Tết xưa ở quê

Một năm đã sắp cạn. Một cái Tết nữa lại đang đến. Nhưng không làm người cao tuổi như tôi nôn nao, chờ đợi, chỉ xui nhớ lại những cái Tết ngày thơ ấu ở quê làng, mãi mãi lắng sâu trong tiềm thức.

Phải ở lứa tuổi ấy mới xốn xang, mới rộn rực lên lúc năm cùng tháng tận - Tết. Tết đến thì có tiền mừng tuổi để bỏ vào con lợn đất. Tết đến thì mới có những quả pháo mà nổ cho sướng tay và sướng tai. Tết đến thì mới có trống bỏi mà lắc, có cái tu huýt mà vừa chạy vừa thổi, có con tò he mà xoay xoay ngắm nghía và tối đi ngủ thì đặt vào hộp vào lọ để lũ chuột khỏi mò tới bởi nặn bằng bột, rồi để ngay đầu giường. Tết đến thì mới có bộ quần áo mới. Cả năm chỉ mặc độc quần áo cũ, quần áo vá.

Tết xưa ở quê - ảnh 1

Tết xưa là niềm vui của trẻ con. Trẻ con nhà nghèo thì vui cái nghèo, trẻ con nhà giàu thì vui với cái đủ đầy, thừa thãi.

Màu sắc, hương vị Tết  hiện ra sớm nhất là ở chợ. Quê tôi có cái chợ mà sách địa lý lớp ba thời thuộc Pháp (trước tháng 8 năm 1945) liệt hạng là một trong ba cái chợ lớn nhất các huyện của Thanh Hoá - chợ Ghép. Chợ họp một tháng sáu phiên, nghĩa là cứ 5 ngày thì họp một phiên. Phiên đầu tiên trong tháng là ngày mồng Một Âm lịch. Ở vài phiên đầu tháng Chạp đã thấy lác đác các hàng bán măng khô, mộc nhĩ, các hàng bán mật mía (để nấu chè, làm bánh mật, bánh ít, chè lam và chấm bánh chưng). Một số tỉnh bắc miền Trung có thói quen ăn bánh chưng chấm mật. Rất ngon. Gia đình tôi hầu hết mọi người đều quen ăn bánh chưng chấm mật. Bạn bè ở Hà Nội ban đầu nhìn thấy đều lạ. Lạ như người Nga nhìn thấy tôi ăn dưa hấu mà chấm muối cái năm đã lâu ở Matxcơva và Lêningrát (cũng là thói quen của người Thanh Hoá). Nhưng phải đến phiên ngày 25 và 30 tháng Chạp mới đông đúc nhất, rực rỡ, màu sắc và hương vị nhất.

Tết ở hai phiên này là đủ đầy, trọn vẹn nhất. Tuồng như mọi sản phẩm làm ra cả năm của vùng quê tôi và của nhiều vùng quê khác nữa bây giờ mới được đưa tới đây trưng bày ra hết. Người người chen vai thích cánh, mặt bằng chợ không còn một mảng trống.

 Tết xưa ở quê - ảnh 2Tết xưa ở quê - ảnh 3

Hãy nói phiên 25 tháng Chạp. Ngoài ngõ chợ, đã thấy một vài ông đồ hoặc là người viết chữ Nho (chữ Hán) đẹp trải chiếu ngồi đó để viết câu đối thuê và bán câu đối viết sẵn. Trong chợ thì đã đủ các mặt hàng: lá dong gói bánh chưng, lá chuối khô gói bánh mật, bánh ít, bánh gai, lá chuối tươi gói bánh nếp và gói nem thính, ống giang chuyển từ các huyện miền núi về để làm lạt buộc bánh, gạo nếp, đậu xanh… Thật ra người từ Thanh Hoá trở vào miền Trung và Nam Bộ không làm bánh chưng như ngoài Bắc bộ. Mà chỉ làm bánh tét. Riêng ở quê tôi thì người ta gọi là bánh ống (vì hình thù dài như một chiếc ống) hoặc bánh đòn (vì bánh luộc xong thì buộc dây treo lên cây đòn bắc ngang cho ráo nước và không bị hấp hơi, nhanh bị mốc). Bánh tét để được nhiều ngày sau Tết hơn là bánh chưng, rán ăn cũng ngon hơn. Rồi nữa là hàng hương. Thanh Hoá có hai loại hương đặc sản là hương xạ và hương bài. Hương xạ thì người ở Quán Giò thuộc thành phố Thanh Hoá sản xuất quanh năm. Hương bài thì nhiều làng quê như làng tôi đều làm được, nhưng một năm chỉ làm một lần.

Rất nhiều người Thanh Hoá đã xa quê, sinh sống ở nơi khác không thể nào quên được mùi thơm đặc biệt của hai loại hương ấy. Rồi nữa, liền kề với hàng hương là hàng hoa, hoa giấy, gồm hoa cắm lộc bình và hoa thờ (gọi là hoa ông vải). Nói về hoa ông vải, phải nói đó là thứ hoa nghệ thuật- tâm linh, được cách điệu rất tài tình. Làng quê xưa kia gần như không có ai chơi hoa thật. Hoa đào cũng không trở thành thương phẩm bán ngoài đường ngoài chợ. Làng tôi cũng như rất nhiều làng trong huyện trong tỉnh hầu như nhà nào cũng có trồng một cây đào để Tết đến thì có hoa, nhưng không cắt vào cắm ở trong nhà như ở thành phố. Nhà nào vì đất hẹp không trồng được thì Tết đến cũng rất dễ dàng xin được một cành của họ hàng, của làng xóm.

Trẻ con vẫn là những nhân vật của vui nhộn, xông xáo của chợ Tết. Chúng luồn lách, len lỏi khắp chợ để tìm mua đồ chơi. Tiếng trống bỏi tưng tưng… rung lên khắp chợ những âm thanh vừa giòn vừa êm. Tiếng tu huýt vui như tiếng chim tranh nhau hót lên không dừng không ngớt. Chúng không bỏ qua một hàng bán các loại pháo nào. Pháo là niềm ham mê tột cùng của chúng.  

Không nói chợ Tết đông vì người mua người bán, mà còn đông vì người đi chơi chợ. Đi chơi chợ Tết là một sinh hoạt cộng đồng đầy thích thú. Khi lớn lên, đi học xa nhà nhưng không năm nào tôi bỏ cái thú đi chợ Tết. Chợ, nhất là chợ Tết, có thể nói là một Hội chợ hàng năm của làng quê. Vui lắm. Người có tuổi thì ngắm và chọn mua các vật phẩm cần cho Tết. Trai gái làng và ở các vùng lân cận thì mua vài thứ gương lược, găm  tóc, mấy chiếc khuy bấm… và cũng là dịp để ngắm nhau. Nên từ sau các phiên chợ Tết như thế, nhiều đôi thề ước rồi nên vợ nên chồng trong mùa xuân ấy. Nhưng phiên chợ cuối cùng của năm, ngày 30 thì có đặc trưng là chỉ họp trong thời gian hơn một nửa buổi sáng là tan. Đi chợ phiên này, ngoài những người đi chơi là những người đi mua “bổ sung” một vài vật phẩm thứ yếu, như rau tươi rau mùi, miếng thịt lợn, khóm lòng lợn sốt… cho mâm cỗ rước ông vải chiều Ba mươi. Phiên chợ này tan sớm là bởi thời gian còn lại của ngày phải làm nhiều việc rất cần. Nào là mâm cỗ cúng chiều ba mươi, nào là gói bánh chưng, bánh ít… Rồi phải trồng cây nêu, vẽ cung nỏ với tên (bằng nước vôi đặc) ở góc sân chĩa ra phía ngõ để xua đuổi ma quỷ xâm nhập nhà cửa trong năm mới tới. Đêm Ba mươi gần như nhà nào cũng phừng phừng lửa nấu bánh chưng. Củi nấu bánh chưng bao giờ cũng phải phơi khô nỏ và trữ lại từ giữa năm, là những gộc tre, gốc và thân cây. Các lão ông, trai đinh thì phải tập trung ngoài đình làng làm mọi công việc cho cuộc rước tế về đêm. Trông coi nồi bánh tích cực nhất, xăng xái vẫn là trẻ con. Đứa nào cũng chăm chỉ nuôi cho bếp lửa đượm bền suốt đêm để bánh chín rền. Đứa nào cũng phấp phỏng chờ trông lúc nồi bánh nhấc xuống để được nhận mỗi đứa một chiếc bánh nhỏ bằng bàn tay mình mà bố và mẹ đã gói riêng chỉ trước lúc bắc nồi lên bếp. Chúng chưa ăn ngay đâu. Chúng xin bố mẹ những trái quả méo mó, vẹo vọ để làm đĩa ngũ quả có chiếc bánh chưng ấy đặt giữa, để rồi xuýt xoa ngắm nghía cả ba ngày Tết.

Đình làng là trung tâm mọi hoạt động Tết của cư dân từ đêm Ba mươi tháng Chạp, qua mồng Một cho tới hết mồng Bảy Tết mới tàn.

Giáp Ngọc của quê tôi có ba làng. Có chung một ngôi nghè gọi là nghè Thánh Cả (ông Thánh lớn). Thoạt đầu mỗi làng rước kiệu từ đình làng tới Nghè, lễ vật chỉ là xôi trắng (tức không có đậu, có lạc) và gà, phải là gà trống, để nguyên cả con đã luộc, mỏ ngậm bông hoa hồng quế. Tế xong ở nghè, chừng 11 giờ đêm thì rước kiệu trở về đình của từng làng. Cuộc tế vui nhất là diễn ra ở đình làng, tế thành hoàng, tế cho tới sáng. Đêm ba mươi Tết người trong cuộc tế ở đình làng cũng như người ở làng thức trắng. Tiếng trống tế là bản nhạc rộn rã của Tết ở làng quê. Trong khi đó trên bàn thờ gia tiên hương khói không phút ngừng tắt cả đêm với ánh đèn dầu lạc, dầu hoả và kéo dài cả ba ngày Tết. Vị trưởng họ lúc nào cũng nghiêm chỉnh với bộ quần trắng áo the lương và khăn xếp.

Phải nhắc đến một cái lệ đẹp ở quê tôi, là lệ góp Tết. Các gia đình trong gia tộc sáng mùng Một cho người gánh cỗ (nếu là cỗ có nhiều món) hoặc đội cỗ tới nhà trưởng tộc để cúng tiền nhân như cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Con gái lấy chồng xa không tiện gánh cỗ, đội cỗ tới thì có thể góp gửi một số tiền, nhiều ít là tuỳ tâm, tuỳ gia cảnh từ những ngày trước Tết. Gánh cỗ và đội cỗ đều là phụ nữ, mẹ hoặc con gái. Cỗ góp Tết ấy khi trưởng tộc cúng xong theo giờ đã hẹn, thì hạ xuống thành bữa cỗ Tết đông vui cho tất cả họ hàng con cháu cùng ăn thật vui, vừa ăn vừa kể lại những kỷ niệm về tiền nhân. Còn mâm cỗ cúng tiễn ông vải vào cuối chiều mồng Ba thì do trưởng tộc tự lo sắm sửa. Ngoài Bắc Bộ thì tiễn đưa ông Vải vào chiều mồng Bốn.

Mâm cỗ Tết ở quê tôi thường có: một đĩa bánh tét, một đĩa bánh mật hoặc bánh ít, bánh bột lọc, một đĩa chè lam, một đĩa cá rán hoặc kho nhạt, một bát thịt đông, một đĩa dưa hành, một đĩa nem thính, một đĩa trứng rán. Nhà khá giả thì có thêm đĩa giò lụa, giò thủ, đĩa nem rán, đĩa thịt gà luộc, bát măng ninh với gà hoặc chân giò lợn… Các món ăn nhiều thì xếp chồng lên nhau thành ba tầng.

Tết xưa ở quê làng tôi kéo dài tới hết ngày mồng Bảy. Sáng mồng Một trên sân đình làng và trên khoảng đất trống rất rộng của chợ diễn ra các trò chơi Tết liên tục và hấp dẫn mọi lứa tuổi. Một cây đu dựng lên ở sân đình và một cây ở bãi trống của chợ. Đánh đu là một niềm vui thích cao độ, nhưng phải có lòng dũng cảm mới dám trèo lên bàn đạp. Vậy mà các đôi trai gái phải xếp hàng lần lượt đấy. Một trò chơi cũng hấp dẫn lạ thường là nấu cơm thi. Hai người khiêng một cái nồi đồng to đã chứa gạo và nước. Ai tham dự thi thì cầm một bùi nhùi rơm rất lớn đã bén lửa, đi theo cái nồi mà hai người vừa khiêng vừa di chuyển, để đốt cho tới khi cơm chín. Ai đốt cho cơm chín trước lúc cây hương tàn hết thì thắng cuộc. Thêm nữa là thi vật, thi chọi gà, thi bịt mắt bắt dê… Qua ngày mồng Một, trừ chơi đu còn lại cho đến hết ngày mồng Bảy, các trò chơi khác chấm dứt. Nhưng lại có hai cuộc chơi lớn khác tiếp diễn. Đó là chơi cờ tướng mà mỗi quân cờ to bằng cuốn vở học trò và có cán dài chừng hai mét, để cắm đứng vào các lỗ trên bàn cờ là mặt đất có diện tích khá rộng. Các quân cờ này bằng gỗ làm sẵn từ nhiều năm trước. Hết Tết lại cất vào kho đình. Cuộc chơi thứ hai là bài tổ tôm điếm. Gọi là tổ tôm điếm, bởi bốn người chơi ngồi trên điếm cao có chân. Điếm là một cái chòi làm bằng tre, nứa và mái lợp bằng rạ hoặc lá kè (một họ với cây cọ) đặt trên bốn chân chống có chiều cao vừa tầm một người đứng với nghển lên để đưa bài mà một người làm “chủ cầm cái” đã chia (Tổ tôm điếm có nhiều nước đi, người viết chỉ thuật sơ lược vậy). Người cầm cái sẽ xướng đọc từng bốn con bài một mà bốn người đã đánh, cuối cùng là công bố người ù (có nghĩa là thắng trong cuộc đánh). Hai cuộc chơi cao cấp này đòi hỏi người chơi phải có trí tuệ, cao bài và phải có tiền. Vì vậy người biết chơi không nhiều mà người xem thì rất đông. Nhưng bọn trẻ con thì thờ ơ với hai cuộc chơi này.

Trong bảy ngày Tết luôn luôn vang lên tiếng pháo nổ chỗ gần chỗ xa. Pháo cả tràng đón mừng xuân mà các nhà đốt, thì chỉ nghe vào sáng mồng Một. Những nhà giàu có thì đốt thêm vào sáng mồng Hai. Nhưng trẻ con với những chiếc pháo tép, pháo lói (pháo to như ống nứa) thì chúng cho nổ đẹt đùng bất kỳ lúc nào. Cuộc chơi nổ pháo của trẻ con làm cho những ngày Tết kéo dài sống động song cũng gây không ít tai nạn cho mình, cho bạn cùng lứa. Mà ngày xưa thì cả tỉnh chỉ có một bệnh viện ở mãi trên thành phố- tỉnh lỵ, chứ đâu như bây giờ, ở xã thì có trạm y tế, trên huyện đã có bệnh viện huyện.

Quê làng tôi không có phong tục Tết Thanh minh. Nên chi, việc tảo mộ cũng được làm trong phạm vi những ngày Tết Nguyên đán, làm vào sáng Ba mươi, có chậm cũng phải làm trước lúc đặt mâm cỗ cúng đón ông vải buổi chiều. Còn việc chơi xuân, vui xuân thì diễn ra cùng lúc trong cả mấy ngày Tết. Tết đúng vào những ngày nông nhàn, nên người ta được thư thái để lên chùa thắp hương, hái lộc, đi thăm chúc Tết bà con họ hàng và không quên thăm chơi mừng tuổi những người thân thuộc ở xa bản quán, các nhà thông gia…

Mọi công việc mà người ta quen gọi là “Ăn Tết” đều kết thúc vào chiều mồng Bảy, sau khi nhà nhà làm lễ hạ nêu./.

Mồng Sáu tháng Chạp, Kỷ Sửu
Thái Thi

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác