Những mùa hoa điên điển

Bên này mười hai giờ trưa, bên Mỹ chắc trời cũng khuya. Hai khoảng cách địa lý xa vời vợi nhằm lúc nghỉ ngơi lại đi tìm nhau. Tôi đang nằm lim dim giật mình nghe tiếng điện thoại reng reng, của người bạn cùng quê. Tôi ngạc nhiên, vì mình rất ít cho số máy, chả hiểu sao anh lại biết. Nghe điện lập tức nhận biết hình như tôi chỉ là cái cớ một đứa nói chuyện được để nghe anh trút bầu tâm sự tùm lum tùm la quanh nỗi nhớ quê.

Những mùa hoa điên điển - ảnh 1
Hoa điên điển
(ảnh: Huỳnh Thu Dung)
Anh hỏi tháng tám rồi gió thu về chưa, mùa nước năm nay thế nào. Sau đó anh xoay qua nhắc chuyện hồi ở bên nhà, mùa nước đồng hoá thành sông tháng tám bơi xuồng ra ruộng gỡ lưới cá linh, tay chân vọc nước lạnh ngắt lên bờ ngồi kế bên bếp lửa, nhìn những con cá béo ngậy nướng trên bếp lửa than mỡ rớt xuống xèo xèo. Cá linh còn đem nhúng nước mắm chiên ngon hết sảy. Còn nấu canh chua với bông điên điển. Tôi thông cảm cho nỗi lòng của người đi xa, mùa nào có thức nấy, ở bên Mỹ cũng vậy, nhưng một mùa Mỹ làm sao phai được thời gian không gian mùa màng của quê nhà quen thuộc. Tâm sự lan man rồi như anh hỏi tôi có nhớ không. Tôi hỏi nhớ gì. Anh nói nhớ mùa nước, bông điên điển. Trời đất, con người ta vốn thông minh lại có đôi lúc ngớ ngẩn lạ lùng, tôi đang sống tại quê nhà ăn ngủ hít thở không gian mùa nước lên vây bọc mà anh đi hỏi vậy. Tuy nhiên nghe hỏi tự nhiên tôi nghe lòng mình nao nao, tôi cũng đâm ra ngớ ngẩn theo bạn. Thì ra cái nhớ cũng gần giống như cái ngáp có sức lây lan, nó bắt tôi ngồi nhớ xa nhớ gần. Cũng với người bạn này, có lần tôi đem hai câu thơ chữ Hán dịch ra tiếng Việt.

Lạnh tanh bếp lửa chiều qua

hoa vàng trước ngõ ngắm mà thấy ngon.

Tôi hỏi của ai. Anh không ngờ đó là thơ Nguyễn Du. Anh vỗ đùi khen quá hay, tuy là thơ cổ nhưng rất mới tưởng như thơ người ngày nay. Tuy nhiên hai đứa đâm ra cãi nhau. Anh bạn nức nở khen thi sĩ sáng tạo tưởng tượng đủ hoàn cảnh. Phần tôi căn cứ vào tiểu sử Nguyễn Du qua hai câu thơ, tôi cho là ông có lúc sung sướng cũng có lúc đói ôm bụng ngồi ngắm hoa. Nhưng hoa màu vàng ấy là hoa gì, đói sao không hái ăn. Cũng vì hai câu thơ có dịp ra ngoài Bắc, một mình tôi lang thang thơ thẩn về các vùng quê cổ kính tìm hiểu sống lại những hình bóng cũ, và nhận thấy đất Bắc nghèo cây cỏ hơn trong Nam, rất ít loại ăn được. Trong khi đó ở miền Nam, rất nhiều loại rau dại chẳng kể hết tên. Ngay cả bông hoa, bông bí rợ, bông điên điển, bông bầu, mướp, bông điệp, bông trang, thiên lý… ngay cả bông xoài lấm tấm trứng cá cũng trộn gỏi ăn. Lại nhớ giáo sư Trần Quốc Vượng cho tục ăn rau dại chỉ có ở Huế lại xuất xứ từ dân tộc Mường ra. Vậy dân Nam Bộ ra đồng gặp rau gì cũng đưa lên miệng thử coi có ăn được không, ăn cả bông cù nèo, bông lục bình gốc gác từ đâu? Mỗi vùng có hương vị gây mùi nhớ.

Ngày má tôi còn sống, vào mùa nước, má nấu một nồi mắm kho, trộn một thau lớn gồm khoai lang nấu bóp nhuyễn trộn chung với dừa nạo, bông súng sắt nhỏ, rau húng cây, bông điên điển, bông thiên lý, một ít bông điệp cho có vị chua. Cả nhà vây quanh cái mâm đầy màu sắc, đủ mùi vị hoà hợp, mỗi người múc một tô chan mắm, ăn no khỏi phải ăn cơm. Nhưng đó là món ăn chơi, khi cần ăn thiệt, ăn qua cơn đói cũng chính bông điên điển cứu nguy những người lưu dân. Mùa nước năm 78 tôi dạy học ở vùng tứ giác Long Xuyên, lần đầu tiên An Giang rơi vào chỗ dư nước uống, thiếu cơm ăn… Bụng tôi nói thầm lần này biết thế nào là khổ. Nhà nước bán cho lúa mì hột cứng ngắc, ngâm nước qua đêm nấu mãi vẫn dai nhách nuốt không trôi. Nhưng xung quanh tôi mọi người vẫn tỉnh bơ thấy ghét. Nước cao đến mức trổ nóc nhà ngồi vẫn mang theo cây đờn vọng cổ. Thì ra bông điên điển nở rợp trời, chỉ cần vài nắm gạo nấu sôi, hái bông bỏ đầy nồi, bỏ thêm cá thành nồi cháo ngon, không biết nhìn qua chẳng ngờ nhà đang đói, sống cầm cự chờ lúc nước xuống. Bông điên điển phải đợi tới tháng sáu mới nở rộ, nhưng các tháng trong năm người miền Nam vẫn nhắc nó tha thiết.

Anh bạn tôi nhắc vài món ăn gợi lại hình bóng quê nhà nhưng xa quê nhiều năm rồi, chắc anh cũng quê bông điên điển còn dùng làm món xào, nhận nó vô hũ mắm thành dưa mắm, hay ngâm nó với nước vo gạo. Hồi nhỏ, qua mùa nước cả tháng tôi còn thấy người ta mang cả khạp bông điên điển làm dưa mang ra chợ cũng như dưa môn mà giờ không thấy nữa. Món đặc biệt nhất là trộn bột với bông điên điển chiên lên thành thứ bánh. Muốn bánh ngọt thì cho đường. Bánh mặn thì cho thịt, tép với bông trộn bột chiên giòn lên. Khách ở xa tới chiên loại bánh này lai rai, vừa rẻ tiền vừa ngon chẳng cần đưa nhau chi xa tới nhà hàng.

Cụ Vương Hồng Sển mất nhiều năm qua. Lúc còn sống, cụ Vương cũng thuộc loại lưu linh đã lâu không về nhớ tới bánh điên điển nhưng nhớ mang máng hoặc là tưởng tượng thêm. Cụ viết ở Sóc Trăng vào dịp Tết dân Khơ-me hay làm bánh điên điển nhưng bằng cách để thau bột, chảo mỡ dưới xuồng bơi dọc theo bờ kinh. Kéo nhánh điên điển xuống nhúng vô thau bột rồi chiên lên. Dọc theo bờ sông bông điên điển hoá thành bánh treo lên cây tòn ten lủng lẳng. Một hình ảnh ngộ nghĩnh. Tôi có tật ai nói gì cũng nghe không phản đối nhưng sau đó tìm cơ hội kiểm chứng lại. Báo hại tôi cất công xuống tận Sóc Trăng tìm hiểu nhưng ai nấy ngẩn ngơ không biết hay là phong tục xưa đã biến mất. Nhưng hình như cụ Vương viết cho vui. Không trách cụ, ai có kinh nghiệm đọc sách biết ngay cả những người nghiêm trang nhất cũng có lúc thành những người thích đùa, đùa dai nữa. Đâu phải ai lúc nào cũng nghiêm chỉnh hết.

Trở lại với người bạn, tưởng nhớ gì, nhớ cá linh rất dễ. Công ty Antesco của An Giang đã cho cá linh lên đời bằng cách kho khô, kho mía đóng hộp xuất khẩu, tôi sẽ mua vài hộp gửi cho anh. Riêng màu hoa vàng điên điển kia đành chịu, không phải đặc sản nào cũng xuất khẩu được. Ủa mà anh bạn, quen bên Mỹ có nhiều người trở nên giàu, nhiều người cũng rất khổ, rất nghèo làm đủ nghề kiếm sống. Làm ăn được thành dân Mỹ không nói gì, ở đâu cũng được. Đàng này tôi biết anh thuộc vào loại nghèo. Nhưng mà sao anh không tìm đường về lại đi nhớ héo hắt. Thương anh tôi lại sực nhớ, nhạc vàng đa số buồn rũ rượi, nhưng có bài nghe được. Tỉ như trong một bài có câu “Nhiều lúc muốn trách móc, hay giận hờn vu vơ, chỉ làm phí tuổi thơ. Dù rằng sau mưa bảo gió hiền hoà lại về vẫn nghe lòng hoang vu. Cuộc đời là hư vô bôn ba chi xứ người khi mình còn quê hương”.

Thôi về đi bạn ơi, màu hoa vàng đang chờ người về lại bến sông xưa.

Tạp bút Ngô Khắc Tài

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác