Phạm Nguyên Tường và khát vọng ... thơ

Trên chiếu rượu ở một góc vườn trong thành nội, giữa lòng cố đô Huế, có người khật khưỡng nâng ly làm giật mình cả làn nắng hoe vàng: Xin cảm ơn người đã cất giữ bao năm/ hư hoặc khoảng trời đằng sau gáy/ ở một nơi tôi hằng đêm mơ thấy/được trở về...

Thơ Phạm Nguyên Tường đấy. Cái tật mê thơ xui tôi đi tìm Tường bên dòng Hương Giang.

Thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng và Phạm Nguyên Tường sáng tác tập Quang gánh và những bài thơ khác trong quan điểm nghệ thuật đó. Vì vậy mà ngôn ngữ của tập thơ này nặng trĩu tâm trạng của cả chủ thể lẫn khách thể thẩm mỹ. Bộc lộ cái nhìn riêng của mình về cuộc đời qua lăng kính thi ca, Tường sử dụng rất nhiều những ẩn dụ hàm ngôn và đa nghĩa: Người gọi tôi đừng đi xa thế/người gọi cho ăn/người gọi vỗ về/người ru ngủ/người mớm chữ/những ngón tay nắn nót vuông tròn/những ngón tay âm sắc khơi dòng. Chàng sinh viên y khoa Huế năm nào sớm nổi tiếng qua những đêm thơ ở chốn kinh kỳ xưa đã khiến người nghe có lúc không nén được lòng, vỗ tay hoan hô. Những điều được Tường gói vào câu vào chữ của Quang gánh và những bài thơ khác làm nên một không gian thơ đặc trưng nổi trội của một cõi siêu thực, nơi để mọi kiếp người có thời gian nhận ra thân phận, tình yêu và nỗi khổ đau của mình:

Đêm đã khuya trăng lên gọi đầu cho những mái nhà yên ngủ

những mái nhà no đủ

những mái nhà tồi tàn;

Họ tìm nhau ân cần

họ tìm nhau như tìm ân nhân;

ùn vạn kỷ mắt em sầu chín tới

bóng thời gian quang gánh bóng con người

vai trĩu nặng ngàn cân nào cứu chuộc

một cái nhìn ráo hoảnh đến xa xôi

Điều đặc biệt là trong không gian siêu thực của Quang gánh, hình ảnh ẩn dụ đa nghĩa nhất và đẹp nhất là những ngón tay, bàn tay của con người. Tường cảm nhận được mỗi động cựa và ý nghĩa của chúng ở những ngã tư, con đường, dòng sông, từ phiên chợ người đến phiên chợ tang bồng. Ở những nơi đó, chất thi sỹ trong Tường cựa quậy khi vừa là người quan sát, vừa là người đối thoại, vừa là người độc hành để rồi thăng hoa bằng sự mê đắm, nỗi đớn đau mệt nhọc và siêu thoát:

Trên những nhành sông minh triết

những ngón tay trôi theo dòng xanh mải miết

những ngón tay hái lượm hồn nhiên;

Tay yêu thương mềm yếu cả thân cành;

Tay rút về hoang vắng cả trăm gian;

Tay trong tay

đầu kề tay gối;

Tay nhớ nhung tay họ hàng;

Tay bẽ bàng bó gối;

Những ngón tay vang lừng vũ điệu...

Vào trong cái thế giới được Tường kiến tạo nên bằng những âm thanh và vóc dáng của niềm ân sủng, sự ngọt ngào, nỗi bấn loạn, những ảo ảnh, nguồn hy vọng và những buồn đau sẽ gặp những câu thơ trong vắt mà điển hình nhất là câu thơ: Gọi những nàng chim lạc về bay đầy trời hoặc Vũ điệu còn đi mãi/dọc những bờ suối tiệc tùng của hoa đỗ quyên/rạo rực mùa dâng hiến...Những câu thơ của Quang gánh vì vậy đôi lúc như một tiếng xưng tụng, một lời kể lể, một thoáng cầu xin, một niềm đắm đuối.

Ở các phần của những bài thơ khác, thơ là sự ngơ ngác thật thà của Tường trước công cha nghĩa mẹ trong bài Mẹ Tam Giang, phần Lông ngỗng lần tìm: Cha cất một câu hò cho đỡ sợ/cơn bão xa rong tóc mẹ muối màu/...cha đứng bên trời buông lưới bạc/kéo tôi lên – sâu nặng đất này; hay nỗi đau choáng ngợp của tình yêu đôi lứa trong Thở xa em, phần Linh miêu: Thơ đến lúc cũng giở trò bội bạc/huống hồ em xa quá triệu tầm tay/ta với tới một vì sao đẫm ướt...

Chưa đi hết đời người và đời thơ, chưa khắc hoạ được một chân dung tình yêu và cuộc đời với tất cả cảm xúc, nhưng thơ của Phạm Nguyên Tường đã và đang hiện diện trong đời sống. Tường vẫn gỡ ra khỏi hồn mình những chất liệu để sáng tác thơ, một cách dùng ngôn ngữ của Tường. Tường mong muốn viết được những câu thơ mà dù đi từ nỗi đau hay niềm vui điều phải đến được cái đẹp, ấy là con đường của thơ mà Tường đã chọn...

( Bình Dương cuối tuần)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác