Sông Lô - Huyện mới mang tên một dòng sông lịch sử

Kể từ ngày 01/4/2009, trên bản đồ tỉnh Vĩnh Phúc có thêm một huyện mới - huyện Sông Lô, tách ra từ huyện Lập Thạch với 17 xã, trải dài từ xã Bạch Lưu tiếp giáp với tỉnh Tuyên Quang, dọc theo bờ tả sông Lô xuôi về đến xã Cao Phong.

Ngược về quá khứ, huyện Sông Lô hôm nay vốn là những xã nghèo nhất của huyện Lập Thạch cũ, nơi từng hứng chịu cảnh khắc nghiệt của thiên nhiên. Đồng ruộng đã ít, lại cảnh chiêm khê mùa thối. Khi con đê sông Lô chưa được gia cố, nâng cấp thì cảnh ngập lụt hàng năm thường diễn ra, cướp đi thành quả mồ hôi nước mắt và cả tính mạng của người dân sống ở ven bờ. Ba năm liền: 1969, 1970, 1971 nước lũ tràn đê. Cả một vùng từ Bạch Lưu đến Sơn Đông là biển nước mênh mông. Năm 1986 vỡ đê ở Tứ Yên, lũ quét đi không chỉ nhà cửa, hoa màu mà cả mồ mả ở nghĩa địa Đồng Quét. Cái tên Đồng Quét có cách đây trên nghìn năm, ghi vào tâm thức người dân để nhớ lại trận lũ bất ngờ, tạo cơ hội cho quân Lương bên Trung Quốc do Trần Bá Tiên cầm đầu đưa chiến thuyền vào hồ Điển Triệt đánh úp nghĩa quân của vua Lý Nam Đế... Người dân các xã ven sông Lô bao đời sống trong cảnh đói nghèo vì ngập lụt, úng hạn, vì giao thông cách trở, “giở đi mắc núi, giở lại mắc sông”. Vì thế mà cách đây mấy năm, một tờ báo ở Hà Nội đăng một phóng sự với cái tít khá cay độc: "Lập Thạch, huyện đảo nghèo". Nói Lập Thạch nghèo nhưng dẫn chứng ra cái nghèo ấy ở đâu thì bài báo mô tả cảnh người dân xã Bạch Lưu chở cối đá bằng xe đạp đi bán dong khắp nơi. Người dân Đức Bác, Yên Thạch gánh cua ốc sang Việt Tri rao bán lấy tiền đong gạo. Khi có dự án xây cầu Gạo, làm đường từ Xuân Hòa đi Vĩnh Yên thì tác giả bài báo mỉa mai: Có lẽ để chở cối đá và cua ốc về xuôi...(!)

Sông Lô - Huyện mới mang tên một dòng sông lịch sử - ảnh 1
Sông Lô, con sông gắn liền với tên huyện mới

Nhưng hôm nay, Vĩnh Phúc đã có một huyện Sông Lô mới, không phải là tách ra đứng riêng để tự "khoe" cái nghèo của mình. Đành rằng dân ta vẫn có câu "Giấu giàu ai giấu khó". Không! Huyện mới Sông Lô hôm nay tuy chưa thật giàu, nhưng đừng ai nói là một huyện cua ốc và cối đá. Vì con người của Sông Lô đã nhận ra những tiềm năng vốn có của mình, đặt nó trong sự vận động chung của đất nước, đúng lúc cơ chế mới - Cơ chế Thị trường định hướng XHCN - dưới sự lãnh đạo của Đảng đang được phát huy. Chỉ nói cái tên của huyện mới này thôi cũng đã khơi dậy lòng tự hào của những con người sống ở ven bờ con sông yêu dấu này.

Đất nước ta vốn có nhiều sông suối, nhưng không có con sông nào lại đi vào lịch sử, vào thơ ca, nhất là đi vào lòng người như Sông Lô. Theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, con sông này có tên chữ là Mã Giang, phát nguyên từ Trung Quốc. Nếu tính từ xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, nơi Sông Lô chảy vào nước ta cho đến ngã ba Hạc thuộc thành phố Việt Trì trên đoạn đường 274 km, kết thúc một đời sông miên man tần tảo thì đoạn từ Bạch Lưu trở xuống là thơ mộng nhất, nó bỏ lại phía sau những thác ghềnh chật chội để mà ung dung hòa nhập. Trên khúc đoạn này, Lô Giang trở thành con sông của thi ca, từng ẩn chứa biết bao huyền thoại cùng với những âm vang của chiến công. Lòng sông mở rộng, bốn mùa xanh biếc ngô khoai hai bên bờ bãi, ôm lấy dòng nước biếc quanh năm lững lờ xuôi chảy. Dẫu là đất trung du, bóng người thưa vắng, nhưng không chút tàn phai. Không thấy đâu cái “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” như trong Khúc ngâm Chinh phụ. Đứng bên tả ngạn lúc chiều tà, nhìn những cánh hoa gạo tháng ba tơi tả, tôi thấy mình như đứa trẻ đang đuổi bắt tuổi thơ khi cùng lũ bạn chăn trâu lặn hụp, mò trai bắt cá, hoặc hét hò chạy theo con tàu thủy đen sì của ông Bạch Thái Bưởi từ đầu thế kỷ trước ì ầm phụt khói rẽ nước chạy ngược. Hoặc ngồi ngắm hoàng hôn nhuộm vàng lên những bờ bãi phía bên kia. Ở đó là làng Soi Rạng, những người dân vốn là của xã Tứ Yên huyện Sông Lô bây giờ sang khai phá lập làng. Cách đây hơn nửa thế kỷ, làng Soi Rạng đã nhập vào với làng Chanh để thành xã Vĩnh Phú của tỉnh Phú Thọ. Chẳng là mấy trăm năm trước, dòng Lô ưu ái với thiên chức lở bồi đã ban cho cư dân bên tả ngạn một doi đất mỡ màu phù sa, trông giống như một con rồng đang bơi ngược. Người dân Tứ Yên bảo nhau lội ra cày cuốc trồng bí trồng ngô rồi lập thành thôn xóm. Soi Rạng không có lấy một thước vuông đất để cắm cây lúa nước. Người dân sống bằng ngô và bí đỏ cho đến khi có thóc gạo bán ở thị trường, và bí, ngô bắt đầu có giá. Ấy vậy mà trai gái thôn Soi Rạng người nào cũng thông minh khỏe mạnh, ngực nở, má hồng… Người thôn Rạng đi làm ăn khắp nơi, có người làm tướng, có người là ủy viên trung ương, bí thư tỉnh ủy, cử nhân tiến sĩ cũng không phải là hiếm.

Từ Soi Rạng trở xuống qua Đức Bác, quê hương của anh hùng liệt sĩ Trần Cừ, nơi có đình Hát Đúm, hàng năm mở hội trống quân. Trai làng Đức Liệp, đeo trống ngang bụng vừa đánh trống vừa dắt tay các cô gái bên Phù Ninh trên đò cập bến, bước lên bờ sang hát xoan hát ghẹo. Tiếng trống chia đều nhịp bước của các ca nương vừa đi vừa hát nên mới gọi là trống quân Đức Bác vì thế.

Qua Đức Bác là đến Sơn Đông, quê hương của 12 vị tiến sĩ thời Lê Mạc. Sơn Đông, cái làng nằm kề bốt Toa Đen thời kháng chiến chín năm, không biết đã mấy lần giặc dùng cả thủy, lục, không quân mở những trận càn quét lớn để lập tề mà không nổi. Từ thời các vua Hùng đã có một vị lạc hầu, lạc tướng về đây dạy dân làm nghề gốm. Tên nghề rồi thành tên làng. Vào thế kỷ thứ 13, thầy giáo Đỗ Khắc Chung từ Hiệp Sơn, Hải Dương đã lên làng Gốm dạy học và mở ra cho làng này một nền văn hiến Nho học có một không hai của cả nước Đại Việt suốt mấy trăm năm. Đến thế kỷ 15, vua Lê đã hạ chỉ cho làng Gốm được mang tên làng Quan Tử. Làng Quan Tử trước đó là Trang Sơn Đông, thái ấp của Trần Nguyên Hãn, một vị khai quốc công thần triều Lê. Nhưng cuộc đời ông kết cục cũng bi thảm như cuộc đời người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi do sự hẹp hòi, đố kỵ của “Vua ta có tướng mạo Việt Vương”, chỉ biết nghe theo kẻ nịnh. Dòng Lô xanh trong chỗ ngã ba Hạc đột ngột rộng ra như mở lòng đón lấy Tả Tướng Quốc, vị đệ nhất công thần triều Lê mà công lao của ông còn mãi ghi trong sử sách, khi ông tự trầm vào ngày 27 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429) để khỏi rơi đầu giữa kinh thành Thăng Long dưới lưỡi đao oan nghiệt của bạo quyền. 580 năm tròn, hôm nay xuôi theo dòng Lô qua bến Sơn Đông, nghe câu ca thời mở cửa “Sơn Đông trên bến đưới thuyền/ Nhấp nhô con sóng lan truyền vào nhau…”, mắt ngước lên nhìn hai ngôi đền cổ, một thờ thầy giáo họ Đỗ, người khai sáng nền học vấn thế kỷ 13, một thờ vị Tả Tướng Quốc anh hùng mà tai tôi vẫn như văng vẳng tiếng học bài mê mải của nho sinh, lẫn vào với tiếng xàn xạt mài gươm nuôi chí diệt thù của người trai thời loạn đất Sơn Đông mà càng hiểu thêm bản lĩnh và tiết tháo của cha ông mình, thời nào cũng vậy, luôn lấy thanh gươm và ngọn bút làm vũ khí giữ nước, giữ nhà.

Đang nói về huyện mới Sông Lô thì tôi lại lan man sang Sơn Đông của Lập Thạch. Nhưng vì Sơn Đông cũng là đất văn vật, nằm trên bờ sông Lô từ Bạch Lưu trở xuống…

Xuôi dòng Lô bên bờ tả ngạn, nhà thơ Trần Khoái trong Trường ca “Chìm nổi làng quê” nhận giải A của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam, lần theo di chỉ đá, anh đến xã Tứ Yên đứng ngắm nhìn hồ Điển Triệt trong “Thấp thoáng màn sương”, nơi vua Lý Nam Đế từng bày thủy trận giao chiến với quân Lương ở thế kỷ thứ 6. Đền thờ Lý Bí, người anh hùng dân tộc, vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử nước ta ở làng Yên Lập, xã Tứ Yên được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Nhà nước đã cấp kinh phí đóng chải và cho phép khôi phục lễ hội truyền thống bơi chải hàng năm ở Tứ Yên để nhớ lại cảnh thủy quân ta tập luyện và giao chiến tưng bừng với quân giặc trên hồ. Khu vực Điển hồ cũng đang được Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch khảo cứu, xem xét để xây dựng thành khu du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh. Những dự án lớn có sức làm thay đổi bộ mặt của làng quê nơi đây đang được các nhà quản lý hoạch định.

Đến làng Bạch Lưu, nhà thơ Trần Khoái gặp “Những người thợ hút thuốc lào/ Uống chè xanh, ăn khoai ăn sắn”, ngày đêm đục đẽo, thổi hồn vào đá. Sản phẩm từ đá của Bạch Lưu hôm nay không phải là cối giã cua như báo giới từng mai mỉa mà là tượng phật, tượng tứ linh, gạch ốp lát, trang trí, văn bia ở đền chùa, công sở... với nghệ thuật tinh xảo được khắp nơi đến đặt hàng. Bạch Lưu nay trở thành một làng nghề truyền thống, thu hút khách thập phương. Liền đó là làng Hải Lựu với hội chọi trâu hàng năm vào giữa tháng Giêng, thu hút hàng vạn người tới xem.

Đến Bến Then, ta “Gặp tháp Bình Sơn chiều sông nước/ Hoa văn vờn một dáng mây bay” - (Thơ Trần Khoái). Bến Then nay là trung tâm của Thị trấn Tam Sơn, lỵ sở của huyện Sông Lô mới, có tháp Bình Sơn nằm ngay giữa thị trấn là một trong những di tích văn hóa lịch sử có giá trị cao nhất của nước ta được xây dựng từ thời Lý Trần. Liền với Tháp là chùa Vĩnh Khánh đang được trùng tu để trở thành một chi nhánh của Tây Thiên - Trúc Lâm Thiền Viện. Cùng với chùa Vĩnh Khánh là chùa Kim Tôn trên núi Sáng thuộc xã Đồng Quế cạnh đấy cũng được khởi công tu tạo để hợp nên một quần thể văn hóa lịch sử và tâm linh, trở thành những di sản quý hiếm không chỉ của Vĩnh Phúc mà của cả nước. Cái Bến Then này với những con đò mong manh từng đưa những đoàn quân mũ nan, dép lốp ra trận. Có những chuyến đò đêm mịt mù sương trắng đè nặng dòng sông, chở các đồng chí lãnh đạo Trung ương như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt từ bên Hưng Hóa, Lâm Thao sang, rồi ngược lên Việt Bắc lãnh đạo kháng chiến. Nhạc sĩ Văn Cao viết Trường ca Sông Lô ở đâu thì có nhiều tài liệu khác nhau nói tới. Nhưng có người ở vùng này nói, Văn Cao từng làm nhạc ở nhà ông. Trên đường từ bến Phan Lương, cửa ngõ của A.T.K đi xuống, nơi tàu giặc vừa bị ta đánh chìm, Văn Cao đuổi theo sự rút chạy của quân Pháp bại trận để quan sát cảnh hai bờ sông Lô. Và cảm hứng của ông về một trường ca bất hủ trào lên từ đấy. Hình ảnh và sức sống của một con sông ở thời điểm hào hùng và lẫm liệt nhất đã đã đi vào âm nhạc qua trái tim của người nghệ sĩ tài hoa để rồi mãi mãi trường tồn. “Nhân sinh chi hữu hạn/ Nghệ thuật thị vô biên” là thế.

Mùa Thu năm 1947, giặc Pháp tấn công lên Việt Bắc. Là đứa trẻ nghịch ngợm, chẳng biết sợ là gì, tôi đã không theo người lớn tản cư để chạy ra bờ sông xem các anh du kích gài mìn, làm hầm chông bẫy giặc và nấp trong bụi duối xem tàu của chúng cắm cờ tam tài chạy ngược. Qua Bến Then, đến Khoan Bộ thì bọn ăn cướp đã gặp sức kháng cự quyết liệt của quân dân ta. Hỏa lực được bố trí trên các gò đồi nằm sát bờ sông, bên kia là dốc Bình Bộ, bên này là chùa Cau Đẻ của xã Phương Khoan đồng loạt nã đạn vào tàu giặc. Là trận đầu thử sức, vũ khí lại thô sơ nên ta đành để chúng đi thoát. Nhưng dù thế thì trận đánh Phương Khoan - Bình Bộ cũng đã góp thêm những nốt chủ âm vào bản Trường ca Sông Lô của nhạc sĩ Văn Cao. Sau chiến thắng, người dân hai bên bờ sông lại “Vui hát ca hòa dân buông lưới, Phan Lương vui bóng thuyền. Lều dựng lên ven sông, bóng người sầm uất Bến Then…”.

Hôm nay đi dọc bờ sông Lô trên con đê vững trãi, bề thế, vừa ngăn nước lũ, vừa là đường giao thông chính của cả huyện Sông Lô mới, những người con của làng quê sông nước không khỏi chộn rộn những buồn vui năm tháng. Giữa màu xanh của ngô lúa, vải nhãn, nhô lên những ngôi nhà tầng kiểu cách, đủ loại sắc màu. Phía dưới hồ Điển Triệt của xã Tứ Yên là chỗ đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh chạy qua đang hoàn tất các thủ tục đền bù để bắt đầu thi công. Nơi đây, một cây cầu lớn và hiện đại sẽ được bắc ngang sông. Một huyện mới với một bộ mặt mới đang hiện dần rạng rỡ bởi những tiềm năng về nông, công nghiệp, thương mại và du lịch, một khi được khai thác một cách đồng bộ và triệt để.

Tuỳ bút của Nguyễn Anh Đào

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác