Tấm thiếp mời

Đón tấm thiếp màu hồng từ bàn tay nhỏ nhắn của đứa cháu gái, ông giáo già Đinh Khằng cầm soi ra ánh sáng. Sắc mặt ông tự nhiên tái nhợt...

Tấm thiếp mời  - ảnh 1
- Chú Cam mang thiếp đến mời ông, ông đi vắng, chú ấy gửi lại cho cháu đấy- Bé Thuỳ Linh (tên đứa cháu gái) nói liến thoắng. Rồi nghẹo cái đầu tròn tròn có hai bím tóc đuôi chuột về một bên- Cưới ai chứ cưới chú Cam thì ông nên đi, chứ đừng giả ốm như mấy bận trước nữa, ông ạ. Mà ông đi thì phải cho cháu đi với cơ. À, ông cười rồi! Hoan hô…

Bé Thùy Linh nhảy lò cò trong sân, cười như nắc nẻ, nó đang nghĩ đến mấy chiếc kẹo bọc giấy xanh đỏ nó sẽ được vốc bỏ vào túi, và chạy lăng xăng để xem cô dâu chú rể với mấy đứa bạn cùng lứa tuổi lên tám lên chín như nó.

Ông giáo Khằng bước đi như người mộng du ra bờ ao, ngồi xuống một cái rễ xù xì dưới gốc sung cổ thụ. Năm nay ông lên tám mươi tuổi, có bốn mươi năm làm nghề dạy học và phần lớn là dậy ở trường làng. Mặc dù ông về hưu đã gần hai chục năm, nhưng các bậc phụ huynh và học trò cũ vẫn thường lui tới nhà ông. Ai có công việc này nọ, đều thân hành đến mời ông, xem ông là vị khách quý của gia đình, và tất nhiên, ông cũng xem đó là một vinh dự lớn. Khốn thay, bây giờ đâu phải như ngày xưa. Bây giờ, những đám hiếu hỉ, đến dự phải có “phong bì”. Nhà ông thanh bạch. Lương hưu ông chỉ đủ đong gạo hàng tháng cho hai vợ chồng già với một đứa cháu nội, còn tiền mua thức ăn và cho các chi dùng khác, ông chỉ trông cậy vào một mảnh vườn bé tí tám thước đất chuyên trồng các loại rau đậu, thì lấy đâu ra mà nay “phong bì” cho đám hiếu, mai “phong bì” cho đám hỉ? Vì thế, ai mời thì cứ việc mời, còn ông thì liệu cơm gắp mắm. Hầu hết là không đi. Sau này, nếu gia chủ có trách, thì ông cáo lỗi là hôm đó khó ở. Trường hợp nhà ông với nhà họ gần nhau quá, thì ông giả ốm bằng cách lên giường buông màn nằm rên hừ hừ. Làm vậy, lúc đầu ông hơi ngượng, nhưng mãi rồi cũng quen. Mỗi bận nhận được thiếp mời, ông chỉ liếc qua một cái rồi gập lại, đút vào túi ngực là xong chuyện.

Nhưng lần này ông không làm thế được. Lần này, sau khi đút vào túi ngực thì tấm thiếp mời không còn là một tờ giấy nhỏ bé mong manh nữa, mà thực sự trở thành một tảng đá đè lên trái tim nhạy cảm của ông, khiến ông xây xẩm mặt mày…

Cách đây trên ba chục năm, làng Vĩnh Lộc này có một cậu bé tên là Nguyễn Văn Cam. Em học rất giỏi, từ lớp một đến lớp ba đều được xếp thứ nhất. Không may bố Cam bị giặc Mỹ bắn chết. Một phần gánh nặng cảu gia đình buộc phải chuyển sang đôi vai bé nhỏ, mảnh mai của cậu học sinh mới mười tuổi đầu. Vừa học, Cam phải cắt cỏ chăn trâu, phải lo liệu cơm nước hàng ngày. Gặp lúc đói kém, Cam còn phải cùng mẹ ra đồng mò cua bắt ốc đem bán lấy tiền mua gạo, mua khoai nuôi hai đứa em nhỏ. Linh cảm cho thấy đứa học trò thông minh hiền thảo của mình rất dễ bị hoàn cảnh đói nghèo vùi dập, thầy giáo Khằng xót như muối xát lòng. Thầy thân hành đi vận động các phụ huynh học sinh giúp Cam cái ăn cái mặc tuỳ theo khả năng và lòng thơm thảo của họ. Hôm nào Cam không có điều kiện đến lớp vì bận kiếm kế sinh nhai thì tối đến, thầy giáo lại đến nhà Cam để giảng lại cho em bài học hôm đó. Ngoài ra, thấy Cam rất có năng khiếu về toán, thầy còn cất công ra tận Hà Nội, Hải Phòng lùng tìm bằng được cuốn sách Các bài toán tập mang về để hai thầy trò cùng ôn luyện. Nhờ thế, mặc dù vừa học vừa phải lần ăn từng bữa, nhưng chẳng những Cam không bị tụt lùi, mà tháng nào em cũng giữ nguyên được vị trí học trò giỏi nhất của lớp 4C.

Sau kỳ nghỉ hè năm 1973 Cam lên học cấp hai trường xã và đến năm 1976 Cam vào học cấp ba trường huyện. Mặc dù thời gian này Cam không còn là học sinh trực tiếp của thầy giáo Khằng nữa, nhưng tình cảm thầy trò vẫn gắn bó mật thiết với nhau. Thầy đã thực sự trở thành người cha đỡ đầu của Cam, giúp Cam không chỉ mặt tinh thần mà còn cả vật chất. Nhờ vậy mà trong học tập Cam càng tiến bộ, không những Cam được nhận danh hiệu học sinh giỏi mà còn tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về toán. Sau kỳ thi đoạt giải cao toán toàn tỉnh (ở lớp 8 và lớp 9), Cam được đưa ra Hà Nội học lớp chuyên toán. Năm sau em lại đoạt giải cao toán quốc tế và được đi du học ở nước ngoài. Tốt nghiệp cử nhân toán xong, Nguyễn Văn Cam tiếp tục ở lại nước ngoài nghiên cứu làm luận án tiến sĩ. Sau gần chục năm trời đằng đẵng sống ở nước ngoài, trở về nước, anh vẫn hướng về cái làng Vĩnh Lộc nghèo khó, nơi có cánh đồng sẵn con cua con ốc góp phần nuôi anh khôn lớn, nơi có một người thầy giáo nghèo tiền nhưng giàu lòng nhân ái, đã tận tuỵ nâng đỡ Cam, đặt cho Cam những bước đi đầu tiên trên đường sự nghiệp. Và cũng vì thế, mặc dù giá con tem gửi thư ra nước ngoài đắt, trong suốt thời gian Cam đi học thầy Khằng chỉ gửi cho Cam vẻn vẹn hai lá thư, nhưng riêng Cam thì mỗi tháng cậu vẫn đều đặn gửi về cho thầy một lá thư. Bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán học trở về nước tuần trước, thì tuần sau Cam đã mang quà đến thăm thầy. Anh rất mừng vì tuổi tác đã cao nhưng thầy vẫn khoẻ mạnh, mắt thầy vẫn sáng, răng thầy vẫn chưa rụng chiếc nào. Hai thầy trò thức suốt đêm ôn lại những kỷ niệm của một thời lận đận gian truân và nói với nhau những chuyện mới lạ trong những năm dài xa cách…

- Ông ơi! Sao ông buồn thế?- Con bé Thùy Linh đến bên ông giáo từ lúc nào và thỏ thẻ hỏi- Hay ông lại không có tiền cho vào phong bì phải không?

Ông giáo nuốt khan nước bọt, cảm thấy như nuốt viên thuốc đắng. Bé Thùy Linh lại nói:

- Nếu không có tiền để đi ăn cưới, thì ông lại giả ốm như mọi bận cũng được, chứ can chi phải buồn?

- Với ai chứ với chú Cam thì ông không thể làm thế được- Ông giáo trả lời và rút khăn sịt mũi.- Chao ôi, giá trong nhà ta có cái gì bán được để có ngay năm chục nghìn bạc!

- Ông xem có thể đem áo quần ra hiệu cầm đồ?

- Áo quần rành là thứ cà tàng, ai người ta thèm…

- À, hay cháu hái rau muống đi bán vậy? Ta có cả một ao rau muống xanh um lên kia kìa ông.

Ông giáo Khằng lắc đầu:

- Khắp làng trên xóm dưới rau muống ai cũng xanh um lên kia thì biết bán cho ai?

- À, ông ơi! Hôm qua cháu thấy có mấy người dưới xuôi quảy quang gánh lên chợ Trường mua rau muống. Để cháu ra ngoài đường đứng đợi, biết đâu gặp họ lại mua.

Chẳng để ông kịp trả lời, bé Thùy Linh đã cắm đầu cắm cổ chạy ra cổng, xuýt nữa thì húc phải chị Thảo Phương- một học trò cũ của thầy giáo Khằng nhưng nay đã học lớp mười hai vừa đi học về.

- Thùy Linh chạy đi đâu mà như bị ma đuổi thế?- Chị Thảo Phương ngước khuôn mặt trái xoan, hiền lành nhìn bé Thùy Linh và hỏi. Bé Thuỳ Linh ngượng nghịu kéo cái đuôi sam tóc che vào miệng, nói lí nhí.

- Em đi gọi người mua rau muống. Dọc đường về đây chị có gặp người nào quảy quang sọt đi qua không?

- Chị không thấy. Thôi em về đi, kẻo dọc đường đụng phải ô tô, xe máy thì khổ.

- Nhưng mà em cần bán rau lắm cơ. Để… để… để…

- Để làm gì thì nói chị nghe nào?

Chị Thảo Phương gặng hỏi năm lần bảy lượt bé Thuỳ Linh mới kể cho chị nghe về nỗi buồn của ông nội từ khi nhận được tấm thiếp mời dự đám cưới của chú Tiến sĩ Nguyễn Văn Cam.

- Khổ tâm cho thầy quá em nhỉ!- Chị Thảo Phương kêu lên, cặp mắt bồ câu tuyệt đẹp của chị đỏ hoe như muốn khóc. Một lát chị nói: - Thôi, bây giờ Thùy Linh về đi, để chị xuống Quảng Văn gọi người lên mua rau muống cho.

- Liệu chị có gọi được ai không? Để em về báo trước cho ông mừng.

- Được, chắc chắn là được. Em cứ về thưa với thầy sáng mai sẽ có người đến nhà ta mua vài trăm bó rau muống…

Nhưng Thảo Phương không xuống Quảng Văn mà đi tìm ba cô bạn gái khác đều là học trò cũ của thầy giáo Khằng. Thảo Phương thông báo cho các bạn biết nỗi phiền lòng của thầy giáo rồi họ cùng bàn bạc làm sao trong vòng hai ngày tới phải kiếm đủ năm chục nghìn để cho thầy giáo đi dự cưới.

Giá sự kiện này xảy ra dưới thị trấn thì bốn cô chỉ cần nói khẽ với bố mẹ một tiếng là xin được ngay mỗi người vài ba chục nghìn, nhưng các cô lại ở nông thôn. Bàn đi tính lại mãi, cuối cùng bốn cô nữ sinh lớp mười hai thống nhất với nhau là ra đồng bắt cua, rồi nhờ người mang ra chợ bán. Và họ kiếm được một số tiền nhiều không ngờ: sáu chục nghìn đồng.

- Nhưng mà chúng mày ơi- Sau khi cầm được sáu chục nghìn đồng trong tay, Thảo Phương nói với ba bạn- Tao nghĩ nếu bây giờ chúng mình đem số tiền này đến biếu thầy thì thầy sẽ không nhận, mà thầy còn mắng cho nữa là đằng khác, vì thầy tự trọng, đúng không nào?

- Ừ nhỉ, ừ… ừ!

Các bạn đứng ngẩn ra một lúc, mãi sau một cô bé ngăm ngăm đen, tên Ngọc Hoa “à” một tiếng rõ to:

- Tớ nghĩ ra rồi. Chúng mình đem số tiền này cho mẹ tớ, bảo bà cụ đến nhà thầy giáo Khằng mua rau muống là đắc sách nhất.

- Nhưng mẹ cậu có buôn rau bao giờ?- Một cô khác thật thà hỏi.

- Cậu ngố lắm- Ngọc Hoa trề môi ra- Đúng là mẹ tớ không buôn rau, nhưng đây là cái cớ để chúng mình biếu số tiền này cho thầy giáo. Sau khi mẹ mình giao đủ cho thầy sáu chục nghìn rồi, tất nhiên thầy sẽ bảo bà cụ xuống ao hái rau muống. Ối giời ơi! Lúc đó bà cụ nhà mình chỉ cần hái mươi bó làm phép rồi về, chứ hơi đâu mà…

Cả mấy cô gái cười xoà, chịu Ngọc Hoa là đứa cao mưu.

*

- Có lẽ hôm nay chả ai đến mua rau muống nhà ta đâu Thùy Linh ạ- Ông giáo cúi xuống xoa đầu đứa cháu nội, nói như người hối lỗi- Bây giờ đã chín giờ rưỡi rồi còn gì.

Thuỳ Linh thở dài như bà lão tám mươi:

- Không ngờ chị Thảo Phương lại nói dối!

- Thảo Phương không nói dối đâu. Nó vốn là một cô bé ngoan, ông biết. Hôm qua chắc nó đi tìm người mua rau muống giúp thầy, nhưng không ra tìm ra đấy thôi- Ông giáo bất giác nhìn ra mặt ao, nơi có những bông hoa bèo tim tím bị sóng xô dạt vào bờ, rồi hạ giọng- Thôi đành vậy, cháu ạ. Chúng ta sẽ không đi đám cưới chú Cam được đâu. Từ giờ đến chiều ta phải đóng chặt cổng. Có ai hỏi ông, cháu bảo ông ốm nặng nhé.

- Ông lại phải giả ốm à? Nhưng liệu chú Cam đòi vào thăm ông bằng được thì sao?

- Yên trí, ông nhiều lần thế rồi nên ông giả ốm giỏi lắm. Hơn nữa, bây giờ ông sẽ vào uống luôn một liều thuốc tẩy giun thì ông sẽ mệt thực sự chứ không mệt vờ đâu… Ô kìa, hình như bên nhà trai có tiếng còi ô tô thì phải. Chắc là người ở cơ quan chú Cam đã về rồi. Nhanh lên cháu, đóng cổng lại, nhanh lên!

Ông giáo vừa nói vừa cười hề hề cho đứa cháu nội khỏi buồn thì chợt nghe một giọng đàn bà lanh lảnh làm ông giật mình:

- Cái gì? Ông nghe nhầm không đây! Có người đến mua rau muống ư?

- Dạ, cháu cũng nghe ai hỏi đúng thế ạ.

Thuỳ Linh chạy lon ton ra cổng.

Ông giáo Khằng cũng theo cháu chạy ra, vẻ vui mừng lộ rõ trên mặt.

- Nhà bác ở Quảng Văn lên à? Bác mua nhiều không?- Ông hỏi.

- Dạ, vài trăm bó- Bà hàng rau vẻ ngượng nghịu- Thưa thầy, lẽ ra tôi phải đến đây sớm hơn nhưng vì nhà có chút việc đột xuất… rồi bà cất cao giọng- Vậy thầy định bán bao nhiêu một chục bó ạ?

- Bao nhiêu cũng được. Cả ao rau muống to thế kia bác có thể hái tất, chỉ cần bác trả cho tôi năm chục nghìn là được.

“Bà hàng rau” cười tủm tỉm.

- Thưa thầy, không dám ạ. Tôi chỉ xin hái hai trăm bốn chục bó, và xin trả thầy sáu chục nghìn đồng, được chứ ạ?

- Ừ, được lắm chứ, được lắm!- Thầy giáo Khằng như trẻ lại hàng chục tuổi- Cám ơn bác vô cùng, cám ơn! Thùy Linh đâu, đi vào nhà ông bảo.

Bé Thuỳ Linh lẽo đẽo đi theo ông vào nhà.

- Giờ thì không cần giả ốm nữa phải không ông?

- Đã có sáu chục nghìn đồng trong tay rồi thì giả ốm làm gì nữa. Hà hà… rất may là ông chưa uống thuốc tẩy giun.

Bất giác ông thọc tay vào túi áo lấy tấm thiếp mời vuốt lại cho phẳng phiu, cầm soi lên ánh sáng và nở nụ cười mãn nguyện.

Truyện ngắn của HOÀNG BÌNH TRỌNG

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác