Núi đôi, một hiện tượng sau chiến tranh

Theo lời của nhà thơ Vũ Cao, Núi Đôi (nay thuộc Sóc Sơn, Hà Nội) là hai ngọn núi, một cao, một thấp đứng gần nhau. Sau chiến tranh Núi Đôi vẫn nguyên vẹn, các lô cốt, ụ pháo và những cây thông cao vút vẫn còn.

Dưới núi là một nghĩa trang nhỏ, thường chiều nào tôi cũng lững thững lên núi nhìn về phía Hà Nội hoặc về phía Tam Đảo, mặt trời lặn hẳn mới về đơn vị ăn cơm. Mỗi lần như vậy khi bước vào nhà tôi thường quay lại nhìn hai ngọn núi, cứ lưu luyến một điều gì đó. Bỗng từ nơi nào đó trong tiềm thức tôi nảy ra hình ảnh: Hai ngọn núi kia là hai con người, núi cao là nam và núi thấp là nữ, những ngọn thông và làng mạc kia là quang cảnhững còn lại của cuộc chiến đấu.

Bản thân tôi không phải là một người làm thơ chuyên nghiệp. Tôi di thực tế là để viết báo, chủ yếu là viết kí. Có nhiều đồng chí lấy thơ làm nghề, riêng tôi không có khả năng ấy. Tôi vẫn cho rằng viết một bài kí nếu không hay thì ít nhất nó cung cấp cho người đọc một tư liệu, một thông tin nào đó chứ bài thơ dở thì chẳng có gì cấp cho người đọc ngoài sự bực mình. Do đó tôi thường sợ làm thơ, và đó là nhược điểm của tôi, có khi mấy năm không làm được một bài.

Nhưng lần này tôi lại cảm thấy một cái gì đó như một bài thơ đang đến với mình, một tư tưởng, một băn khoăn, một tình cảm, một kỉ niệm nào đó đang đến với mình. Có lẽ đối với tôi, thơ tự nó đến, chứ tôi không tìm vì có tìm cũng chẳng ra. Cho nên lần này tôi phải “túm”lấy, kẻo nó đi mất.

Buổi tối ấy tôi thắp một ngọn đèn dầu lạc. Trước khi cầm bút tôi cân nhắc: mình là người đứng ngoài ca ngợi đôi trai gái hay chính mình tự xưng là người con trai… thì câu thơ hình thành: “Núi vẫn đôi mà anh mất em”. Tôi đã ngồi trên ghế và viết một mạch cả bài.

Thời còn cắp sách đi học, đôi khi cũng làm thơ và gửi đi cho một người bạn. Đến cái tuổi tôi ngồi viết bài Núi Đôi thì không hề nghĩ viết ra để làm gì. Nhưng vẫn phải viết như để tự trả nợ, giải thoát khỏi sự ám ảnhững của mình. Cái thời từ cuối 1954 đến 1956, văn học của ta rất kiêng kị chuyện yêu đương, chủ yếu là phát huy truyền thống anh hùng, xây dựng tư tưởng sãn sàng chiến đấu thì nội dung như Núi Đôi rất dễ bị phê bình. Vì vậy, nửa đêm ấy viết xong tôi cất luôn vào ngăn kéo và không tính gửi đi đâu cả.

Mãi về sau, khi tôi nộp tập bài kí cho toà soạn Văn nghệ Quân đội có kèm bài Núi Đôi thì bài thơ mới được đăng. Được đăng rồi mà tôi vẫn sợ bị phê bình

Khi viết tôi rất quan tâm tới ngôn ngữ, đây là chuyện ở đồng ruộng, kể lại sao cho giản dị dễ hiểu, gần gũi với nhân dân lao động, nhưng lại phải cô đọng. Vì thế hầu như suốt cả bài tôi chỉ kể chứ không tả: “Hàng thông bờ cỏ, con đường quen / Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói”… Tôi tránh dùng tính từ bởi nó áp đặt sẵn cho người đọc cảm giác bó hẹp, chủ yếu tôi chỉ nêu ra sự vật đểngười đọc cảm thụ.

Trong một bài tiểu luận của anh Hồng Diệu có nhắc đến câu: “Xuân Dục Đoài Đông hai gánh lúa” và khen chữ “cánh” là sáng tạo. Điều mày làm tôi áy náy mãi. Đầu đuôi như sau, hồi ấy tôi đi tìm một cơ quan địa phương, gặp một bà cụ nông dân hỏi thì bà chỉ tay nói “Anh cứ qua cánh lúa này hỏi thăm sẽ đến”. Tôi chợt hiểu, khi cánh đồng không có lúa thì gọi là cánh đồng, còn khi có lúa thì gọi là cánh lúa thay cho cánh đồng lúa. Nhiều đồng chí thường nói nhà thơ sáng tạo ra ngôn từ, nhưng riêng tôi, tôi chưa thấy mình sáng tạo ra chữ nào cả mà chỉ chú ý nhặt lấy trong lời ăn tiếng nói của người dân lao động mà tôi cho là hay và thú vị nhất. Hay như trường hợp câu thơ: “Mấy năm cô ấy làm du kích / Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng”. Lần đó tôi đi chợ Mã (cạnh Xuân Dục, Núi Đôi) bỗng nghe trong đám đông mấy bà nói chuyện với nhau: Này không hiểu sao cái con bé tham gia du kích bao năm mà không tính chuyện chồng con gì cả. Câu nói ấy như xoáy vào lòng tôi, bám chặt vào tôi và sau này nó biến thành hai câu thơ kia.

Rồi cả đến câu thơ: “ngõ chùa cháy đỏ những thân cau”. Cây cau luôn gắn liền với đời sống tình cảm của người phụ nữ. Trầu cau là chuyện tình duyên hạnh phúc(ở làng Vĩnh Hồ, Thanh Hoá trước kia có tục lệ mỗi người con gái đi lấy chồng phải trồng gửi làng mình một cây cau). Cho nên khi bị giặc đốt cháy cả cây cau là đau lắm, xót lắm. Một ví dụ nữa; Trong bốn câu cuối của bài thơ, tôi đã ví người con gái như bông hoa. Thơ đông tây kim cổ đã nhiều lần dùng hoa để chỉ người con gái. Tôi vẫn dùng vì nó dễ được tiếp nhận, nhưng tôi đã đưa bông hoa ấy lên rất cao: đỉnh núi. “Em sẽ là hoa trên đỉnh núi”, còn người con trai thì ngôi sao trên mũ mãi mãi là sao sáng dẫn đường. Bông hoa thì đứng ở cao, còn ngôi sao thì dẫn đường đi xa, rất xa nữa. Cái ý này đã nảy ra ngay từ cuộc sống thật của thanh niên nam nữ không chỉ riêng vùng Núi Đôi mà trên cả nước ta, những con người nếu sống không mục đích, không có lí tưởng thì làm sao đánh thắng được giặc trong suốt 30 năm chiến tranh ác liệt.

Tôi nghĩ rằng đối với người viết văn làm thơ dù có học hành uyên bác đến bậc nào thì lời ăn tiếng nói và cuộc sống hiện thực của người dân lao động cũng là cái vốn tích luỹ vô cùng quan trọng. Đó là lí do mấy chục năm trước khi ngồi viết Núi Đôi trong một căn nhà nhỏ ở làng Xuân Dục kia tôi cứ ngỡ mình làm một bài thơ cho riêng mình thì nay nó đã vượt ra khỏi phạm vi đó.


(Vhtuoitre)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác