Ông vua chân đất

Tác phẩm đoạt Giải Nhất cuộc thi Bút ký Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV - năm 2010 của tác giả Trần Đắc Hiển Khánh

Trong lúc tôi đang định viết một bút ký về một người nuôi tôm ở Bạc Liêu, bỗng thấy trên truyền hình có cuộc trao tặng giải thưởng cho những người sản xuất kinh doanh giỏi “Vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp - nông thôn Việt Nam”. Buổi lễ diễn ra vào tối ngày 30/7/2010 tại Hà Nội. Những người được trao giải thưởng này có nhiều Giám đốc các Sở Khoa học - công nghệ, Sở Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn, các giáo sư, tiến sĩ và có 5-7 nông dân sản xuất giỏi trong cả nước. Tại buổi lễ trang trọng này, tất cả những người được nhận giải đứng xếp một hàng ngang trước khán đài. Trong mấy chục người được vinh danh đó, có nhân vật tôi đang định viết: ông Võ Hồng Ngoãn, nông dân sản xuất giỏi ở Bạc Liêu.

Tôi bật tiếng reo:

- Ôi, Bạc Liêu kìa!

Ông vua chân đất - ảnh 1Tôi vui quá vì nhân vật mình định viết có “đẳng cấp” đấy chứ. Nhưng lại băn khoăn, hẳn có nhiều người viết về ông. Lâu nay, mẫu người báo chí nêu tên tuổi, đã biểu dương, đã nhào nặn thành những điển hình hay dở cũng nhiều. Với lại, người nổi tiếng hẳn nhiều người biết rồi, nói mãi, khéo sinh nhàm. Thôi cứ nói theo cách mình gặp, mình biết.

Nhiều người đã gọi ông là “Vua tôm Sáu Ngoãn”, tôi xin được gọi theo.

Vậy là chúng tôi có chuyến thượng lộ đáo cung “tiếp kiến vua”.

“Cung” của vua tôm Sáu Ngoãn nằm giữa cánh đồng rộng mênh mông, ngoại ô thị xã Bạc Liêu. Một ngôi nhà nổi lên giữa cánh đồng mông mênh gió, mênh mông nước, ngập tràn nắng. Cửa nhà rộng mở. Vừa bước vào dã thấy những bảng hiệu, những chỉ dẫn, qui trình sản xuất... sắp xếp một cách có tổ chức ngăn nắp.

Một tấm bảng hiệu ghi: “Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 143438. Trang trại nuôi tôm sạch Sáu Ngoãn Việt Nam - ấp Vĩnh Đông A - Vĩnh Trạnh Đông - Bạc Liêu”. Có hiệu lực 10 năm. Hết thời gian có thể gia hạn. Cục Sở hữu trí tuệ khoa học Việt Nam chứng nhận.

Một tấm biển khác: “Trang trại Võ Hồng Ngoãn - Viện khoa học Việt Nam - Đề tài vi tảo quốc gia - Giáo sư tiến sĩ Đặng Đình Kim và Đại học Cần Thơ”...

Với các đề tài khoa học và những giấy chứng nhận giữa “cung” này cho thấy sự tiếp thu khoa học kỹ thuật của “vua tôm” khá nhạy bén. Và ánh sáng khoa học đã chiếu rọi đến vùng đất xa xôi hẻo lánh này. Sự cộng hưởng đó đã và đang tạo bước phát triển vững chắc cho một trang trại, cho một vùng quê.

Võ Hồng Ngoãn khởi đầu từ cuối năm 2000, với số vốn ban đầu 300 triệu đồng, 3 hecta nuôi tôm sú. Sau một vài vụ, suy nghĩ thấy cách nuôi bấy nay không còn phù hợp, Sáu Ngoãn đã tiếp cận các nhà khoa học để học hỏi các mô hình nuôi tôm và biện pháp kỹ thuật. Từ năm 2002, Sáu Ngoãn hạ thấp mật độ nuôi tôm xuống còn 15-20 con/m2. Rồi từ một ao tôm bị hao hụt lớn, tưởng thất bại, Sáu Ngoãn tính toán và rút ra kết luận: “Mật độ tôm thưa lại có năng suất cao hơn”. Sau đó đúc kết thành qui trình “Nuôi tôm mật độ thưa bền vững “. Nuôi mật độ thưa, đầu tư ít, rũi ro thấp, lợi nhuận cao, dễ áp dụng cho nông dân nghèo. Đến nay, trang trại của Võ Hồng Ngoãn lên tới 50 hecta, lợi nhuận 2-3 tỷ đồng mỗi năm, giải quyết việc làm ổn định cho 50 lao động tại địa phương.

Nhìn toàn cảnh trang trại của Võ Hồng Ngoãn, thấy ngay một phương thức làm ăn khoa học, bề thế. Từ trên đê biển nhìn xuống là khu ao lắng phù sa kết hợp nuôi cá diệt xác. Từ ao lắng này lại có hệ thống dẫn nước vào ao lắng chính. Một hệ thống liên hoàn làm nhiệm vụ xả nước ra, lấy nước mới, để có nguồn nước sạch tự nhiên. Đồng thời dùng môi sinh xử lý môi trường nước cho tôm bằng những nguyên liệu tự nhiên như tỏi, mật ong... chế biến thay thế kháng sinh, cùng với việc nuôi cá dữ ăn mầm bệnh.

Trong môi trường “tinh khiết” như vậy, con tôm lại sống ở mật độ thưa thả sức vẫy vùng, thả sức lớn trong những “ngôi nhà” thênh thang ấy. Sáu Ngoãn đưa ra câu hỏi: “Nuôi tôm sú lấy số lượng hay chất lượng và lợi nhuận?”. Câu hỏi đơn giản ấy hẳn ai cũng trả lời được.

Đã có lúc ốc bươu vàng gây thảm họa cho nhà nông, phá hoại lúa và hoa màu ở Bạc Liêu cũng như nhiều nơi khác. Sáu Ngoãn biến ốc bươu vàng thành thức ăn cho tôm. Làm sạch môi trường. Tôm mau lớn, giảm chi phí thức ăn. Sáu Ngoãn đã từng thu mua ốc bươu vàng với giá 5.000 đồng/kg. Có vụ thu mua hàng mấy chục tấn. Việc ấy như “thuê” người làm sạch môi trường, đem lại niềm vui cho nhiều người.

Con tôm rất khó tính. Tôm chỉ ăn ở nhiệt độ nước lớn hơn 24oC và nhỏ hơn 33oC. Máy đo nhiệt độ nước gắn với máy đo nồng dộ oxy giá bán 15 triệu đồng. Giá này với Sáu Ngoãn chẳng đáng là bao nhưng với người nghèo là chuyện khó nên họ chẳng đo chác gì, cứ cho... ”ăn đại”. Ăn không hết thì thức ăn gây ô nhiễm môi trường, tôm sinh bệnh, chết, lỗ vốn. Ăn không đủ thì tôm chậm lớn, năng suất thấp.

Thấy vậy, Sáu Ngoãn chế ra máy đo nhiệt độ chỉ với giá 20.000 đồng/cái. Máy đã được Sở Khoa học - Công nghệ kiểm nghiệm. Có người nói đây là máy của “nhà nghèo nuôi tôm”. Người nghèo cũng mua được máy đo dễ dàng, chủ động trong mọi lúc.

Tôi có trong sổ tay những con số nêu kết quả của “vua tôm” Sáu Ngoãn và những đóng góp của ông vào các hoạt động xã hội. Con số nào cũng hàng triệu hàng tỷ. Hẳn những thông tin ấy nhiều người biết: Đóng góp qũy vì người nghèo, xây nhà tình nghĩa nhà tình thương và nhiều nghĩa cử khác. Nói theo ngôn ngữ hiện hành, đây là một nhà tài trợ điển hình của địa phương.

Có một vài con số thấy nho nhỏ xem ra ai cũng làm được, không có gì là to tát dễ cho qua. Đó là việc Sáu Ngoãn bỏ tiền ra xây trường tiểu học cho làng cá Vĩnh Trạch Đông. Con em dân mò cua bắt cá được Sáu Ngoãn “mướn đi học” và hỗ trợ tiền lương cho giáo viên nên học hành chăm chỉ lắm.

Hôm chúng tôi đi qua ngôi trường nhỏ giữa đồng, bọn trẻ thấy ông Sáu Ngoãn, đồng thanh cất tiếng:

- Chúng cháu chào ông ngoại !

Theo Sáu Ngoãn thì đầu tư cho trẻ học hành, vun trồng cho thế hệ tương lai là quan trọng lắm, cần được sự quan tâm của toàn xã hội. ông kể, ở quê ông đã có một đứa trẻ mới sinh được 12 tháng thì cha mẹ đánh lộn nhau. Cha đốt nhà rồi định quăng con trong lửa. Cha bị bắt. Mẹ bỏ nhà đi. Bé Tân ở với ngoại. Thằng bé được 12 tuổi thì mẹ chết. Sáu Ngoãn nhận nó làm con nuôi. Rồi Tân lớn lên, thi đỗ vào trường đại học, ngành nuôi trồng thủy sản. Cha nuôi Sáu Ngoãn cho l5 triệu đóng nhập học và nuôi Tân ăn học cho đến khi ra trường.

Trong câu chuyện với chúng tôi, tỷ phú Sáu Ngoãn luôn quan tâm đến cái sự nghèo, nguyên nhân nghèo. Theo Sáu Ngoãn thì có nhiều loại nghèo. Loại “muốn nghèo”: Đó là những “chuyên gia nhậu”, nhậu đến nghèo... thì khi chết chỉ còn cách cho cái hòm là xong. Loại nghèo “vì tiền cắn”. Đi làm có tiền nhúc nhích trong túi, đi chơi, sắm điện thoại di động, sắm xe máy chạy nhong nhong ngoài đường. Tai nạn rồi nghèo mạt. Một số người “nghèo thiệt” làm cho Sáu Ngoãn, đến tháng nhận lương. Ông chỉ dẫn cho cách gom góp dần,tích tiểu thành đại”,  dần dà sẽ có một số vốn để làm ăn, góp vào cổ phần. Đó là bài học ông bày cho những người nghèo. Họ biết ơn ông và nói rằng:Cho vàng không bằng chỉ đàng làm ăn ... “.

Phải chăng Sáu Ngoãn đã từng nhảy “trên mặt sàng cuộc đời” để vượt qua chính mình mà trụ vững lại nơi này làm nên sự nghiệp hôm nay. Sáu Ngoãn kể đã từng trải qua nhiều nghề: từng là tài xế rong ruổi đường trường; từng nuôi bò, nuôi dê... Tất cả đều thất bại, chả đâu vào đâu!

Một khúc quanh, một cua vòng đã quay Sáu Ngoãn về cái thiết thực. Từ cuối năm 2000, ở cái tuổi “Tứ thập bất hoặc” thì sự huyễn hoặc hẳn phải đẩy lùi Sáu Ngoãn cắm cúi với đất và từ đất đã gợi những nghĩ suy. Sự bền chặt của đất đai tạo thế đứng vững chắc. Cái phì nhiêu trong đất đã níu giữ, trả công xứng đáng, khỏi phải bổ sấp bổ ngửa nhiều bề gian truân. Nghĩa là con người ấy đã đội trời, đạp đất mà giong buồm qua mọi thử thách của đất đai, mưa nắng để có những vụ tôm bội thu. Điều đáng nói, “buồm” của Sáu Ngoãn là tri thức nhà nông, là suy nghĩ từ thực tiễn công việc. Tiền bạc, vốn liếng là gì nếu không có “vốn” là giai điệu nghĩ suy lặng lẽ, chắc bền. Sáu Ngoãn hiểu rõ điều đó, bởi đấy mới là phẩm chất làm nên sự giàu có của ông.

Sáu Ngoãn kể, riêng năm 2010, ông được thông báo nhận 4 giải thưởng. Ông cười, nói nhỏ: nhưng có những giải thưởng kèm theo điều kiện đóng 15-20 triệu đồng (!). Thôi những giải đó cho qua, nghỉ khỏe. Để tiền đó cho người nghèo xây nhà tình nghĩa, tình thương còn có ích hơn”.

Qua chuyện trò, tiếp xúc với Sáu Ngoãn mới thấy thương cho những người cố “rướn” lên thành điển hình, có tên tuổi để lấy tiếng tăm gần xa, thành những “hình nộm”. Một người sản xuất giỏi mà quá trình vật lộn với con tôm con sú, quá trình nghĩ ngợi từ đất, từ nước mà đi lên một cách vững chắc thành kiểu mẫu như Sáu Ngoãn là tấm gương sáng, soi vào đó tỏ ra nhiều điều.

Tôi đã từng gặp gỡ một số ông chủ trang trại ăn nên làm ra. Sáu Ngoãn cũng như nhiều người nông dân sản xuất giỏi khác. Sự chân thành, chất phác giản dị toát ra từ dáng người, ánh mắt, nụ cười. Nhưng sự sâu sắc, linh hoạt thì mỗi người một vẻ, Sáu Ngoãn có một vẻ riêng. Giống như vuông tôm kia, trong xanh lặng lẽ mà lắng đọng, tiềm tàng bao của cải - kết quả của sức lực và trí tuệ ân sâu dưới đó.

Hãy nhìn “ông vua” đi giữa vuông tôm, chân đất đầu trần. Bàn chân choãi ra bám chặt vào mặt đất. Cứ tưởng là vua thì cân đai áo mũ dềnh dàng, võng lọng thênh thang, bước chân oai phong lẫm liệt... sao lại lèng xèng thế kia?

Trong cái nắng của chiều thu, chúng tôi theo Sáu Ngoãn dạo quanh vuông tôm. Bàn tay ông khỏa vào mặt nước làm như có thể đo được nhiệt độ cao thấp và lường thời điểm cho tôm ăn thích hợp. Nhìn kỹ bàn tay từng phát cỏ, đắp bờ, khơi dòng nước. Những vết chai sạn ấy ghi lại sự gian nan vất vả, là chứng chỉ của công việc nuôi dưỡng tôm sú bấy nay. Sáu Ngoãn nói như chia xẻ kinh nghiệm:

- Biết kỹ thuật rồi nhưng công phải uyển chuyển theo từng mùa mưa nắng, đừng “bẻ nạng chống trời”. Phải biết lựa chiều mà làm ăn sinh sống mới được!

Rồi ông chỉ xuống mặt nước vuông tôm vẻ hài lòng:

- Màu nước này hạp với tôm lắm đây!

Quả thật, những tháng ngày thon thót trông mưa trông nắng, nhìn màu nước, lắng nghe tiếng tôm bủng… đã cho Sáu Ngoãn những kinh nghiệm, những cảm quan mang tính khoa học rất nhạy bén. Tôi đang cố ghi nhớ cái màu nước dưới bầu trời cao rộng xanh thẳm, chắc một niềm tin về mùa tôm bội thu của Sáu Ngoãn thì có một đoàn khách tới thăm trang trại. Chúng tôi cùng mấy người khách Malaysia đứng ngay trên bờ vuông tôm.

Sáu Ngoãn tiếp khách một cách tự nhiên, thoải mái. Hẳn những cuộc đàm đạo, khách khứa như thế này không ít đối với ông. Với ánh nhìn tự tin, thẳng, thắn, bộc trực, không e dè hay cầu cạnh gì. Chúng tôi nghe Sáu Ngoãn trả lời một cách khúc chiết, cụ thể và thiết thực. Qua lời phiên dịch, nhưng người nước ngoài chăm chú ghi chép như những học trò nghe thầy giảng giải.

Cho đến nay, Võ Hồng Ngoãn là người nuôi tôm sú đầu tiên trong cả nước ta được cấp giấy chứng nhận thương hiệu độc quyền. Với qui trình nuôi tôm sạch bền vững, không sử dụng kháng sinh và hóa chất độc hại, chỉ sử dụng các chế phẩm vi sinh để xử lý môi trường. Sản phẩm tôm sạch của Sáu Ngoãn được nhiều công ty các nước EU và Nhật Bản là những khách hàng tiêu dùng khó tính nhất đã trực tiếp đến tận vuông tôm ký hợp đồng với giá cao hơn thị trường từ 15% trở lên. Trong lúc trên thị trường cái gì cũng có thể làm giả, làm nhái. Thức ăn vào miệng, cũng chưa biết thật giả (!) Tôm sú bơm tạp chất để tăng ký thêm lời thì việc sản xuất tôm sạch như một hành vi đạo dực, văn minh rất đáng trân trọng!

Lâu nay, trại tôm Sáu Ngoãn đã trở thành cái “lò” thực hành cho các kỹ sư tương lai. Hàng năm trại tôm nhận vài chục sinh viên các trường đại học Cần Thơ, đại học Thủy sản Nha Trang, đại học An Giang về thực tập. Ông “vua chân đất” truyền kinh nghiệm nuôi tôm, các sinh viên nghe “mê như điếu đổ”. Vì ông nói những điều như giáo sư dạy họ, lại có thêm tiếng búng lách tách của tôm, có cả con cua bò lổm ngổm trong câu chữ của ông.

Nơi đây còn là địa chỉ của các nhà khoa học nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Nhật Bản, Thái Lan... Việc đánh giá, thẩm định về kinh nghiệm, kỹ thuật nuôi tôm sú của Sáu Ngoãn là ngoài tầm hiểu biết của tôi. Những gì tôi nghe, tôi biết khi gặp gỡ người nông dân năng động, chất phác, giàu lòng nhân ái này đã gợi cho tôi nhiều điều trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước, phải cảm ơn cơ chế thoáng mở bấy nay. Từ đó đã tạo ra những con người sản xuất giỏi, tạo ra những thương hiệu mới. Những người nông dân biết suy nghĩ, có tâm thế bình an, cư xử ôn hòa đã cho ta những kinh nghiệm làm ăn, cả những bài học về lẽ sống. Những mô hình này mau chóng lan rộng khắp nơi. Từ việc an dân để làm giàu là cách nhau chóng để thực hiện “dân giàu, nước mạnh” không còn là một khẩu hiệu hô hào “suông” nữa.

Gặp một thanh niên trong trang trại, tôi gợi chuyện. Anh nói:

- Tôi tên Thal, dân tộc Khmer. Nhà tôi thuộc diện hộ nghèo ở ấp Xiêm Cáng, xã Vĩnh Trạch Đông. Thấy hoàn cảnh gia đình tôi khó khăn, bác Sáu nhận tôi làm rồi cho cả vợ tôi cùng vô làm. Bác Sáu đào tạo kỹ thuật cho tôi. Nay tôi là tổ trưởng một tổ sản xuất. Hiện gia đình tôi ăn ở, sinh hoạt ngay trong trang trại này. Thu nhập của chúng tôi khoảng 2 triệu đồng mỗi tháng, ngoài ra còn được thưởng sau mỗi vụ thu hoạch.

Khi hỏi ông chủ trại về bí quyết thành công? Sáu Ngoãn nói về ý chí và đôi bàn tay của mình: “Thiết nghĩ, cái trí làm người đã khó, có chí để làm giàu lại càng khó hơn”.

Tôi nghĩ, Sáu Ngoãn đã đạt được hai cái nấc ấy để sừng sững giữa đời. Vừa làm vừa tích lũy để tạo dựng được cơ sở vật chất vững chắc. Chắt lọc, sâu lắng trong thực tiễn làm phong phú và sáng tỏ thêm kiến thức khoa học. Đó chính là vẻ đẹp bền chắc của đất đai xứ sở. Cũng là sự trong trẻo của một con người khi đã hòa vào dòng chảy của cuộc sống hôm nay. Con người ấy lại tạo phì nhiêu cho đất. Thành quả giao thoa của dòng sông, đất đai và con người thật bền chắc.

Có kết quả về mặt kinh tế, tỷ phú nông dân Sáu Ngoãn vẫn miệt mài, say mê nghiên cứu những đề tài mới nhằm không ngừng tăng giá trị tôm xuất khẩu. Điều đáng nói là từ những kiến thức, kinh nghiệm của mình, Sáu Ngoãn rất coi trọng việc phổ biến cho người khác. Con người khôn ngoan này không dấu bí quyết cho riêng mình mà luôn muốn truyền cái biết, cái khôn cho người khác. Theo ông “Một niềm vui chia đôi thành hai niềm vui. Chia cho nhiều người hẳn có nhiều lắm niềm vui”.

Trước những nỗi buồn, những bức xúc của người khác, Sáu Ngoãn sẵn sàng chia sẻ tìm cách bảo vệ người yếu, người bị hại. Qua diễn đàn của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, ông phản ứng gay gắt:Việc bơm tạp chất vào tôm gây mất uy tín, mất thị trường, thiệt hại lớn cho nhiều người. Lợi ích của ngành tôm không thể hủy hoại bằng hành vi bất chính như vậy”.

Với tính bộc trực, lối sống vì nghĩa cả, “giữa đường gặp sự bất bình chẳng tha”, Sáu Ngoãn rất bất bình trước những hành vi gian trá, giả dối. Phân bón giả tuy không trực tiếp gây thiệt hại cho Sáu Ngoãn nhưng vì quyền lợi của nhiều người, ông cũng “nhào dô” lên tiếng phản đối gay gắt và kiến nghị lên cấp trên. ông nói kẻ làm phân bón giả cũng như bọn sản xuất heroin. “Heroin làm hại người có tiền sống buông thả; phân bón giả làm hại người nông dân nghèo lương thiện. Không lẽ các ngành chức năng, các cấp có thẩm quyền chịu bó tay trước cái ác, cái xấu và sự gian lận?”

Tôi chợt nhớ trong câu chuyện vui với ông “vua chân đất”, Sáu Ngoãn đã nói:

- Chân đất hay chân dép gì cũng vậy phải làm ăn chân chính mới bền với lại phải nghiên cứu làm thế nào để người nghèo ít vốn vẫn nuôi được tôm có lãi.

Lâu nay ta vẫn nói: “người nghèo”, “xóa đói giảm nghèo”. Nói hoài nói mãi thành quen miệng, nghe quen lỗ tai rồi thành ra “chả có gì đặc biệt”. Nhưng nó đáng giá, đáng quí khi những người như Sáu Ngoãn đã đóng góp bằng cách luôn nghĩ đến người nghèo, vì người nghèo bằng việc làm cụ thể, đóng góp những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi, trí lực của mình cho người nghèo, còn giúp họ bằng cách tạo ra việc làm, truyền bá kỹ thuật, cho họ bằng cả tấm lòng “thương người như thể thương thân”. Hẳn người có lòng thương và người được thương sẽ có mối quan hệ đùm bọc bền chắc trong lúc người ta hay “quên” như hiện nay. Thú thật tôi cũng là người hay quên nhưng vẫn nhớ trong ngôn ngữ tiếng Việt từ “nhớ” luôn đi đôi với từ “thương”. Có tấm lòng “nhớ thương” để biết tạo hạnh phúc cho mình và tạo hạnh phúc cho người khác là một phép lạ.

Phép lạ đã làm cho cô Tấm trở thành Hoàng hậu.

Thiết nghĩ cô Tấm được nhờ phép lạ của Tiên, Bụt. Những người như Sáu Ngoãn nhờ ở ý chí, nghị lực và sự năng động của chính mình mà lên “ngôi”. Đó cũng là phép lạ giữa đời thường.

Đứng ở cuối trang trại của Sáu Ngoãn, tôi nhìn bao quát những ao tôm vuông vắn trải ra mênh mông, chợt nghĩ về mồ hôi, sức lực của bao người đã đổ xuống đây. Tôi nhìn lại một lần nữa chân dung người nông dân sản xuất giỏi. Một ông “vua chân đất”, thô ráp có cặp mắt nhân từ và niềm khát khao cuộc sống như “bong ra” để có thể nhìn thấy được. Luôn muốn chắp cánh bay và muốn mọi người cùng bay theo. Đó là ông “vua” mang cốt cách của người quê. Là hình mẫu của con người ở một vùng đất đã từng vật lộn với việc đào mương, xẻ kinh, cải tạo đất phèn mặn mang dấu ấn của cộng đồng thuở sơ khai. Trước những con người này, ta cảm mến thì dễ chớ rạch ròi ra những điều tốt đẹp thật khó thay.

Đã qua rồi thời mở cõi. Ngày nay, nông dân Bạc Liêu tiếp tục mở ra chân trời mới cho tiềm năng quê hương mình.

Ánh chiều vàng loang trên mặt vuông tôm rồi tắt hẳn. Tất cả chìm dưới đáy sâu và lắng lại như tích tụ nguồn năng lượng - thành quả trên con đường đôi mới của đất và người Bạc Liêu. Bạc Liêu, cái tên nghe đã thấy phóng khoáng, mát da mát thịt. Xứ sở ôn hòa, thuận mưa thuận gió, sự hào phóng của thiên nhiên và con người. Bởi thế nơi ấy đã có một “Công tử Bạc Liêu” lừng danh cả nước. Có một “Cao Văn Lầu” tác giả “Dạ cổ hoài lang, bài ca vua vọng cổ làm say lòng người. Lại có tác giả một lối “Nói thơ Bạc Liêu”, giai điệu thâm trầm mà bay bổng. Hôm nay, lại có một Võ Hồng Ngoãn là tác giả của qui trình nuôi tôm sạch Bạc Liêu - “Thương hiệu Sáu Ngoãn”.

 

Thanh

Khi tôi đang viết những dòng này thì hay tin Thị xã Bạc Liêu được nâng cấp lên Thành phố.

Lại được tin từ “vua tôm” Sáu Ngoãn:

Tôi vừa thu hoạch xong vụ tôm. Được 43 tấn tôm sạch. Mình thưởng cho quản gia 50 triệu, nhân viên khác từ 10-20 triệu đồng một người.

Những người nghèo chăm chỉ làm lụng cùng ông hẳn vui lắm! Tôi cũng vui lây!

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác