và trông qua những cây trong sân, các cô hình như những nàng tiên trong bồng cảnh: mắt trần có thấy, nhưng người trần không thể gần được: ôi thâm nghiêm!


20-9-1938

Tôi muốn sống lại cái đời học sinh (*) - ảnh 2
Mùa thu ở Huế
Anh Đoan hỏi tôi có biết ông Tham Hiền ở Thái Nguyên không? Tôi nói có biết, và tôi đã dạy học ở nhà ông năm 1935, trong khoảng nửa tháng. Đoan cười mà đưa cho tôi một lá thư nặc danh viết bằng bút chì. Tôi xem, tái hẳn người đi. Trong thư họ xoi mói cả việc ông Hiền cho vợ vào hầu quan Công sứ...

Tôi cố không tin. Tôi cố thoá mạ những kẻ viết thư nặc danh. Tôi cố nói: Ta nên cực lực bênh vực những người bị nói xấu mà không biết. Bà Hiền: cái tên mà nói đến tôi không khỏi thán phục và tôn kính. Tôi còn giữ của bà một kỷ niệm sâu xa. Người bà đẹp, đẹp một cách quý phái thanh cảnh. Người thế ấy, con một ông quan thì phải, có một giọng nói tuyệt hay, nước da tuyệt trắng. Tôi còn nhớ một buổi bà mặc áo cánh lụa, quần trắng: bà vừa tắm xong, người bà như thở cái trong sạch - tôi còn nhớ buổi ấy, bà đứng nói chuyện với tôi trong phòng mà bà sai dọn riêng cho thầy giáo. Tôi được gần bà, và tôi được ngắm đôi mắt trong trẻo tuyệt đẹp của bà. Lần đầu tiên tôi có cái diễm phúc được thưởng thức đôi mắt của người đàn bà kiều mị: và tôi chịu cái ơn huệ ấy suốt đời. Ngày ấy, tôi còn là một anh học trò quê mùa, tôi tôn kính bà, và chỉ có thế thôi. Một hôm nữa, đứng trên gác, tôi nhìn xuống dưới nhà: bà đang đánh đu một mình, áo đỏ bà mặc bay phấp phới. Tôi không thể quên được cái cảnh thần tiên ấy. Nhưng tôi thành thực quí bà: bà đẹp, bà tử tế, bà hiền từ, bà lại trọng vọng thầy giáo. Tôi đã đi dạy học nhiều nơi: không đâu tôi được đối đãi một cách đặc biệt như thế. Hai đứa con giai của bà giao phó cho tôi, một đứa nhỏ học dốt không thể tưởng tượng được, và đứa nhớn là thằng Hậu thì thông minh lạ lùng. Chúng nó ngoan ngoãn, lễ phép, sợ hãi tôi, khiến cho hễ khi chúng nghịch ngợm mà người ta doạ đi mách tôi là chúng ngoan ngay. Tôi yêu thằng Hậu một cách đặc biệt vì nó vừa hiền lành, vừa nhỏ nhắn, vừa thông minh. Cái hình hài mảnh khảnh của nó dễ yêu quá...

Không, tôi hết sức xa những ý tưởng hắc ám, và coi người đàn bà Huế mà năm xưa tôi kính trọng như là một người hoàn toàn. Người đẹp như bà không thể có một vết nhơ trong thân thể được. Tôi có lẽ yêu bà, một cái yêu lặng lẽ, thành kính, nhưng là một cái yêu vô ý thức, tiềm tàng. Cho nên nói đến bà, tôi bao giờ cũng nói tốt cho bà, cũng tán dương con người tuyệt phẩm ấy. Tôi vẫn tin rằng bà vẫn xứng đáng với lòng yêu thực thà của tôi.


30-9-1939

Tuất (3) ở một tháng nay đi ở chỗ khác, cháu Mẫn (4) cũng vào trường làm lưu trú học sinh; họ đi, tôi bỗng cảm thấy một sự trống rỗng trong linh hồn. Tôi nhớ cảnh nhà khi hai người ấy cùng ở. Khi cười, khi nói chuyện, khi ghét, khi không bằng lòng, khi đánh đàn, khi tán, khi bỡn cợt những cô con gái láng giềng. Tất cả bao nhiêu sự sum họp đã biến cả. Cảnh trời thu khô khan, đêm lạnh. Đây là mùa thu thê lương. Đây là mùa hoa đã kết trái, trời đã về già, đây là mùa đầy đủ của trời đất, sao tôi không có chút gì trong người để phòng ngày rét mướt? Linh hồn trống rỗng, trong lòng không có một chút cảm tình, tình nghèo mà tiền cũng nghèo. Tôi muốn ca thu, mà tôi không sao gẩy được đàn lòng. Tôi muốn nói, mà tôi không sao nói được. Tôi muốn hỏi sao tôi còn lận đận? Than ôi! Thu buồn quá đối với tôi!


4-10-1939

Qua nhà cô Phúc. Buồn vơ vẩn. Cô đã đi lấy chồng. Cái gì đã mất, cái gì đã qua, cái gì đã đành, cái gì không trở lại. Tôi thấy như bâng khuâng, mất cái gì, tiếc cái gì, một chút linh hồn, một chút lòng đã tiêu và mất hẳn. Từ đây, sẽ hết, mất hẳn, cái sự chuyện trò lặng lẽ bằng con mắt, cái mặt bẽn lẽn của nàng khi tôi đi qua, cái vẻ cúi mặt hiền từ và sợ sệt, cái nhìn trộm, cái nhìn theo, cái dáng điệu; từ đây sẽ mất cái người đã muốn gửi vào tôi; người đã có phen thấy tôi, thì ra phố đi lại, hoặc mua bán gì, khuyến khích mình theo đuổi mà mình không dám. Chiều hôm nay, khi ở sở về, trời thì khô, bụi bay, và khí nóng. Trông vào nhà nàng, vắng bóng người ngồi đan. Nhớ khi gặp nàng ở hội chợ, đẹp quá chừng nhưng nhu mì trong bộ áo nhung hồng, với cái khăn quàng vuông tết khéo - nhớ khi gặp nàng đi chiếu bóng về, còn lừng chừng đứng đợi - nhớ nhất đôi mắt ngây thơ, nét mặt hiền lành. Tất cả cái gì nó còn vướng vào thời gian, cái thời gian nó đi qua, đi không trở lại; tất cả cái gì nó còn trẻ, nó còn tỏ rằng mình còn trẻ, tất cả cái gì còn hi vọng, cái hi vọng chứa chan, tuy chẳng hi vọng gì, tất cả cái gì nó nhắc mình sống, vì có một người để ý mà mình ru trong mộng tưởng; tất cả cái sung sướng khi được người ta yêu, mà cái yêu ấy đến đây sẽ kết liễu, hay sẽ tiêu tan dần dần, - tất cả cái ấy, xen lẫn với cái tiếc bâng khuâng, không căn cứ, tiếc cái sắc đẹp, thương cho sắc phai, chán cho kiếp con gái, ngao ngán vì thời gian; rồi đây nàng sẽ đẻ con, gánh vác gia đình, tần tảo cho tròn phận sự. Rồi cuộc đời kéo dài, mươi năm nữa, nước triều sẽ dâng, hay cát phủ, nàng gặp ta, ta gặp nàng, không nhận ra nhau nữa.


10-10-1939

Đi trả bạn mấy quyển sách cấm. Tưởng đến một truyện: Một chàng thanh niên sang trọng là vị hôn phu của một nữ lang, con nhà danh giá. Yêu nhau. Sự thân mật của hai người trước khi cưới. Chợt chàng bị bắt vì chính trị. Cảnh tiễn chàng trong xe hoả đi đầy. Nàng quên dần nỗi nhớ, rồi lấy chồng theo lời khẩn cầu của cha mẹ nàng. Kết cục: chàng chết...

Tôi nghĩ như vậy, vì khi đi đường, trong mình giắt những quyển sách cấm, sợ bị bắt. Nhưng sự thực là tôi tìm được nhà bạn, trả được sách, cùng bạn đi chơi trên hồ Trúc Bạch, và giữa đêm thu lạnh, bốn phía vắng tanh, bạn tôi mơ màng và đau đớn, xé sách ra từng mảnh, vứt xuống nước đen, cảnh tượng vừa thương tâm vừa lén lút.


(GD&TĐ)

-------------------------------

(*) Tiêu đề do báo đặt lại.
(1) Nay là trường THCS Trưng Vương, Hà Nội.
(2) Nay là phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội.
(3) Bạn học cũ của tác giả từ hồi học thành chung, trường Bonnal, đầu những năm 1930 (nay là trường PTTH Ngô Quyền, Hải Phòng).
(4) Cháu gọi tác giả bằng cậu ruột.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác