Những sỹ quan không sao, vạch

Ghi chép của Mai Linh

Họ là những cán bộ trung, cao cấp, mặc thường phục đi học lớp bồi dưỡng quốc phòng - an ninh. Một cuộc đi bộ đội thời bình để tiếp nhận lý thuyết và cả thực tế quốc phòng cho thường trực chiến đấu, cho chiến tranh giữ nước, nếu Tổ Quốc bị xâm lăng.

Tổ Quốc thiêng liêng bao giờ cũng trên hết. Nó là khái niệm thuộc về "Mẹ".

Một chuyến đi bộ đội, vì thế, tự nguyện, hồ hởi và vui như… tết. Các sỹ quan nhập học đông đủ, xếp hàng ngay ngắn, nghiêm chỉnh giờ giấc như những quân nhân thực thụ.

Họ đều đã trên dưới năm mươi. Hầu hết tóc đã muối tiêu, đã dày dạn đường đời, giàu kinh nghiệm và hiểu biết. Họ đều là những cán bộ lãnh đạo “không cao, không thấp”, ở các vị trí tầm trung- những người vừa hoạch định chính sách, vừa tác chiến cụ thể.

Những sỹ quan không sao, vạch  - ảnh 1

Các sỹ quan không sao vạch này đến từ đủ lĩnh vực, nghề nghiệp: từ văn hoá, ngoại giao đến nghiên cứu khoa học, từ công nghiệp đến nông nghiệp, từ khoáng sản đến thuỷ, hải sản, đến xây dựng cơ bản… cả nam, cả nữ trong một đồng bộ nghiêm chỉnh. Họ là đồng đội của nhau từ những phút đầu tiên, ngày đầu tiên nhập ngũ, chẳng ngỡ ngàng gì, không bỡ ngỡ. Hoá ra màu áo lính vẫn còn hấp dẫn ngay cả những người lớn tuổi. Sẵn sàng cho Tổ Quốc vẫn là hiệu triệu linh nghiệm nhất.

Những sỹ quan không sao, vạch  - ảnh 2
Nụ cười của các học viên sĩ quan dân sự (ảnh Lao Động)

Đã qua thời áo lính trên ba mươi năm, bây giờ tái nhập ngũ, lòng vẫn còn như buổi đầu tiên, lúc mới 17 tuổi. Hồi hộp như mình cầm nắm xôi muối vừng mẹ đơm lúc chia tay. Mẹ đã gạt nước mắt can đảm xa cách một đứa con duy nhất đời mình. Đó là lần đầu tiên mẹ góp máu mình cho Tổ quốc.

Bây giờ, ở một phương xa nào đó, không còn nghe súng nổ, không đầu rơi máu chảy, không báo tử và không liệt sỹ. “Dây thép gai đâm nát trời chiều” là một câu thơ bi thương, bi hùng nhất của những người lính có thể mãi mãi chỉ còn rung chấn trong hoài niệm. Nhưng biết đâu đấy, cuộc sống vẫn bất ngờ và có thể còn bất trắc. Sẵn sàng vẫn tốt, nên vẫn nhập ngũ, phải không các “HÒA BINH” trên dưới 50 tuổi thân yêu!

* *

*

Đây rồi, cổng doanh trại, một bốt gác và hai chiến sỹ trẻ bồng súng. Đây là ranh giới nghiêm minh nhưng vẫn thân thiện, thân thương. Nó giống cánh cổng lúc 17 tuổi ta đã nghiêm chào và bước qua để xác định rõ ràng mình là một tân binh, bắt đầu miệt mài tập luyện và xả thân. Đó là cánh cổng với ngôi sao vàng lần đầu tiên ta nhìn thấy sau khi đã rời cánh cửa quê hương mình, cổng làng mình, cửa ngôi nhà nhỏ của mình và đằng sau là đôi mắt nghẹn ngào của mẹ.

Nhận một cái bắt tay rất đồng đội của trung tá Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam Nguyễn Văn Hiền mà lòng nhẹ bẫng. Nụ cười hiền hậu, gương mặt trẻ trung phản ánh một tâm hồn dung dị và trong sáng. “Ba mươi năm trước tớ cũng như chú mày, “đẹp như cây cảnh”, ông Nguyễn Duy bảo thế. Bây giờ “nhàu” rồi, gặp chú mày, như trẻ ra, vì ánh sáng quá khứ thời tóc xanh và oanh liệt ấy hắt lại: lung linh, tươi rói, vô tư, xúm xít”. Ngẫm vậy thôi. “Bây giờ đọc thành tiếng cho chú mày một câu thơ của tớ làm thời trẻ nhé, lắng nghe này: “Chúng ta ngồi xúm lại/ Chật cả tuổi hai mươi”.

Vẫn chiếu ấy, vẫn giường ấy, vẫn bốn chiếc cọc màn chĩa lên từ bốn góc giường và trên đầu mỗi cái đều nhô lên một chiếc đinh guốc. Cái đinh mắc màn nhỏ tí ấy đóng vào ký ức suốt trên ba mươi năm. Sờ vào là thấy đời lính thời kỳ huấn luyện hệt như sờ vào gốc cây, chạm vào dây dù là nhớ võng của những cánh rừng chiến đấu.

Chăn màn vẫn vuông chằn chặn ở đầu giường như sự mẫu mực bất di bất dịch của quy định nội vụ.

Một lớp, tức một tiểu đoàn lại có ba tổ, tức ba đại đội. Mỗi đại đội 10 người. Đó là cách phiên đối với một “tiểu đoàn lớp học” dành cho các sỹ quan không sao vạch. Thế mà răm rắp. Phòng 105 có 4 sỹ quan nhưng lại có tới 6 giường. Ở đấy các sỹ quan tên toàn vần “inh”, kỳ lạ, một sự sắp xếp không tính toán nhưng rất “nội quy”: hai bác sỹ quan ĐỊNH, HÌNH nằm hai giường bên trái cửa; hai bác sỹ quan LINH, LINH nằm hai giường bên phải cửa. ĐỊNH, HÌNH và LINH, LINH nằm rất “đinh ninh” theo một “định hình” đồng đội, mặt quay ra cửa, sẵn sàng đi học, sẵn sàng ra thao trường và lúc nào cũng sẵn sàng đi… ăn sáng, ăn trưa, ăn tối đúng giờ để không làm phiền lòng anh nuôi, chị nuôi.

Trong cái tiểu đoàn không sao vạch này, chắc hẳn nhiều người đã sao vạch vinh quang, kết thúc chiến tranh đã cởi áo lính về với ruộng vườn, đi học, đi làm, thành đạt và may mắn lại thành sỹ quan lần nữa, nhưng là các sỹ quan không có quân hàm. Chiến cuộc đẫm máu đã đi qua. Dân tộc Việt quả thực không muốn gì cái đã ĐI QUA ấy. Đó là chia lìa, là tang tóc, là nước mắt, là đau thương. Đó là một sử thi bi tráng đã lấy đi không biết bao nhiêu tuổi thanh xuân. Nhưng không khác được. Không có gì đau đớn hơn Tổ quốc, bị giày xéo, bị xâm lăng, dân tộc bị rên xiết dưới gót giày ngoại bang. Cả một dân tộc đã cầm súng, đã chiến thắng và đã nghẹn ngào, hân hoan cho đến tận bây giờ…

* *

*

Hôm nay đi bắn súng. Bắn súng… “không kêu” sau ba mươi tư năm ngừng tiếng súng, đúng ngày 30 tháng Tư.

Tập luyện nhiều tiết học xong sẽ bắn súng “kêu” (tất nhiên là đạn thật) sau 32 năm cầm vào khẩu súng ngắn đầu tiên, nổ những viên đạn đầu tiên ở đường băng Samưu- Quảng Trị. Đồi núi vây quanh, nhớ mẹ vô cùng và kinh ngạc khi ngón trỏ búp măng có thể bóp cò đẩy đạn ra khỏi nòng. Đó cũng là tiếng nổ đầu tiên giúp thanh xuân dày dạn.

“Các đồng chí phải đứng đúng tư thế. Trước khi bắn không thả thõng súng xuôi theo chân, cướp cò là cướp luôn chân. Không vẩy súng ra sau gáy, cướp cò là cướp luôn đồng đội. Khi đạn thối, không được cầm súng huơ về phía giảng viên để báo cáo, cướp cò là cướp luôn giảng viên, không còn người để hướng dẫn các đồng chí”- Đại tá Phạm Trung Lập, giảng viên ân cần bảo ban học viên về các biện pháp an toàn khi thi bắn súng.

Những sỹ quan hoa râm mắt không còn tinh, tay không còn chắc rồi sẽ phải tập luyện để ngắm mục tiêu không nhoè, tay giương súng không run và nhất là phải trúng điểm 10. Đó là việc khó. Nhưng phải vượt khó và hứa với thầy một câu: “Thưa thầy, ngày mai em sẽ bắn vào điểm đen”.

Điểm đen, cái điểm chính giữa của 10 cái vòng tròn ấy vẫn làm các sỹ quan hoa râm hiếu thắng.

* *

*

Hôm qua, lên lớp nghe thầy giáo Đại tá Nguyễn Giáp Ngọ giảng bài lý thuyết về quốc phòng và an ninh nhân dân. Thầy sinh năm 1954, quê Bắc Ninh, một vợ hai con, mẫu mực và khả kính. Trước mỗi giờ giảng thầy đều đọc hai bài thơ với chủ đề trọng tâm là “nửa thế giới bên kia” (thơ tình yêu). Thầy bảo: quân sự là nguyên tắc “một hai một” nên giảng bài mở đầu bằng thơ cho nó “mềm” lại. Đây là ông thầy lạ, phương pháp sư phạm thật lạ. Hay. Trộn thơ với các thuật ngữ chính trị, khoa học quốc phòng, với lý thuyết súng ống, với chiến tranh giữ nước thì dễ “vào” quá chứ. Thử hỏi Trường Sơn không có Phạm Tiến Duật thì những cánh rừng ấy sẽ còn tàn khốc đến thế nào. Chiến thắng đến từ thơ và đến từ họng súng nhằm phía quân thù. “Đại bác dưới hoa” cũng là thế.

Những sỹ quan không sao, vạch  - ảnh 3

Ba mươi tư năm, vết thương chiến tranh vẫn còn rỉ máu, nhưng chúng ta có hoà bình, có thịnh vượng, có ổn định trong một hoàn cảnh thế giới đầy rẫy các biến cố. Từ châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, châu Á, đâu đâu cũng có chuyện đau lòng. Chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa ly khai dân tộc về chính trị, kinh tế, văn hoá… là những thứ chủ nghĩa mới chỉ xuất hiện cách đây dăm năm nhưng chẳng còn lạ gì với giới truyền thông quốc tế. Nhân loại vẫn phải đối mặt với lòng tham bá quyền, xâm lược, chia lìa và chết chóc mà lại tự an ủi là quy luật sinh tồn thì buồn lắm thay.

Đi dự bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh giữa thời bình (để sẵn sàng chiến đấu), yên tĩnh vô cùng giữa các sỹ quan đồng đội, lắng nghe và ghi chép trong trật tự và im lặng. Chúng ta đã chiến đấu và đến thời điểm này đã ngưng chiến. “Bây giờ chúng ta xem 2 cuốn băng: một về vũ trang và tiềm lực quân sự Triều Tiên và một là bộ phim: “Cú sốc kinh hoàng” về cuộc chiến I-rắc”- thầy Ngọ bảo.

Xem. Thật là shock, thật kinh hoàng. Những thước phim thời sự về chiến tranh, những súng ống, những chuyển quân, những bắn, những thành phố tan thành mây khói, những cái chết của người già, phụ nữ và trẻ nhỏ… Ở đâu đó, gương mặt Việt Nam 34 năm trước hiện ra mồn một, khốc liệt, giành giật, đau thương, tê dại…

Chúng ta đã ngưng chiến. Chúng ta là phế binh chằng chịt vết thương, vết sẹo trên thân mình có thể nào không chia sẻ, không đau đớn và không thể không hoài nghi về những điều ác, thậm chí tột cùng đang rình rập xung quanh.. .

* *

*

Cơm chiều mâm sáu. Tất nhiên không phải cỗ cưới. Sỹ quan hoa râm đầm ấm như gia đình. Vẫn như xưa. Những người lính xa nhà là ruột thịt. Gắp cho nhau như khách mà thực tình những ông khách trước đó chưa gặp nhau bao giờ. Chị nuôi thì đon đả lắm. Thiếu gì cũng vui lòng bổ sung. Kể cả chanh, tỏi, ớt… Các chị thương “bộ đội dân sự” lắm vì họ đã lớn tuổi, đã lìa súng và lìa ngũ lâu rồi.

Những sỹ quan không sao, vạch  - ảnh 4

Đi bộ đội hoá vui. Chẳng đánh ai nên vui. Chúng ta tự vệ chứ không gây sự, bá quyền, xâm lược. Làm kinh tế và giữ nước là hai việc không thể khác. Vui và cần thiết vui là ý nghĩa của hoà bình.

Nhà thơ Nguyễn Duy khi nhìn thấy chàng lính trẻ đi qua phố Kalinin của Thủ đô Mátxcơva, tối về viết một bài thơ rất hay về thân phận người lính và thân phận chiến tranh: “Tôi nhìn chú đẹp như một cây cảnh/ mong chú không phải ra mặt trận”. Mong quá chứ ạ. Giá đừng… Nhưng ao ước hoà bình vĩnh viễn lại vẫn chứa trong nó sự rủi ro, dù chỉ một phần ức.

Phải không, các đồng đội không sao không vạch thân yêu. Chúng ta, tất cả đều sẵn sàng vì Tổ Quốc./.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác