Những gian truân tuổi Canh Dần

Năm 2010, tức là lần thứ 6 tôi gặp năm Dần trong đời, đất nước đã trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam đã có mặt trong cả Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, dân trí đã khác trước rất xa, bản thân tôi đã có trong tay 2 cuốn tiểu thuyết, 3 tập truyện ngắn và hàng ngàn bài báo cống hiến cho bạn đọc những quan sát và hiểu biết của mình về thế giới quanh ta.

Những gian truân tuổi Canh Dần - ảnh 1Năm Nhâm Dần, 1962, tôi 12 tuổi đã biết “trình diễn” Thơ trường phổ thông “Chào Xuân 61” của Nhà thơ Tố Hữu. Lúc đó nước mình không nghèo như những năm sau này khi cả nước bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh leo thang của đế quốc Mỹ. Tôi còn nhớ rất rõ năm 1967 khi ấy tôi đã vào Đoàn và thanh niên, chúng tôi tham gia đào những hố cá nhân ở dọc những con phố Hà Nội.

Hà Nội những năm chiến đấu hầu như phố phường không còn những cô gái mặc áo trắng. Tôi thèm mặc áo trắng vô cùng. Một hôm, tôi giấu trong túi mang áo trắng về quê, chỉ mặe trong nhà giữa những người họ hàng vào bữa giỗ ông, vậy mà lòng phơi phới, hồi hộp, ấn tượng đó đến bây giờ vẫn không phai nhạt.

Từ 1962 đến 1974, thêm một lần năm Dần quay trở lại lần thứ 2 trong đời tôi. Nhiều người cùng tuổi tôi được nhà nước gửi đi Trung Quốc, Liên Xô, Ba Lan, Rumani... học đại học, nhiều hơn nữa là những thanh niên đeo ba lô vào chiến trường. Đất nước chuẩn bị tinh thần kháng chiến với lời dạy của  Bác  Hồ, đánh thắng giặc Mỹ chúng ta sẽ xây lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Năm 1969, tôi khoác ba lô vào tới Vinh theo đoàn quân cứu hộ giao thông của Bộ Giao Thông Vận Tải, cũng ăn muối vừng, cơm nắm, cá khô, tắm “tiên” và gội đầu bằng bồ kết. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là đêm đen và pháo sáng, biết thế nào là máu đổ và người chết, biết nước Sông Lam trong đục, biết câu hò day dứt lòng người và nỗi nhớ Hà Nội khủng khiếp đến mức nào. Lẽ ra tôi cũng cùng đồng đội đi sâu hơn vào phía Nam nhưng cơ quan thấy nhà tôi có hai người con trai đã ra mặt trận cả hai, bố tôi mất sớm, mẹ tôi đã già còn phải nuôi 3 em nhỏ nên cho tôi trở về.

Đất nước vô cùng khó khăn, cả nước dốc lòng cho tiền tuyến, tôi nhớ nhiều khi cả nhà chờ gạo nấu cơm đến 12 giờ, mẹ tôi vẫn còn xếp hàng mua gạo theo sổ chưa về.

Ba năm, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng tôi mới bước chân vào giảng đường đại học. Tôi học khoa Gốm trường Mỹ Thuật Công Nghiệp Hà Nội. Tưởng chiến thắng giặc giã xong, đất nước sẽ phát triển kinh tế, nhà nhà sẽ hết nghèo vậy mà những sinh viên khoa Gốm chúng tôi không kiếm đâu ra tiền để mua than đốt lò, mua đất làm xương và men thử nghiệm những tác phẩm của mình. Tôi gồng mình nuôi con trong một gia đình chồng tôi là hoạ sĩ hoàn toàn thất nghiệp.

Năm 1981, tôi bỏ dở đại học ghi tên vào đội quân lao động sang tận đất nước Bulgaria xa xôi.

Tôi sống trong một căn hộ ở trung tâm Sofia, thủ đô của Bulgaria đất nước hoa hồng nổi tiếng. Bulgaria là một quốc gia rất nhỏ, diện tích xấp xỉ 1/3 Việt Nam, dân số bằng 1/10 (chừng hơn 7 triệu người), có đường biên giới với Serbia, Macedonia, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, địa hình được đánh dấu bởi hai dãy núi nhỏ và 2 thung lũng lớn, một đất nước có kích thước của Tennessee nằm trên Biển Đen. Đặt chân lên xứ sở tươi đẹp này, với lợi thế tuổi trẻ và khả năng hòa nhập với cuộc sống bằng vốn ngoại ngữ tiếng Nga, sau chuyển sang tiếng Bulgari tôi dự tính cho mình một kế hoạch lâu dài... Bulgari ngày đó cũng là một trong khối các nước cộng sản, Tổng bí thư đương nhiệm từ nhiều năm là ông Todor Zhikov. Tuy là một nước nghèo ở châu Âu thời điểm đó nhưng Bulgari đối với tôi và với khối lao động Việt Nam vẫn là một thiên đường. Chúng tôi làm việc 5 ngày một tuần. Lương trên 200 Lev/tháng. Mỗi Lev mua được 1 kg cá chép, gần 3 chai bia 500 ml hoặc 1 m vải kẻ ca rô, ½ hộp thuốc Anagil (Một hộp thuốc bán đi mua được ½ chỉ vàng thời bấy giờ ở Hà Nội và nghe nói mua được cả chỉ vàng ở Lào).

Tôi làm thêm nghề thợ may, nhận may thêm quần áo bò, váy nhung cho người Thổ Nhĩ Kỳ, mỗi tháng thu nhập chừng đó nữa, mặc dù chỉ làm vào những ngày nghỉ. Cuộc sống dễ chịu, tháng tháng tôi ra bưu điện, hoặc nhờ những người về phép mang một cuộn vải hay một vài hộp thuốc về cho gia đình. Nhờ thế mà các con tôi có đủ tiền ăn học, tôi yên tâm với cuộc sống xa nhà.

Những năm khó khăn đó không ít người Việt Nam đã hoàn toàn trở thành những công dân Bulgaria. Nhưng những người như tôi thì đã trở về Việt Nam (trong số đó không ít những người thành đạt ngay từ khi đặt chân đến xứ sở xa lạ ấy). Những người ở lại Bulgaria, mỗi khi có dịp gặp gỡ đều nói rằng trong lòng họ không bao giờ nguôi thương nhớ Việt Nam.

Năm Dần 1986 tôi trở về Hà Nội cùng chung sức với cả gia đình phấn đấu vượt qua cái nghèo trong những ngày đất nước bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới. Tôi phải làm thợ hàn vì cơ quan giảm biên chế. Nhiều người hỏi tôi có tiếc những ngày ở Bulgaria? Tôi bảo tiếc thì có tiếc nhưng chung lưng góp mặt mới biết hơn những giá trị của cuộc đời. Nhờ những ngày lao động cực khổ ấy mà tôi viết được cuốn tiểu thuyết đầu tay “Lời cuối cho em”, xuất bản 1990. Và trước đó là những bài báo, những truyện ngắn đưa tôi từ một người ở Công ty Xây dựng về biên chế ở Báo Tuổi trẻ Thủ đô. Không chỉ làm báo, tôi còn làm rất nhiều việc khác. Nhớ nhất là việc “thầu” và làm thành công 2 tờ “Cửa sổ văn hoá”, “Mùa Bông Điệp”, lúc đó ở ta còn ít người dám bỏ tiền túi ra làm những tờ tạp chí như vậy, tư duy bao cấp vẫn còn rất nặng khiến cho sự n ăng động không có cơ hội phát triển nhiều, nhưng những ai dám làm thì thu về những thắng lợi r ực rỡ..

Vậy mà, chỉ năm Dần sau đó, 1998 đã khác rất nhiểu. Tư duy bao cấp đã như lùi xa, con người và bộ máy quản trị cũng năng động hơn khi ến cho hàng hóa tràn ngập các siêu thị, không chỉ người thành thị mới có ấm cà phê siêu tốc, máy giặt, tivi màn hình phẳng mà có mọi thứ, đủ cho mọi nhu cầu tiêu dùng. Năm 2000, tôi lại bắt đầu vượt ra khỏi biên giới tổ quốc bằng những chuyến du lịch xa. Đầu tiên là tới Bắc Kinh, Thâm Quyến, Hồng Kông. Sau Thái Lan, Singapore là những chuyến tới Paris, Rome, London, Scotland, Edinbur và Hoa Kỳ. Con gái tôi đã mua nhà và sống ở bắc Cali từ năm 1989. Tôi đã đến và ở đó một quãng dài, sau những ngày thăm viếng những nơi nổi tiếng của đất nước Hoa Kỳ, nơi sản sinh ra những bài diễn văn tuyệt hảo chứa đựng kho kiến thức nhân loại của các thượng nghị sĩ khi tranh cử, nơi sinh ra những cuốn hồi ký mà người đọc có thể tìm cho mình những câu trả lời vì sao loài người phải toàn tâm toàn lực hướng về sự phát triển tiến bộ. Washington DC, New York, San Francisco... những vùng đất giàu có, đẹp như mơ, lịch lãm, tráng lệ, nguy nga nhưng cũng không thiếu sự thực dụng vốn rất cần cho đời sống hàng ngày.

Năm 2010, tức là lần thứ 6 tôi gặp năm Dần trong đời, đất nước đã trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam đã có mặt trong cả Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, dân trí đã khác trước rất xa, bản thân tôi đã có trong tay 2 cuốn tiểu thuyết, 3 tập truyện ngắn và hàng ngàn bài báo cống hiến cho bạn đọc những quan sát và hiểu biết của mình về thế giới quanh ta. Tôi vẫn làm việc hăng say trong nhiều lĩnh vực, từ tổ chức biểu diễn nghệ thuật, đến tổ chức các cuộc thi sáng tác âm nhạc và vẫn nuôi hy vọng sáng tác văn học. Đã đi qua một thời gian không ngắn nhưng tôi vẫn thấy thời gian đang còn ở phía trước và ngày càng chắc chắn hơn, tự tin hơn về những bước chân của mình.

Trần Thị Trường

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác