Tôi đã đến với thơ như thế nào

Vì sao tôi làm thơ ? Đấy là câu hỏi mà suốt trong những quãng đời sáng tác ngắn ngủi của mình, Hàn Mặc Tử luôn luôn tự hỏi. Câu hỏi ấy hẳn đều có ở những người làm thơ. Ai mà chẳng hơn một lần như thế?

Vì sao tôi làm thơ ?

Tôi đã đến với thơ như thế nào - ảnh 1

Hai nhà thơ Nguyễn Hoa, Nguyễn Thuỵ Kha

Với Hàn Mặc Tử là vì “nàng đánh tôi đau quá”. Nàng ở đây với nghĩa rộng là cả đời sống. Đời sống dưới con mắt cảm thụ của thi sĩ, đã quyến rũ thi sĩ như một người con gái và buộc anh ta phải thốt lên lời.

Xuân Tửu có viết (tạp chí Văn hoá 8/69. Nghĩ về thơ): “Khi còn giữ được phẩm chất con người thì người ta, ai cũng vốn là một nhà thơ cả. Chỉ khác nhau mỗi một điều: đó là một nhà thơ đã tự biết mà thôi. Đó là một nhà thơ đã ngâm thành lời, chưa viết lên giấy mà thôi”. Đúng là trong văn học, thơ là thể loại phổ cập nhất. Ngắn gọn, có vần, có nhạc, dễ nhớ, dễ truyền, lại giàu cảm xúc, hình tượng, thơ thật dễ đi vào lòng người. Thơ đã in trong tiềm thức của mỗi người từ thủa mới lọt lòng, qua lời ru của mẹ. Đến tuổi thanh thiếu niên, ngay trên ghế nhà trường, không ít người mê thơ và thích làm thơ. Nhưng thơ dễ làm mà cực kỳ khó hay. Nhưng cũng vì vậy mà người sáng tác thơ và bạn đọc thơ nhiều khi cũng có trong một con người.

Đối với người làm thơ, có lẽ ý nghĩa đầu tiên là giải thoát nội tâm. Thời thơ ấu, tôi có thích văn học. Nhưng mãi tới năm học lớp bảy tôi mới có dịp về thăm quê nội ở Sen Hồ- Hà Bắc. Đấy là một ngôi làng xinh xắn và tĩnh mịch. Buổi chia tay với quê nội về nhà, bỗng dưng trong tôi xuất hiện một tình cảm khác thường và chẳng biết có xui khiến, tôi đã viết một bài thơ. Tôi chỉ nhớ lơ mơ vài câu thơ sau:

Xa rồi mái tóc bạc phơ

xa rồi Nếnh buổi sớm mai nhộn nhịp…

Bác ở đây là bác ruột (chị gái bố). Rõ ràng khi ấy, tôi là một nhà thơ chủ quan. Nhà thơ chủ quan chỉ chìm ngập trong chính mình, chỉ sống với xúc động, thích thú của mình. Thi ca được anh ta coi như một thứ tự thuật và giải thoát.

Hồi ấy, anh Duy Khán trong một dịp về Hải Phòng đã gặp nhà thơ Thúc Hà- đồng thời là thầy dạy văn cấp 3 của tôi. Anh Khán cho tôi biết rằng thầy Thúc Hà vẫn theo dõi thơ tôi và đặc biệt là nhắn tôi về sao chép lại tập thơ tôi đã tặng thầy cách đây 15 năm. Nghe anh Khán nói mà tôi bàng hoàng. Tôi không còn nhớ tập thơ thế nào và mình làm trong hoàn cảnh nào. Dần dần, tôi mới nhớ ra. Đó là mùa hè năm 1967, mùa hè đặc biệt ở Hải Phòng lúc đó, tôi học đại học và về nghỉ hè. Tôi về Hải Phòng sau một năm xa cách, trong một đêm tối trời. Nhìn thành phố đổ nát nhưng con người vẫn sống, vẫn cười đùa, vẫn đi lại nhộn nhịp, tôi lại thấy lòng mình lắng hẳn xuống. Sau đó bài thơ “Đêm về trên bến cảng” ra đời. Tôi còn nhớ vài đoạn như sau:

Ta đi mà nghe lòng rạo rực

ừ phải đâu nào ta thao thức

những góc phố con sơ tán cửa đóng im

ta không được về sum họp lúc trời đêm

nhìn lại hàng phấn ghi lòng nghẹn lại

hẹn hò ư? Mấy chữ đơn sơ

nhưng tình cảm cũng từ đây cuộn sóng

ta ghé hồn uống một nguồn thơ…

Bài thơ không hay nhưng rõ ràng ở lúc này, tôi không còn là nhà thơ chủ quan nữa. Ngoài nhu cầu giải thoát tâm trạng, tôi còn muốn nói một điều gì với người đọc bài thơ về sức sống của Hải Phòng trong những năm ác liệt đó. Trong dịp ấy, tôi đã làm tập thơ lấy tên là “Suối lửa” và đem tặng thầy Thúc Hà. Sở dĩ tôi không nhớ vì sau đó, tôi lao vào khoa học tự nhiên. Anh Khán nói đã xem và thấy có những bài thơ hay. Đó là lời phát biểu của bạn đọc. Tôi ngẫm ra thấy một điều là khi tác phẩm được hoàn thành thì tác phẩm trở thành một vật chất độc lập với nhà thơ. Nó tồn tại một cách khách quan, ngoài sự đòi hỏi, ước muốn của nhà thơ.

Tôi thực sự có ý làm thơ từ lúc vào bộ đội. Lúc đó tâm hồn tôi giằng co bởi những ước mơ khao khát bị gác lại với thực tại gian khổ mà người lính phải chấp nhận. Đến nay sự giằng co đó vẫn là nét chủ đạo trong thơ tôi. Tôi cho đó là cấp tâm lý của thời chống Mỹ, cấp tự ý thức. Nó cao hơn cấp tâm lý thời chống Pháp- cấp ý thức. Lúc tôi thực sự muốn làm thơ để khám phá, để đóng góp những phát hiện làm hoàn chỉnh chân dung người lính thế hệ mình là lúc tôi gặp nhà thơ Anh Ngọc. Có thể xem Anh Ngọc như một người bạn tâm đắc, một người thầy trong những ngày đầu bỡ ngỡ. Nhờ Anh Ngọc, tôi nhanh chóng rút ngắn được những khoảng cách ban đầu của người làm thơ. Tôi bước đầu hiểu được thế nào là ý tứ, rồi lại hiểu viết làm gì, viết cho ai. Một người thầy nữa là những đồng đội. Họ- với tư cách bạn đọc đã góp cho tôi biết bao ý kiến chân thành. Những người ấy, có người đã hi sinh. Nhưng tất cả những cảm tình đó đã nuôi dưỡng mãi tâm hồn, cảm xúc của tôi.

Tôi nhớ mãi kỷ niệm bài thơ đầu tiên được in báo Quân đội Nhân dân ngày 13-5-1974. Lúc đó tôi đang cùng phân đội của mình làm nhiệm vụ chuẩn bị cho chiến dịch ĐắcPék. Và do cái “Nắng Bến Giàng” nghiệt ngã, tôi bị sốt rét khá nặng. Giữa lúc tôi còn xanh như tàu lá, một người bạn mang tờ báo đến cho tôi. Tôi cảm động đến nghẹn ngào. Thì ra mọi cố gắng của tôi đã không uổng. Ngày hôm ấy, bài thơ của tôi đã đến với bạn đọc. Tôi không còn thấy mệt mỏi nữa. Tác động của bài thơ in đầu tiên ấy đã cho tôi một nguồn sống rạo rực mãi cho đến ngày mở chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975. Với kỷ niệm này, tôi thật cảm ơn anh Khánh Vân.

Kể từ năm 1974 đến nay đã hơn 30 năm, qua từng chặng, từng chặng, tôi đã phấn đấu để tự vượt lên mình, tin mình. Nghe ngóng ý kiến bạn đọc nhưng tôi theo đuổi thị hiếu tầm thường. Điều phấn đấu của tôi cố gắng là ít nhất mỗi bài thơ cũng phải đem tới bạn đọc một lượng thông tin mới mẻ. Và chính vì cố gắng ấy mà bạn đọc lại tác động lại tôi khiến tôi sáng tạo nhiều hơn. Năm 1981, tôi in 15 bài thơ trong đó có 9 bài ở sách, tạp chí, báo Trung ương và 6 bài ở các địa phương. Cả 15 bài ra đều có dư luận ít nhiều. Điều đó đã tác động ngược về tôi. Vừa phấn khởi, tôi vừa băn khoăn không hiểu mình có vượt hơn mình nữa không?

Bài thơ cuối cùng tôi in trong năm 1981 là bài “Với Alêhô Cácpênhtie” (Số 50- Báo Văn nghệ 1981). Đó là bài thơ làm ủng hộ Cu-Ba. Nhưng tôi đang phấn đấu vượt qua tầm thời sự. Tôi muốn mang tới độc giả Cu-Ba xa xôi sự ngưỡng mộ, tấm lòng của một người làm th Việt Nam đến đất nước Fiđen- Caxtơrô. Thật rõ ràng là bài thơ sau khi ra đời đã tồn tại hơn ý tưởng của tôi.

Cũng năm đó, tôi in dự thi bài thơ “Những giọt mưa đồng hành” ở báo Văn nghệ và năm 1982, bài thơ đã được trao giải cao của cuộc thi. Năm 1983, bài thơ được dịch giả Nga Raiépski dịch và in ở tạp chí “Thế giới mới” (9-1983). Tôi đã đến với thơ chầm chậm như thế, tới tận bây giờ và mãi mãi.

NGUYỄN THỤY KHA
(Biệt trăm năm - Thơ và tiểu luận)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác