Phác thảo du ký Xứ Huế nửa đầu thế kỷ XX

Vào hồi đầu thế kỷ, do chữ Quốc ngữ phát triển và nhu cầu thông tin, giao lưu văn hoá tăng mạnh khiến cho loại du ký phong tục, ghi chép về lễ hội, tường thuật các cuộc triển lãm - đấu xảo - chợ phiên có dịp nảy nở… Khác với Hà Nội và Sài Gòn có dân số đông, nền kinh tế phát đạt thì xứ Huế vẫn trang trọng như là một nơi bảo lưu được vẻ cổ kính, truyền thống xưa cũ, xứng đáng là nơi đế đô, đất "thần kinh".

Trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX, du ký xa gần liên quan tới xứ Huế thấy xuất hiện trên các loại báo như Đông Dương tạp chí, Nam phong, Ngày nay, Phong hoá, Nam kỳ tuần báo, Tri tân... với tên tuổi những Phạm Quỳnh, Nguyễn Trọng Thuật, Mẫu Sơn Mục, Khuông Việt, Phục Ba, Mộng Thạch, Nguyễn Đức Tính, Nguyễn Tiến Lãng, Thanh Tịnh... Trong số các tác giả ấy có người sinh ra và lớn lên ở Huế, có người xa Huế nhiều năm bây giờ trở lại bỗng ngậm ngùi man mác tình xưa, và cuối cùng là những người mới một lần đến với Huế (hay chỉ một lần đi ngang sông Hương núi Ngự) bỗng vương màu áo tím mà thành trang du ký lưu lại cho đời.

Trong số các du ký viết về Huế hồi đầu thế kỷ thì tiểu loại khảo cứu có ý nghĩa cung cấp thêm tư liệu lịch sử, ghi lại được chính xác nhiều chi tiết, cảnh quan văn hoá xưa mà nhiều mảng màu ngày nay đã phôi pha hoặc không còn nữa. Theo cách miêu tả của Nguyễn Đức Tính trong Các lăng điện xứ Huế (Nam phong, số 141, tháng 8-1929) thì đó là chương trình kiến tập, thực tập của Ban Du lịch Trường Quốc học Huế để "cung chiêm cung điện, lăng tẩm". Bởi theo ông: "Tới Huế có đi cung chiêm lăng tẩm, cung điện của Huế thì mới biết Huế là thế nào". Tiếp đó ông mô tả chi tiết khu Hoàng thành và chín chiếc đỉnh đúc từ năm Ất Mùi (1835), thăm lăng Thiên Thụ, điện Sùng Ân, điện Ngọc Trản và câu chuyện bất chợt gặp ông quan hưu trí Nguyễn Đình Hoè: "Vả từ khi về hưu trí thì quan Thượng lại lên vỡ hòn núi ở sau núi Ngọc Trản để lập trại làm chè, cho nên nhân tiện quan Đốc đưa học trò vào đó mà xem cách trồng chè đã, rồi sau mới ra xem điện. Thầy trò vào trà nước xong rồi thì quan Thượng dẫn ra xem trại của ngài"... Tiếp theo, một trong những khảo cứu sinh động nữa là Mộng Thạch với Những nhà lao của Huế thời xưa (Tri tân, số 18, tháng 10-1941). Tác giả chắc hẳn phải là người am tường lịch sử và thông thuộc địa bàn nội đô Huế, thường chiếu ứng các địa danh, vị trí ngục thất Khám Đường, nhà lao Trấn Phủ, Thừa Phủ cùng các lề lối sinh hoạt trong tù ngày xưa (khoảng trước sau 1800) so với thực tế đương thời (khoảng trước 1941). Đặc biệt ở đoạn kết còn ghi lại truyền thuyết về ba chiếc ghè, còn gọi là ba Ông Vò linh thiêng chính là đồ đựng sọ anh em nhà Nguyễn Nhạc, thậm chí còn mở ra khả năng truy tìm sự tồn tại đâu đó của những chiếc ghè này: "Sau lúc kinh thành Huế thất thủ, những chiếc ghè ấy không còn nữa, có lẽ các tù nhân lúc xổ ngục đã đem theo những Ông Vò ấy đi để hòng các ông phò hộ cho chăng?"...

Vào hồi đầu thế kỷ, do chữ Quốc ngữ phát triển và nhu cầu thông tin, giao lưu văn hoá tăng mạnh khiến cho loại du ký phong tục, ghi chép về lễ hội, tường thuật các cuộc triển lãm - đấu xảo - chợ phiên có dịp nảy nở… Khác với Hà Nội và Sài Gòn có dân số đông, nền kinh tế phát đạt thì xứ Huế vẫn trang trọng như là một nơi bảo lưu được vẻ cổ kính, truyền thống xưa cũ, xứng đáng là nơi đế đô, đất "thần kinh". Ông Phạm Quỳnh trong bài Mười ngày ở Huế (Nam phong, số 10, tháng 4-1918) đã không chỉ phác thảo cảnh quan xứ Huế mà còn cảm nhận lại được cái "cữ thời gian" hợp lý nhất để đi du lãm lăng miếu, thắng cảnh: "Có người Pháp rất mến cái cảnh những nơi lăng tẩm của ta đã từng nói, muốn đi xem lăng phải đi vào những ngày gió thu hiu hắt, giời đông u ám thì mới cảm được hết cái thú thâm trầm"; hoặc cả chiều sâu kinh nghiệm trong cách lựa chọn kiểu cách và phương tiện đi du lịch: "Đi xem lăng có thể đi xe tay từ Huế, ước mất bốn năm giờ đồng hồ. Nhưng đi xe không bằng đi thuyền, tuy mất nhiều thì giờ hơn mà thú hơn nhiều. Thuyền chèo từ nửa đêm, ước tám giờ sớm mai tới nơi, đi xem suốt một ngày, chiều tối chèo về, nửa đêm đến Huế, cả thảy không đầy hai đêm một ngày mà được nằm nghỉ thảnh thơi ngắm cảnh sông Hương, không mỏi mệt như ngồi trên xe". Ấy là nói cái thú và tốc độ sinh hoạt của người sống cách hôm nay dư tám chục năm rồi, chứ chuyện tầu xe bây giờ chắc đơn giản lắm! Trong thiên du ký Mười ngày ở Huế, tác giả không chỉ xem cảnh ngắm đền, miêu tả tỉ mỉ ngày lễ Tế giao đích nhật đêm 12 rạng 13 tháng 2 năm Mậu Dần, tức 24 và 25-3-1918 (cũng có đủ cả múa bát dật, hát Võ thiên uy, Văn thiên đức) mà gắng tìm hiểu chiều sâu phong hoá xứ Huế - những con người vốn là chủ nhân ông của Huế: "Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt thành câu ca cho con trẻ hát, ấy mới rõ tính tình của người xứ Huế. Cho nên ở Huế, phong cảnh đã xinh, những nơi lăng tẩm đã đẹp, mà dễ quí nhất là những nhân vật của xứ Huế vậy. Tôi tiếc vì không ở được bao lâu, trong khoảng mười ngày lấy đâu mà biết cho khắp những bậc danh sĩ cao nhân, thường là người ẩn dật, không phải hằng ngày mà gặp được ". Rồi tác giả dành hơn một trang dẫn chứng về Nữ sử Đạm Phương và dòng văn Nguyễn Khoa, lại đặc cách giới thiệu hai bài thơ Nhớ cảnh núi và thêm bài Nhớ bạn theo lối liên hoàn của bà.

Phác thảo du ký Xứ Huế nửa đầu thế kỷ XX - ảnh 1




















Cùng trong mạch du ký phong tục đáng chú ý có Thanh Tịnh với bài Ngày hội ở điện Huệ Nam (Ngày nay, số 178, tháng 9-1939) tường thuật lại khung cảnh ngày lễ được tổ chức vào 10 tháng bảy âm lịch (tức 24-8-1939) với đủ lời giới thiệu đền, quang cảnh lễ rước sắc, thỉnh sắc, hát chầu văn. Xin dẫn một đoạn: "3 giờ chiều họ làm lễ rước sắc xuống lâu bằng để thỉnh lên làng Hải Cát cách điện chừng một cây số... Chiêng trống nổi lên vang cả góc rừng vắng. Kiệu bà Thiên Y do các bà các cô mặc áo chầu gánh từ từ đi xuống núi. Tiếp đến cái cán điếu và mấy cái kiệu con để lư hương và áo mũ. Hơn 500 người đi theo chầu chực, họ la ó hầm hét dội thấu bên kia sông. Ở khắp nơi, người tự nhiên như mọc lên và chắp tay vái theo cái kiệu... 4 giờ chiều lên đến làng Hải Cát. Họ thỉnh sắc vào một cái đình dựng trên bờ sông. Các lâu bằng và thuyền người đi xem đều lui ra ngoài sông và lúc ấy bắt đầu cuộc nhảy múa. Ở khắp nơi đều nghe tiếng trống cung đàn và tiếng chầu văn lanh lảnh. Gần cả Huế đã tụ họp ở đây, trên trăng và dưới nước"...

Đến Phục Ba với Cuộc đi chơi Huế (Nam phong, số 157, tháng 12-1930) có lẽ là một hồi ký hơn là những ghi chép tức thời. Tác giả kể rằng lần đầu đến Huế từ 1906, còn chuyến đi đang được kể lại diễn ra vào năm 1916 và hơn mười năm sau đó mới in báo. Hãy xem ông viết: "Hồi tưởng hai mươi sáu năm về trước đến bây giờ vẫn in sâu trong trí não, chửa bao lâu mà cái quang cảnh đã khác xưa, khác tự hoàn cảnh nó thay đổi... Cuộc đời kim cổ, bước khách giang hồ, ai giục ta đi, ai ngăn ta lại, thôi cũng phiếm du một dạo cho thoả chí tang bồng"... Sau khi tham dự tiệc vạn thọ nhân việc vua Khải Định đăng quang năm thứ mười, Phục Ba mô tả lại những ngày đến đọc sách ở thư viện của triều đình: “Lễ tứ tuần xong bạn rủ tôi lên ô tô về Nam, nhưng nghĩ đã vào đây chơi phiếm tốn bao nhiêu tiền mà chưa có bổ ích gì cho mình, khác gì vào núi ngọc mà lại trở về tay không, nên lưu lại Cổ Học Viện để xem sách, viện ấy là sở phiên dịch, từ khi đức Khải Định ở Tây về mới lập ra để thu thập lại các sách cổ của nước ta và các sách ở phương Đông và phương Tây, xếp đặt rất là trật tự. Ai muốn đến đấy xem sách thời phải nói với người chưởng sự ở viện ấy mới được lĩnh xem, xem xong lại xếp đặt như cũ; tôi xem sách ở đó hai tuần, nhân có hai bài thơ tức cảnh và ngụ ý cảm hoài”… Rồi Phục Ba kể lại một đêm đi thuyền chơi sông Hương: “Gặp trời sáng trăng cùng bạn thuê chiếc thuyền nhỏ, phiếm chơi sông Hương để hấp không khí và ngoạn cảnh cho được thư thái tinh thần, nước xanh biêng biếc, mây trắng phau phau, thảnh thơi thơ túi rượu bầu. Trải cầu Gia Hội qua cầu Đông Ba, im trời lặng gió, cỡi con thuyền như ngồi chơi trong mặt trăng vậy. Đứng mạn thuyền trông bên hữu ngạn có tòa Khâm sứ, chung quanh lác đác có một hai cây thông cành lá rậm rạp, xao xác có tiếng gió lọt bên tai; bên tả ngạn kinh thành tráng lệ, thấp thoáng bóng trăng soi, coi như bức tranh sơn thủy, dẫu tay họa học vị tất đã vẽ được nét bút thiên nhiên như vậy. Gần bên sông có chợ gọi là chợ Gia Hội, chợ xây hai tầng, tầng trên cũng có thể họp chợ được. Bên sông dân cư và các nhà buôn, liền như bát úp; dưới sông san sát những thuyền đậu, bóng đèn ánh ra mặt nước như như gợn thủy ba, ngồi trên thuyền nghe giọng Huế hát rất là ai oán não nùng, cái tiếng ấy có phải là tiếng vong quốc của nước Chiêm Thành còn sót lại đấy không? Tai ta nghe mà vô hạn cảm tình”… Mấy ngày sau, Phục Ba được chứng kiến những trận mưa điển hình xứ Huế, có hôm phải nằm lại nhà quan Phó bảng Phan Võ đàm đạo thơ văn. Rút cuộc ông vẫn có dịp đến thăm lăng tẩm các vua: “Sớm mai nom ra ngoài đường nước ngập không có lối đi, đợi ngày hôm sau nước đã tiêu dần ra bể. Cách hai hôm đường sá khô ráo, đi lại như thường, thuê thuyền đi thăm các chỗ lăng tẩm của tiền triều, thời duy có lăng vua Tự Đức là tráng lệ hơn, có bàn câu cá, có gác quan thư; chỗ ấy có tôn nhân và các mệ nên đi lại không được tự do. Ngày hôm sau tiện dịp đi xem vạn niên cơ của đức Khải Định; ở bên sườn núi bên trong một cái nhà chính tẩm, bên ngoài lại có nhà trồng diêm, xây rất kiên cố, tường cột đắp những con giống và lan cúc trúc mai, dũa mảnh sứ cổ và pha lê chắp lại rất là tinh xảo, rất là công phu. Hiện bây giờ chưa làm xong mà giá đã đến mười ba vạn, so với các lăng tiền triều không đâu đẹp bằng. Ngờ đâu là chỗ chôn hài cốt thế mà cùng xa cực xỉ, lại thành ra một cái nhà đấu xảo của triều Nguyễn ta”…

Cũng có phần tương tự với Phục Ba, Nguyễn Tiến Lãng trong du ký Lại tới thần kinh (Nam phong, số 200+204, tháng 7+9-1934) đã nói rõ mình tới Huế đây là lần thứ tư với công việc làm báo. Cùng với những đoạn tả cảnh, tả việc, tả người xứ Huế thì vẫn canh cánh trong ông những nhớ thương một thủa, bảng lảng như mất như còn, như bâng khuâng thảng thốt: "Huế, cái tỉnh thật đúng với tên gọi là HUÊ, cái đất khiến cho người phải yêu mê yêu mệt! Xưa kia được thấy Huế, đó là một điều mong ước cần nhất, quí nhất của khách này... Cùng em gặp gỡ, Huế ơi, lần đầu kể tới nay đã được bốn năm trời. Vì em, ta lúc ấy còn là học trò ban Triết học trường Allbert Sarraut, bỏ cả học hành luôn mấy buổi; một thầy giáo cũ ở bên trường Bảo hộ, ông Foulon, cùng ta làm bạn tìm em... Cùng em gặp gỡ, Huế ơi, lần thứ hai... Thần kinh điểm nét mưa xuân, ta thăm vườn Tĩnh Tâm, thăm cung điện, miếu đền, ta mến cái phong cảnh trong thành và những khắc giờ im lặng, cái thú vị sông Hương cùng các hương thơm của sông Hương. Nhưng bao nhiêu cái đó ta cũng chỉ nếm biết một ly mà thôi; dạ chưa thoả, đã lại phải xa em, xa em mà trong lòng còn tiếc bao nhiêu tình cảm chưa được hưởng... Ngày ngày, tháng tháng, năm năm, thấm thoát một lần thứ ba nữa lại cùng em tương kiến... Bây giờ lại tới Thần kinh một lần thứ tư này, sẽ tới Thần kinh do chuyến xe tốc hành đang vùn vụt chạy trong đêm rộng trời khuya này, không biết khi tới thì có được xem cái vẻ mặt mới mẻ của kinh thành Huế?"...

Lại có những ký giả không sống, không ở lâu được với Huế mà chỉ đi lướt qua, thoáng qua mà thành nỗi ám ảnh. Nguyễn Trọng Thuật trong Nam du đến Ngũ Hành Sơn (Nam phong, số 184+185, tháng 5+6-1933) đã dành số lớn trang viết kể về những ngày tạm dừng chân ở Huế, trước khi đến thăm Ngũ Hành Sơn. Đáng chú ý ở đây có đề mục Thăm người tiếp chuyện kể về việc tác giả cùng các ông Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Cát Thành, Đông Mĩ tìm đường đến Đông Ba thăm tiên sinh Huỳnh Thúc Kháng, qua Yên Cựu thăm Nghị trưởng dân biểu Nguyễn Trác và Thư ký viện Dân biểu Trung kỳ Trần Bá Vinh; hoặc đề mục Từ Huế ra cửa Hàn, tác giả rất mực đề cao Công ty dịch vụ du lịch Hào Hưng vừa nhạy bén trong kinh doanh vừa chu đáo, khéo léo trong ứng xử với khách hàng...

Một bài viết khác của Mẫu Sơn Mục N.X.H nhan đề Lược ký đi đường bộ từ Hà Nội vào Sài Gòn (Nam phong, số 129, tháng 5-1928) lại phân biệt cuộc đi chơi với đi xem lăng tẩm, song vẫn cứ còn nuối tiếc và tự an ủi: "Chiều 6 giờ đến Huế, khi đi khi về đều vội cả, tôi tiếc không được ở lại vài ngày để xem cung điện, lăng tẩm - nhưng cái này thuộc về mĩ thuật, không phải là chủ đích cuộc đi chơi, cho nên cũng không cần lắm". Rồi ông có cách quan sát và đúc kết lý thú: "Ở Huế đẹp nhất là con sông Hương Giang, nước sông trong mà thường đầy, khúc trên thì cây cối um tùm, xóm gianh ẩn ước, đò ngang dịu dàng, ra bức tranh sơn thủy cổ...; lấy con mắt cũ mà xem thì kỳ đài Ngọ Môn trang nghiêm vô hạn, mà lấy con mắt mới mà xem thì cái vẻ trang nghiêm này cơ hồ bị cái vẻ tráng lệ lâu đài tối tân ngập lụt đi mất cả... Nói tóm lại, kinh đô Huế là nơi phong cảnh xinh đẹp, êm đềm u nhã...". Như vậy là biết bao những khách "qua đàng" đã chẳng thể hững hờ với Huế, mong muốn thăm danh lam thắng cảnh và tìm hiểu cả chiều sâu văn hoá Huế.

Du lịch xứ Huế là cả một vấn đề kinh tế - xã hội rộng lớn. Thể tài du ký xứ Huế hồi đầu thế kỷ là những trang ghi chép sống động, là nhân chứng bằng ngôn từ nghệ thuật mà nhiều khung cảnh thiên nhiên, nhiều thắng tích do con người tạo dựng, nhiều đường nét phong tục và đời sống xã hội đã một đi không trở lại. Chính nhờ các tác phẩm du ký xứ Huế mà chúng ta hình dung được sắc thái du lịch Huế hồi đầu thế kỷ - cái dấu nối quan trọng bắc cầu giữa những chuyến viễn du đơn lẻ ngày nào với cả một ngành Du lịch Huế khoa học và hiện đại đang vẫy gọi ở phía trước.

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác