Phác thảo du kí Hải Phòng đầu thế kỷ XX

(Toquoc)- Địa bàn hành chính Hải Phòng chính thức thành lập chưa phải đã lâu nhưng phát triển nhanh và mau chóng trở thành một trung tâm kinh tế-văn hóa lớn của cả nước.

Ngay từ đầu thế kỷ, với lợi thế đầu mối giao thông vùng Đông Bắc, đặc biệt là sự tiếp giáp với khu công nghiệp mỏ Hòn Gai - Quảng Ninh thì Hải Phòng càng trở nên một vị trí quan trọng. Song điều quan tâm chủ yếu của chúng tôi ở đây là ngay từ hồi đầu thế kỷ đã xuất hiện nhiều trang du ký viết về địa thế giao thông, đời sống văn hóa và danh lam thắng cảnh xứ Hải Phòng. Đọc những trang du ký này có thể giúp chúng ta hiểu thêm cảnh quan Hải Phòng một thời với các chuyến tàu đường sông, đường biển; hiểu thêm một kỳ hội chợ, một cảnh lễ hội Đồ Sơn hay cảnh quan kỳ thú nơi đảo Cát Bà (mà ngày đó vẫn thường gọi là đảo Các Bà).

Phác thảo du kí Hải Phòng đầu thế kỷ XX - ảnh 1
Phố Cầu Đất ngày trước (ảnh Internet)

Mở đầu bài du ký Hành trình chơi núi An Tử, Kiếm Hồ Nguyễn Thế Hữu kể chi tiết lối đi và cảm xúc của mình trong chuyến du lịch khi ngang qua Hải Phòng: “Sắm sửa nào nón lá, nào dây thừng, đồ lễ sáng hôm mồng 9 (tháng hai năm Canh Thân đời vua Khải Định thứ năm, 1920- NHS chú) ra ga Hà Nội, mà ngày đó trời lại mưa, qua 16 ga đến Hải Phòng. Khi tới nơi thuê ngay xe ra bến đò Bính, xuống phà sang qua sông, nộp ba xu thuế, cái khúc sông hèm hẹp mà cũng có một chiếc tàu cỏn con dắt cái phà đưa đón hành khách. Lên đến bến ngoảnh trông lại đỉnh, rõ ràng trên bến dưới thuyền, một cửa biển đô hội vậy.

Chửa ra đến tỉnh Hải Phòng, mới trông thấy cái tàu Phi Long Phi Phượng của công ti Bạch Thái chạy trên con sông Nhị Hà đã cho là to, mà nay đem sóng cùng mấy chiếc tàu lớn chạy bể, cái sức lực cái mạnh mẽ to lớn biết dường nào; con đường thông thương tiện lợi biết là bao!

Ở dưới phà bước chân lên, vào hàng ngồi nghỉ ngơi rồi thuê xe vào bến Bí, đường đi 20 cây-lô-mét rưỡi, thường thường 6 hào một xe, mà xe cao-su thêm hai hào nữa, hoặc khi hiếm xe thì thuê đắt hơn” (Nam phong, số 105, tháng 5-1926; tr.327).

Tiếp đến bài Quảng Yên du ký, tác giả Nhàn Vân Đình sau khi tả lại mưu thuật của bọn trộm cắp và đánh bạc trên tàu đã tỏ rõ niềm cảm khái trước đất trời lúc buổi sáng, nhất là tỏ lòng khâm phục về kỹ nghệ hiện đại của con tàu đi biển:

“Tiếng gà gáy sáng xao xác mang tai, bóng nhạn từ non tà tà trước mặt, ngoảnh trông ra bốn phương quạnh quẽ, mây in nước, nước in non, thấp thoáng trên ngọn đồi cao chìa ra một áng lâu đài sa nga đột ngột, hỏi những nhà đã quen mới trả lời cho biết là đài thiên văn Phù Liễn, thuộc tỉnh Kiến An. Lúc đó đồng hồ đánh 5 giờ, còi tầm các nhà máy lần lượt dạo sáng. Dưới đáy bể phun ra một mảnh kính đỏ, những tia sáng yểm ánh lên không gian, báo trước tự khi chưa ra đời, sao vì đó mà mai một, đèn vì đó mà thoát tàng, trời đất vì đó mà tạnh tẽ, thế giới vì đó mà ấm áp... Mặt trời đỏ mới mọc trong nước ra, áng mây xanh vừa bốc trên non về. Cái cảnh sắc của bầu trời mới mẻ đó chính là một món quà thiên nhiên tặng cho ta trong lúc chơi này!

Sáng mồng 6, 7 giờ 15 tới bến Hải Phòng. Tầu chạy đến đây là thôi. Chỗ màn bắc cầu xi măng vững chãi sạch sẽ, không như màn phà ở Nam và Hà Nội.

Lên bờ bái biệt Dục Tăng tiên sinh vào phố, còn ta thơ thẩn đứng lại, trông xuống bến nước xanh trong suốt đến đáy. Thuyền bè man mác như lá rụng, chiếc xuôi chiếc ngược, coi loạn cả mắt, lắm nhất là chiếc gõ con con vợ chồng chú Khách chở, người ngồi sau cầm vững tay lái, người đứng mũi nhè nhẹ chịu sào, lời sơn hải, chuyện uyên ương, dịu dàng uyển chuyển thay.

Hải Phòng là thành phố thứ hai ở Bắc Kỳ, so với Hà Nội thì kém về tinh thần, còn bề hình chất thì cũng cùng phong phú chẳng kém gì... Qua thành phố đến cửa bể, Sáu kho bên này, Lạch Tray bên kia, nhà cửa tráng lệ, Tây khách rộn rịp. Thuỷ trình có lối rẽ đi ngoại quốc, lắm chiếc tàu to và rộng, ngoài chiếc tàu binh của Bảo hộ, toàn là tầu Anh tầu Nhật mượn đường thông thương. Không phải hỏi tàu ấy rộng hẹp thế nào, dùng sức được bao, chỉ đơn cử một chiếc ống khói sừng sững như cây tháp nhà thờ thì đủ biết” (Nam phong, số 168, tháng 1-1932; tr. 84-85).

Đó là sơ lược cảnh quan nơi bến đỗ và đường tầu biển về khu cảng Hải Phòng. Trong một khoảng thời gian và khung cảnh khác, Nhị Linh trong bài Hội chợ Hải Phòng năm 1937 lại tường thuật cho bạn đọc biết sự nhốn nháo, hỗn loạn của cái hội chợ giữa thời thực dân nửa phong kiến. Lẽ ra hội chợ là nơi đáng để đi xem, du ngoạn, giao lưu-có thể coi là một hình thức du lịch-lại hóa thành nơi làm khổ mọi người (Ngày nay, số 91, tháng 12-1937; tr.91). Nếu như thiên du ký nói trên đã mang màu sắc phóng sự, hướng tới phê phán mặt trái qua một lần đi xem hội chợ thì tác giả Trọng Lang ở bài Hội Đồ Sơn lại tường thuật khá dung dị pha một chút hài hước cảnh nhảy đầm, đánh khúc côn cầu, bơi lội, xe đạp, thi người đẹp “bà chúa Đồ Sơn”. Ở phần cuối tác giả ghi lại mấy chi tiết về dịch vụ du lịch rất có ý nghĩa: “Ông Berjoan đã có một mỹ ý: cổ động cho Đồ Sơn. Nhưng dù đã có một ngày hội, sang năm người An Nam không có tiền vẫn nằm nhà và người giàu vẫn ra Đồ Sơn như thường. Trong vụ hè, người ta còn cần hạ giá mọi thứ như: tiền xe hỏa, tiền ăn và ngủ. Thì ngày 14 Juillet 1938 sẽ mở đầu cho những vụ hè nhẹ nhàng sau này của đám người ít tiền” (Ngày nay, số 121, tháng 6-1938; tr. 17-18).

Thể tài du ký bao gồm trong nó nhiều phong cách, nhiều lối viết, nhiều cách dẫn chuyện và nhiều hình thức thể loại khác nhau. Nét nổi bật nhất ở đây là sự thể hiện vai trò chủ thể, cảm xúc hiện thực trực tiếp của người xem-nghe-chứng kiến-trải nghiệm và khả năng tái hiện, tường thuật sinh động lịch trình chuyến du ngoạn. Ngoài vai trò cảm xúc, cách cảm nhận, chọn lựa các chi tiết thì ưu tiên của dòng cảm hứng du ký là đưa đến cảm giác mới lạ cho người đọc về cảnh quan thiên nhiên, về danh lam thắng cảnh, về di tích lịch sử, về các lễ hội văn hóa và chính các phương tiện, hình thức của chuyến viễn du-nghĩa là chúng bao quát đầy đủ các loại hình như du lịch thăm cảnh quan văn hóa, thắng tích, sinh thái, khảo cứu phong tục, xã hội học, dân tộc học. Mặc dù các trang viết chưa thật phong phú về số lượng, tập trung về đối tượng đề tài song mảng du ký đất cảng Hải Phòng hồi đầu thế kỷ cũng đã phác họa được nhiều cảnh quan hiện thực khá điển hình. Đến đây chúng tôi dẫn lại bài du ký dài in đậm phong cách ghi chép - ký sự của nữ sĩ Vân Đài Bốn năm trên đảo Các Bà trên Tạp chí Tri tân. Mở đầu là lời kể một chuyến ra đi: “Chiếc thuyền gỗ mui nan, đủng đỉnh đưa gia quyến chúng tôi ra khỏi Sông Đào, đến cửa Nam Triệu. Hôm ấy vào một sáng hè, vòm trời xanh đậm màu lơ và khí trời đã bắt đầu oi ả. Một ngọn gió đưa từ xa lại, chiếc buồm treo trên cột thuyền thong thả quay ngang... Chậm chậm tiến lên, thuyền dần dần xa bến. Gió bể gieo vào thuyền một thứ không khí khác thường, nhưng rất trong sạch. Không khí này quen với tôi lắm. Chỉ một chút gió phớt qua, một chút lạnh lùng đưa lại, lòng tôi đã gây gấy lên một cơn sốt nhẹ nhàng, nhưng sôi nổi để tha thiết những cái gì cao cả mênh mông của vũ trụ, những cái gì chân thật, vĩnh viễn, không giả dối, không khinh bạc của loài người. Phải chăng là gió với mây, trăng với nước, là bạn chí thân của những tâm hồn ẩn dật?... Cửa bể con con của Các Bà bệ vệ như một chiếc ngai vàng, mở rộng hai tay để che chở những con thuyền phiêu bạc. Bao bọc chung quanh những giải núi xanh, Các Bà đã lọt vào giữa lòng khu đất ấy. Tất cả trông như một cái vòng tròn. Trước vòng tròn mở ra một cửa đón thuyền ra vào, trông thật là một nơi rất an ổn cho những thuyền bè trong những ngày sóng gió”; tiếp đó tác giả kể lại lời truyền lai lịch tên hòn đảo: “Tiện đây tôi xin nói qua về cái tên Các Bà, mà nhiều người vẫn gọi lầm là Cát Bà như người ta gọi Cát Hải vậy. Các Bà xưa kia vẫn có một tên mà người Khách gọi là Appovan và người Nam gọi là Các Bà, do lấy tên một ngôi mộ của hai nữ thần không tên, chết ở đâu, trôi về và hiển linh tại đấy. Ngôi mộ ấy gọi là ngôi mộ của Các Bà, người ta lập miếu thờ và người ta muốn biểu dương cái uy linh của các bà, nên lấy tên Các Bà đặt cho hòn đảo” (Tri tân, số 149, tháng 7-1944).

Sau khi nêu lên vai trò nhà đoan và cuộc sống của dân chài lưới cùng những hành vi trốn thuế của bọn buôn lậu cá, mực khô, tác giả nhấn mạnh thực trạng đời sống và cung cách làm ăn của dân ta so với người Khách: “Không kể hai làng Tân Châu và Xuân Đám, một số ít người Nam ở Các Bà phần đông là người nghèo khổ. Nghề nghiệp của họ không có gì khác hơn là nghề lấy củi, lấy cỏ, vác mướn thuê cho khách trú. Giữa nơi tiền rừng bạc bể, thế mà một số người ở chính đất nước mà vẫn cam tâm đứng bên cạnh sự sung sướng của kẻ khác, nhìn họ kiếm tiền một cách dễ dàng... Rồi ngày qua ngày, họ đánh những con cá bé, câu những con tôm te (nhất là nghề câu tôm), bán lại cho thuyền Khách. Người Khách lại dùng tôm câu cá giống để lấy vây. Nhiều ngày sống gần bọn thuyền chài, tôi nhận thấy đời họ có một đời sống đầy khí trời, đầy trong sạch và tâm hồn họ rất chất phát. Riêng với họ, họ vẫn ước ao chiếc thuyền to, chiếc lưới chắc cho họ có thể vững vàng hơn nữa... Gần đây nhà nước đã đóng thuyền, bỏ vốn giúp một số đông thuyền chài người Nam. Thật là một điều đáng mừng” (Tri tân, số 154, tháng 8-1944). Đọc đoạn văn này ta có cảm tưởng như chính câu chuyện bức xúc đang đặt ra cho cuộc sống hôm nay đây.

Một mảng hiện thực khá lý thú nữa là phong cảnh làng quê hiện diện giữa vùng đảo đã được tác giả trân trọng phác họa:

“Trèo qua nhiều ngọn đồi gập ghềnh, len vào những con đường độc đạo. Làng Tân Châu và Xuân Đám là một cõi riêng, gần như một thế giới khác. Người ở đây sống biệt lập và vẫn giữ được căn bản người Việt Nam. Đến đấy, ta có một cảm tưởng như sống trong một thế hệ cũ, vì người và cảnh vẫn có một vẻ mộc mạc thời xưa. Mười năm về trước, trong lúc các nơi đã bỏ nghề nuôi tằm, dệt lụa, ở đây vẫn có những bãi dâu, những khung cửi, những cô gái mặc váy đũi, yếm cổ xẻ và những ông già bạc đầu chống gậy trúc, mặc áo lụa mộc, chiều chiều đi ngắm cảnh dưới tà dương...

Những cây cổ thụ to, tàn lá xanh toè kín làm cho các đường đi trong làng lúc nào cũng có vẻ êm mát, dù trong mùa hè gay gắt. Những nhà lá rộng rãi, đặt trong các thửa vườn vuông vắn, mới trông chỉ thấy một màu xanh mượt của đám lá chuối non, giàn bầu nặng chĩu quả. Có nhà thỉnh thoảng đưa ra những tiếng đều đặn của chiếc khung cửi dệt lụa do cô gái có đôi má hồng mơn mởn đương dẻo tay đưa thoi” (Tri tân, số 157, tháng 9-1944).

Ngày nay đọc lại những trang ghi chép này chúng ta có thể hình dung về cuộc sống người dân nơi đảo xa cách nay đã quá nửa thế kỷ. Song ngay từ đương thời người viết du ký không chỉ sao chép phong cảnh thiên nhiên, tả cái vẻ hấp dẫn mới lạ của vùng quê đảo biển mà còn truyền vào đó chất thẩm mĩ và nâng cấp thành đạo lý ứng xử sống hòa hợp với tự nhiên: “Ở Các Bà, nơi có người ở mà đẹp nhất là sở Vô tuyến điện. Sở nằm trên một cái đồi, cao hai trăm thước. Bốn mặt trông ra là bể và núi. Gió mới luôn thay đổi với cảnh trời. Một khu vườn con đầy hoa đem từ Hạ Hồi lại, ba gian nhà rộng, về mùa xuân, sớm hôm sương mờ lồng chung quanh cửa sổ; mùa thu, bể lặng và trong mơ màng như mắt đẹp một mỹ nhân. Cây đồi, gió núi êm dịu nhẹ nhàng, luôn luôn thỏ thẻ những lời vẻ chân thật. Bốn năm tôi đã sống qua quãng đời yên tĩnh, tịch mịch. Cuộc đời không giả dối, không danh lợi, tôi chỉ ước ao sống nốt đời nơi danh thắng ấy” (Tri tân, số 158, tháng 9-1944)...

Bao nhiêu năm tháng qua đi rồi nhưng dòng sông bến cũ vẫn còn đây, những dãy núi đá cao vẫn trầm mặc đổ bóng xuống mặt biển chiều lặng sóng. Có khác chăng là cảnh quan mới được tạo dựng, là bao lớp người đã ra đi và bao lớp trẻ lại lớn lên, tiếp nối cha anh. Đọc những trang du ký về Hải Phòng một thời chưa xa, tôi lại ước ao - ước ao một ngày đi lại con đường xưa, tìm lại dấu ấn xưa, so sánh cái mới mẻ hôm nay và cái người xưa lưu dấu. Đấy cũng là ngọn nguồn của cảm hứng du lịch, cảm hứng một chuyến viễn du xứ biển Hải Phòng đang vẫy gọi ở phía trước.

PGS. TS. Nguyễn Hữu Sơn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác