Những mùa mía đắng (*)

(Toquoc)- Tôi thường gặp hắn và “bầu đoàn thê tử” trên vạt mía dọc sông Ba Lai nầy. Hắn đen thùi lùi, tóc tai lúc nào cũng quá lứa. Vợ con hắn thì luôn trùm kín mặt mày, đeo găng tay kín mít như những phụ nữ Hồi giáo. Tuy nhiên, họ cũng không trắng trẻo gì hơn hắn!

Bữa thì hắn hò hét vợ con “càn” ào ào trong rừng mía đánh lá rột rẹt. Bữa thì cha con chồng vợ xúm nhau lội xuống rãnh, tát nước lùm xùm dưới nắng chang chang...

Có bữa cả gia đình hắn lui cui cuốc đất hoặc miệt mài làm cỏ. Xa xa trông họ chẳng khác nào những mô đất lô nhô. Có bữa không biết hắn hứng chí gì vừa đánh lá mía lại vừa ca vọng cổ. Ngược lại, có bữa trời đã nhá nhem tối hắn mới uể oải vác cuốc về nhà…

Có thể nói cuộc đời của gia đình hắn gắn chặt với vườn mía nầy từ ngày miền Nam giải phóng đến bây giờ.

Chiều nay tôi lại gặp hắn. Hắn ngồi thẫn thờ trên bờ đê ngăn mặn ngó ra sông Ba Lai, mặt mày dàu dàu. Trên môi hắn, điếu thuốc lập lòe liên tục lóe sáng. Vợ con hắn có lẽ đã về nhà từ ban chiều.

Tôi đến sát bên, hắn cũng không buồn chào hỏi! Mặt trời đã ngã xuống chân vườn đỏ ối. Đàn cò trắng cũng đã về rừng từ lúc nào, chỉ còn sót lại một vài cánh chim lẻ loi vội vã bay trên bầu trời đã bắt đầu chuyển sang màu xám. Dường như hắn không muốn về nhà chút nào thì phải?

Gió từ sông Ba Lai thổi lên lồng lộng. Tôi ơn ớn da gà. Tiếng lá mía không phải xào xạc phơi phới mà rồ rồ khô khốc! Bên kia bờ sông, xã Thới Lai và Phú Long huyện Bình Đại đã lờ nhờ tối. Tôi ngồi xuống bên hắn giả vờ thân mật:

- Anh còn thuốc không, cho tôi xin một điếu?

Hắn nhìn tôi cố gượng cười:

- Bữa nay anh cũng hút thuốc nữa à? Tôi nhớ anh không hút thuốc mà!

- Thì buồn lây! Thử mượn thuốc giải sầu. Sao chiều hôm nay trông anh rầu rĩ quá vậy?

Hắn thở dài:

- Không phải chỉ chiều hôm nay mà cả tháng nay rồi anh à! Cũng không phải mình tôi rầu mà tất cả bà con trồng mía ở đây đều thúi ruột!

Tôi dư biết vạt mía hằng mấy trăm hecta dọc sông Ba Lai nầy đã đến lứa từ lâu mà vẫn chưa đốn được. Nhiều thớt mía đã trổ cờ xơ xác. Bà con sốt ruột sốt gan, chạy sấp chạy ngửa tìm mối lái. Tôi an ủi hắn:

- Thì cũng từ từ chứ, thế nào các nhà máy đường cũng thu mua hết mà !

Hắn cười nhạt:

- Từ từ cái gì mà từ từ! Mía đã khô hết rồi, không mua, đợi chừng nào? Với lại giá cả nầy, có người mua thì cũng chết nông dân! Anh thử xem, nếu tính tất cả giống má, phân phướn, công vô chưn, đánh lá thì bình quân một tấn mía phải đổ ra ít nhất cũng gần bốn trăm ngàn đồng. Bây giờ nghe nói lái họ chỉ mua năm trăm ngàn đồng một tấn. Chưa kể có những đám mía ở xa bến bãi, tiền công đốn và bốc vác còn cao hơn nữa thì mình còn cái giống gì để ăn? Lỗ chết tươi luôn! Công đốn vác bây giờ kiếm trầy vi tróc vảy. Có những đám mía thất, cho người ta không thèm đốn vì sợ lỗ công!

Năm nay mía trúng, ai cũng tưởng “có ăn”, nào ngờ cũng lại phủi tay! Ai có mía càng nhiều càng lỗ nặng!

Những mùa mía đắng (*) - ảnh 1
Người nông dân với cây mía
(ảnh: Internet)
Rồi hắn kể cho tôi nghe hoàn cảnh của nhiều bà con trồng mía ở đây
: “Tôi đang nợ ngân hàng hai mươi triệu. Anh Sáu kế bên nợ mười triệu. Chú Bảy cũng mười triệu. Chờ bán mía trả. Điệu nầy, biết làm sao? Rồi lấy gì ăn, lấy gì đầu tư cho vụ tới? Tội nghiệp con trai tôi sắp vào lớp mười, định mua cho nó chiếc xe đạp để đi đi về về không biết rồi có mua được hay không và có thể tiếp tục học được hay không. Giá mà nó là con gái, tôi bỏ ở nhà luôn như chị nó!”.

Hắn thở dài thườn thượt!...  

Đúng là bà con ở đây rầu thúi ruột cũng phải. Họ chỉ có thu nhập duy nhất là mía. Ăn gạo cũng mía. Sắm sửa cũng mía. Đám tiệc cũng mía. Con cái đi học cũng mía... Nếu mía thất mùa thì họ không những không sắm sửa được gì mà gạo cũng không có để ăn và việc học hành của con cái có thể phải tạm ngưng! Nói chung là cả một tương lai đen tối đang bao trùm lấy họ!

Tôi nhớ lại những mùa mía trước, cái khó, cái khổ sao mãi đeo bám vào người trồng mía như bóng với hình! Mùa màng hết thiên tai, địch họa lại đến mất giá! Ai lên xe xuống ngựa, ai no say trong những nhà hàng sang trọng, ai tham quan du lịch đây đó; còn họ có mấy khi! Thỉnh thoảng “vác” tiền dưới quê lên thành xài mà xót ruột xót gan! Cứ mỗi lần trả tiền là mỗi lần ngớ ra.

Uống một ly nước, mất mấy chục kí mía! Ăn một bữa cơm mất mấy trăm kí mía! Đắn đo tính toán mãi rồi không dám đi đâu, không dám ăn xài gì cả! Cho nên có người bảo dân lao động coi đồng tiền to như cái bánh xe cũng đúng thôi. Đồng tiền của họ là mồ hôi nước mắt mà!

Có năm, mía giống mới đặt xuống, gặp nắng hạn là mất trắng! Cái vạt mía dọc sông Ba Lai nầy thường xuyên bị chuột ăn và giông to gió lớn làm mía ngã rạp! Có năm mía vừa trưởng thành bị sâu đục thân, chuột cắn và giông gió làm gãy đổ, hao hụt đến phân nửa. Cứ vạt đồng bên Bình Đại dứt vụ lúa, lũ chuột mất chỗ ăn chỗ ở là chúng vượt sông Ba Lai, tràn qua tấn công các vườn mía vườn dừa tơi bời. Đây cũng là nơi địa đầu hứng chịu những cơn giông gió từ biển thổi lên, từ Bình Đại thổi qua. Những luống mía đang thẳng tắp đều bị ngả rạp thê thảm! Thật không có gì ngán ngẩm bằng đỡ mía đứng dậy sau giông bão. Nó vừa khó khăn lại vừa nản chí. Cả rừng mía, công đâu, cây đâu mà chống mà chỏi cho kịp! Chỉ vài hôm sau là chúng cong queo vô phương cứu chữa. Nhiều người đã bỏ mặc cho trời đất! Những năm như vậy thì công đốn, công bốc vác, công chuyên chở đều tăng cao. Những cây mía nghều ngoào, bó không được mà chất xuống ghe cũng không chịu nằm yên. Một bó thành hai ba bó xồm xoàm, ngược lại “chữ đường” và giá cả lại tuột xuống mấy phân.

Nỗi lo mất ăn mất ngủ của người trồng mía là những tháng cuối vụ: Mía còn đứng đám là ăn ngủ không yên! Đủ thứ lo trong lòng. Nào sợ không có công đốn vác, nào sợ không có người thu mua, nào sợ giá thấp bị lỗ... Nỗi sợ lớn nhất của nông dân là “Bà Hỏa”! Chỉ cần ai đó sơ ý hay cố tình ném một mồi lửa thì cả rừng mía biến thành tro than!...

Thật ra thì hắn và nhiều bà con ở đây cũng đã cất được ngôi nhà tường nho nhỏ. Có gia đình cũng đã có xe Honda nhờ một vài vụ mía trúng giá trước đó. Đâu có gia đình nào thuộc diện hộ nghèo đâu! Tất cả chỉ là bề ngoài nên ít ai hay biết. Đó mới là cái khổ! Thắng lợi thì ít, thua lỗ thì nhiều! Mấy năm gần đây giá mía cứ rớt liên tục. Năm nào cũng lỗ! Nợ năm trước chưa trả hết lại chồng nợ năm sau! Thấy nhà tường đó, thấy chạy xe gắn máy đó nhưng vợ con phải lột hạt điều, phải se chỉ xơ dừa kiếm cơm! Nhìn bề ngoài, ai cũng tưởng nông dân trồng mía làm ăn phát đạt, có ai biết họ chạy ăn từng bữa, nợ nần tứ tung! Nhà nào cũng phải sống bằng tiền vay ngân hàng gối vụ. Cứ nhìn hàng ngày bà con nườm nượp chờ vay tiền hoặc trả lãi ở các ngân hàng, các phòng giao dịch với ánh mắt đăm chiêu lo lắng mới biết túi tiền của họ như thế nào! Mà có phải họ vay để đầu tư sản xuất gì lớn đâu! Chỉ là để xoay sở tiêu xài trong gia đình, ai có lạc quan mấy cũng khó an lòng!

Tôi nhớ hồi thời còn bao cấp, bà con trồng mía ở đây đã từng sống trong cảnh “ba chờ”! Chờ đăng ký ngày đốn, chờ ghe cân, chờ lãnh tiền! Mỗi lần qua “một chờ” là nhẹ nhõm, chẳng khác nào qua được một cái ải gian lao!

Thử hỏi, mía của mình, muốn đốn bán phải đi hỏi hợp tác xã. Quen thì họ cho đốn trước. Không quen đốn sau; mía trổ cờ, mía khô nhẹ que hết?

Đốn xong bà con hì hục chuyển mía ra bến ghe. Lại... chờ cân! Quen thì được cân trước, được đổ mía gần bến bãi, không quen thì xa tít bên trong; khi can, phải vác thêm một đoạn đường nữa! Cái thứ tự hiển nhiên, ai đăng ký trước thì đổ bến ngoài cân trước, ai sau thì thì đổ bến trong cân sau; có gì phải đảo lộn cho thêm rắc rối! Cái thời bao cấp lạ thật! Người ta xử sự bằng tình cảm nhiều hơn lý trí và luật lệ. Biết sai đó nhưng vẫn để tình cảm lấn át! Con cái đi học thì lo chạy trường chạy lớp; đỗ đạt xong lo chạy chỗ làm. Cần chuyện gì cũng phải quen biết, xin xỏ. Chuyện quan trọng thì không nói gì, đằng nầy cân mía cũng lo chạy ngày giờ, chạy bến bãi? Cho nên hồi đó có những chuyện mâu thuẫn, thấy người khác có thân thế được ưu tiên thì ai cũng bất bình, nhưng đến khi mình được ai đó giúp đỡ cho ưu tiên thì lại không thấy thẹn mà còn tự hào!

Mà thật! Hồi đó nếu không chạy biết chừng nào mới đến lượt mình. Người người tấp nập. Mía ôi là mía! Những đống mía cao như núi, liền kề nhau. Hai ngày không ra bãi mía, có thể không biết đống mía của mình nằm ở đâu! Ai không bán thì chở đến lò đường ép. Chen chúc, đợi chờ cũng không kém gì đi bán. Có lẽ cũng tại cung cầu không tương xứng?!

Những ngày này, bà con phải cơm “gô”, nước bình, phải ngủ bờ ngủ bụi để giữ mía và chờ cân. Nhiều người phải làm thịt chó, xách rượu ngon đãi bạn thu mua, ban chủ nhiệm mới được cân. Không thôi mía thúi, bay mùi rượu hổng ai thèm mua. Một vài con gà biếu họ, không “áp phê” gì cả!

Như vậy nào phải yên đâu! Khi cân còn bị cân già, cân giác! Cân xong nào có được lãnh tiền ngay! Họ cho lãnh... cái phiếu! Ai đến giai đoạn được lãnh... phiếu là mừng lắm rồi. Xem như đã hoàn tất vụ mía! Thế là tiếp tục ngóng cổ chờ lãnh tiền. Lãnh dài dài thành hai ba đợt mới xong, chẳng khác nào đi xin tiền trợ cấp!

Nhiều người trong lúc “vợ bệnh, con đau, nhà hết gạo” mà chờ lãnh tiền mới nóng hơ! Nếu may mắn, họ cho lãnh phân nửa tiền cũng là phước đức ông bà để lại!

Lại thêm một nỗi khổ nữa. Nếu quen thì được lãnh sớm, lãnh tiền chẵn, tiền mới; không quen thì lãnh trễ, lãnh toàn tiền rách, tiền xu! Có người lãnh cả giỏ tiền lẻ, về nhà vợ chồng đóng cửa hì hục đếm một buổi trời! May mà đã xóa bỏ kịp thời.

***

Mấy năm gần đây, chuyển sang kinh tế thị trường, khổ sở cũng không kém! Sự chuyển đổi cây trồng vật nuôi phát chóng mặt! Trồng cây gì cũng năm ăn năm thua! Chẳng khác nào như chơi cá cược! Thắng năm trước, vài năm sau vốn liếng đều hoàn cho đất!

Hồi đó, vạt rẫy nầy bà con đa số trồng lúa. Nhiều năm sâu rầy hạn hán, tính ra làm lúa không có ăn, bà con chuyển sang lên bờ trồng mía. Trồng mía khấm khá đâu ít vụ lại không có “đầu ra”. Có năm bỏ mía chết khô như sậy! Nghe báo đài quảng cáo om sòm về cây ăn trái, bà con lại bỏ mía chuyển sang trồng nhãn, trồng sa--chê... Bao nhiêu hi vọng, vốn liếng đem trải ra vườn nhãn, vườn sa--chê. Ba bốn năm sau lại phải đốn bỏ vì giá cả rẻ mạt, thậm chí chẳng ai mua! Rết cuộc mía vẫn là mía!

Tôi an ủi hắn:

- Thôi mình xen dừa, chuối, ca cao... vào đi. Mất giá cây nầy còn giá cây kia.

Hắn nhìn tôi:

- Đến anh cũng nghe như vậy mà bảo công nghiệp hóa nông nghiệp à? Trồng manh mún, tạp nhạp, chăm sóc không đúng mức, năng suất làm sao cao! Rồi cũng buôn bán nhỏ lẻ thôi. Nhưng mà có lẽ rồi cũng phải vậy!

Anh nghe tôi nói có đúng không, sản xuất là do nông dân nhưng thu mua, chế biến và xuất khẩu là nhiệm vụ của nhà nước chứ! Không lẽ nông dân ta chở vài chục tấn mía sang Trung Quốc, Hoa Kỳ? Vậy mà có lúc nghe nói còn nhập đường ở nước ngoài. Thật không hiểu làm sao cả!?

Hình ảnh những em bé, những cô gái chân yếu tay mềm, mồ hôi ướt đẫm, gồng mình vác hai ba bó mía giữa nắng trưa đã từng làm tôi nao lòng. Những tưởng đời họ sẽ được vươn lên, nào ngờ vẫn phải lao đao! Những tưởng chi những nghề khác mới mặn mới đắng nào ngờ nghề trồng mía và làm đường đúng ra phải ngọt ngào lại cũng mặn chát và đắng ngắt!

Tôi không hiểu cả tỉnh Bến Tre nói riêng và cả nước nói chung có bao nhiêu gia đình phải lao đao vì những mùa mía đắng như hiện nay?

Trời nhá nhem tối. Tôi lôi hắn đứng dậy, ra lệnh:

- Thôi về!

Hắn đứng dậy, gom lá mía khô bó thành cây đuốc để soi đường về nhà. Bỗng nhiên hắn bảo:

- Tôi muốn dúi cây đuốc vào vườn mía cho cháy sáng rực cả một vùng xem có ai thấy được nỗi thống khổ của những người trồng mía không!

Tôi vỗ vai hắn:

- Thôi đừng có làm bậy cha nội! Vào tù, không ai trả nợ dùm đâu nhen! “Ngày mai trời lại sáng” mà! Chắc cũng tại một nguyên nhân bất khả kháng nào đó mà thôi! Lẽ nào Nhà nước không lo cho dân?

Hn lm nhảm:

- Ờ! Tôi cũng nghĩ thế! Thì cũng ráng chờ… ngày mai!

Bút ký của Nguyễn An Cư

--------

(*) Tác phẩm đoạt Giải Ba cuộc thi Bút ký Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV - năm 2010

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác