Nhật ký hành quân- Nhật ký thơ (Kỳ II)

Những ngày cuối 1974, căn cứ “Văn nghệ Quân Giải phóng” giáp Lộc Ninh vô cùng vắng vẻ. Cả tiểu đoàn xe tăng T54- ông bạn hàng xóm- rất nhiều đồ hộp đã lặng lẽ rút đi lúc nào không ai biết. Không kịp một lời chia tay. Họ đi về đâu? Chắc lại sắp có những trận đánh lớn ở đâu đó, giống như cách đây gần một năm khi họ bí mật về ém quân ngay cạnh mình, mà mãi đến khi tổng công kích vào thị xã Tây Ninh, Bình Long, máy xe gầm lên mình mới biết…

Trại viết Đông Nam bộ khi tôi và Văn Lê tạm biệt đi xuống vùng tranh chấp “Tam giác sắt” giáp Sài Gòn mới khai mạc được hai tuần thì nay cũng không còn ai. Nghe nói họ gần như nhất loạt nhận được lệnh trở về đơn vị ngay! Nhà thơ Phùng Khắc Bắc về sư đoàn 7. Thái Vượng, Lê Văn Vọng, Chí Thiện, Ngọc Mộc trở lại Cục Hậu cần, Cục Tham mưu… Trần Mạnh Hảo về Bù Đốp. Hào Vũ, Trọng Khánh về Long An, Hậu Nghĩa. Nhà thơ Nam Hà trở lại khu 6 “quân khu củ chụp”, nơi quanh năm không có gạo, lương thực chủ yếu là tự tăng gia, và vào rừng đào củ chụp. Nhà thơ Thanh Giang xuống đồng bằng. Nhà văn Triệu Bôn bệnh nặng đang trên đường ra Bắc. Chẳng biết có còn đủ sức để vượt qua hàng ngàn cây số đi bộ khi trở ra đó không. Nó ốm quá. Căn lán của nó vẫn nguyên đây. Lại nhớ một chuyện rất tức cười năm ngoái (1973) khi đón mình từ Mi Mốt bên chiến trường K (Cam-pu-chia) về “gia đình” Văn nghệ Quân Giải phóng Đông Nam bộ (B2), Triệu Bôn tuyên bố dàn bẫy cò ke của hắn bẫy được hai con gà rừng. Hắn phân công Trọng Ân đi vay gạo bên Tiểu đoàn xe tăng; Doãn Sáu ra suối thịt gà, Văn Lê, Y Phương vào rừng kiếm rau và măng… liên hoan! Đang ăn thì ông Nguyễn Trọng Oánh Tổng Biên tập kêu ầm lên như cháy doanh trại: Hai con gà mà bẫy cò ke của Triệu Bôn xập được trong đêm đang nhậu rượu đây, đâu phải gà rừng! Nó là hai con gà của đơn vị tăng gia giành ăn Tết 1973, xổng chuồng lạc vào rừng rồi sa bẫy Triệu Bôn!

Lại đang ăn liên hoan thì Tạp chí nhận được lệnh phải cấp tốc rời căn cứ. Đài kỹ thuật báo sang, địch đang chuyển quân!...

Vậy mà đã hơn một năm rồi!

Bữa nay (7-1974), tôi vừa cùng Văn Lê từ “Tam giác sắt” trở về thì lệnh thủ trưởng Oánh lại… thịt gà! Tất nhiên là gà… nhà tăng gia. Và, cũng tất nhiên, thịt cả ba con, nhưng chỉ được ăn luộc một con! Còn hai con, mỗi con nửa lạng muối, hai lạng giềng rừng, một chén ớt khô, rang lên làm lương khô, chia đều cho từng người. Hình như lại sắp có lệnh đi chiến dịch đâu đó. Mùa khô lại đến rồi. Máy bay OV-10 lượn suốt ngày đêm quanh căn cứ và cả vùng trời Lộc Ninh để chỉ điểm cho máy bay oanh kích. Hiệp định đình chiến 1973 chả là quái gì với cái bọn không lực nguỵ này. Đấy là chưa kể bọn F.5E tiêm kích từ các hạm đội Mỹ ngoài khơi lao vào bất cứ lúc nào nã tên lửa và trút bom khi nhận được các tín hiệu của đủ các loại “cây nhiệt đới” thả đầy rừng…

Bảng công tác đơn vị viết bằng phấn ở lán Tổng Biên tập Nguyễn Trọng Oánh: “Tiếp tục đặt hom sắn ở các rẫy… Ra thị trấn Lộc Ninh mua hai chục gà con… Sửa mo-rát Tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng B2 số Tết 1974… Tiếp tục phân công trực viết bài về trao trả tù binh sân bay Lộc Ninh, lấy tư liệu cho sáng tác và đưa tin…

Nhật ký hành quân- Nhật ký thơ (Kỳ II) - ảnh 1

Ảnh tư liệu chụp năm 1973 - Mặt trận Đông Nam bộ (B2)

Từ phải qua trái: Trọng Ân, nhà thơ Trần Ninh Hồ, nhạc sỹ Phong Kỳ, nhà thơ Nam Hà, nhà thơ Trần Mạnh Hảo, nhà báo Chí Thiện.

Buổi đầu trở lại sân bay Lộc Ninh, chúng tôi đến ngay lán chị Võ Thị Thắng. Nhưng chị Thắng và các chị đã rời đi từ lâu. Những ghi chép của Văn Lê và những đoạn thơ của tôi ghi ở sân bay đành chỉ còn biết đưa lên báo chứ không kịp nhờ các “nguyên mẫu” rà soát lại cho chuẩn xác hơn. Ngày ấy, cánh viết chúng tôi đang rất tâm đắc với việc đưa thẳng những chất liệu sống vào trang văn. Thành tựu văn học những thập kỷ 60,70 của thế kỷ XX với những trang văn thơ chiến trường; những tiểu thuyết tư liệu, kể cả ngoài nước như những cuốn viết về Chê-ghê-va-ra… hồi đó rất có sức lôi cuốn. Chưa có thời gian để viết kỹ, viết nhiều, thì cần phải ghi chép sao cho càng chi tiết, càng thật những năm tháng này càng tốt. Biết đâu vài chục năm sau, thậm chí hàng trăm năm sau, sẽ có một ông L.Tônxtôi nào đó dùng đến để cho ra đời cỡ “Chiến tranh và hoà bình”… Chúng tôi chấp nhận một cách hết sức thoải mái khi làm những chiếc cầu phao kể cả khi phải vượt qua Cửu Long, Hồng Hà…- những dòng sông lớn!

Buổi đầu gặp chị Võ Thị Thắng, tôi và Văn Lê cứ bàng hoàng mãi về một chi tiết: chị chưa hề nhìn thấy bức ảnh chụp năm 1968 với nụ cười tuổi 20 bất tử của chị (và cũng là của cả một thế hệ trẻ Việt Nam) trước sự hung bạo của giặc… Tôi vội ghi:

“Thắng đón chúng tôi bằng một nụ cười

Thắng gọi tôi bằng anh vì tôi ba mươi tuổi

Còn anh bạn của tôi hai mươi bốn tuổi

Ngay lời đầu Thắng đã “Chào em!”

Chúng tôi giới thiệu tên, mà không hỏi Thắng

(Chúng ta biết tên em từ rất lâu rồi!)

Nhưng rất hồn nhiên, Thắng tự mình giới thiệu:

“Tên em là…”. Kỳ lạ quá đi thôi!

Những năm tháng trong lao, Thắng đâu biết

mọi người đều rất tỏ hình em

Tôi tặng em tấm hình với nụ cười đã bay quanh trái đất

Mặt Thắng hồng lên và rưng rưng nước mắt

Em chưa lần ngắm lại nụ cười em!

Đấy là ghi chép thơ có tên: “Gặp lại nụ cười”. Không hề biết sự nổi tiếng của tên tuổi và hình ảnh mình. Trước Võ Thị Thắng, tôi chợt nhớ tới một người phụ nữ trên đường Trường Sơn 1972. Chị đi viếng mộ chồng là liệt sĩ ở một vùng giặc vừa trải thảm B52, cũng ngay gần nơi địch đóng đồn- vùng giáp gianh tranh chấp. Chị đã có một cử chỉ đẹp tuyệt vời, rất hồn nhiên, hồn hậu, đã cho tôi một ghi chép hoàn toàn như sự thực đã xảy ra, thành bài “Viếng chồng”. Ghi-chép-thơ này, sau khi in đã được nhà thơ Vũ Quần Phương và năm nhà văn, bạn đọc bình trên các sách báo ở các năm 70, 80, 90 thế kỷ trước. Tôi xin chép lại y nguyên như trong nhật ký ngày đó:

- “Chị ơi!...”

Chỉ gọi được thế thôi

Anh chiến sĩ đưa đường bỗng thấy nghẹn lời

Không làm sao anh còn nói nổi:

“Chị đặt hoa nhầm rồi!

Mộ anh ấy ở bên tay trái

Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại

Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi”

- “Chị hiểu ý em rồi

Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó!

Cả khu đồi chỉ có hai ngôi mộ

Viếng mộ anh, có chị đến đây rồi!”

Trung thành với loại thơ-nhật-ký đó, trước khi xuống Trảng Bàng, vùng “Tam giác sắt” gặp chị Bẩy Hương chính trị viên đại đội nữ súng cối, cô gái với bộ quần áo giải phóng mầu rêu, cái mũ tai bèo, đẹp dịu dàng kín đáo như một nữ sinh trung học thuở nào, hay đúng hơn, như một nữ diễn viên điện ảnh ấy, đã bị thương dập nát bàn tay trái, đã thành một nữ anh hùng huyền thoại của một vùng chiến sự ác liệt nhất… tôi và Văn Lê đã nghe dọc đường người ta nói về chị. Và tôi ghi nhật ký gần như… thơ: “Tôi nghe kể về em ở trung đoàn bộ binh/ Tôi nghe kể về em ở những người du kích/ Tôi đi suốt Trảng Bàng một mùa chiến dịch/ Nhận những lời các má gửi thăm em”… “Em như thế nào đây? Bao lần tôi tự hỏi/ Em dịu dàng hay em trang nghiêm/ Tôi hình dung từ dáng đi, giọng nói/ Tìm trong ký ức mình những nét thân quen”… “Vẫn không sao hình dung ra em được/ Tôi đi có một mùa, mà em sống mười năm!/ Trảng Bàng ơi, những tháng ngày cay cực/ Máu ta rơi bầm đỏ mỗi căn hầm”… “Ngỡ chỉ có cỏ thôi, không còn gì nữa đâu!/ Xích xe giặc trà lên, cỏ cũng không sống nổi/ Trắng đất. Trắng trời. Trắng đêm không ánh lửa/ Em gái ơi, em đi về đâu?”… “Dìu dịu nụ cười, lóng lánh mắt đen/ Chiều nao bên em thân quen mà vẫn lạ/ Áo em mặc xanh một mầu cây lá/ Dẫu là mầu của rừng quen thuộc nửa đời tôi!”…

Ghi chép như thế, sao xứng đáng với tầm vóc của những người anh hùng? Họ là những con người mà trí tưởng tượng bình thường không sao hình dung nổi. Thế thì cứ ghi lại chính cái sự… bất lực của tưởng tượng của mình vậy! Hồi ấy nhà thơ Lê Quang Trang cũng vừa về vùng “Tam giác sắt” để gây dựng lại những chi bộ bị tổn thất nặng ở An Tịnh; nhà văn Trần Văn Tuấn đang cùng đoàn hậu cần 235 áp sát mặt trận, khi tìm đến Trung đoàn 16 thăm tôi và Văn Lê, được xem qua những ghi chép này cũng động viên tôi theo cách những người thuộc “trường phái” văn chương “cầu tre, cầu phao” với những nổi cảm thông thật sự thân thiết.

Có ai ngờ chỉ mấy tháng sau, Bẩy Hương đã hy sinh trên đường đi chiến dịch Tổng tiến công 1975. Chị bị rơi vào một ổ phục kích ngay trên một cánh đồng hoang Trảng Bàng bạt ngàn cỏ Mỹ và dây thép gai mà chúng tôi thường cũng đi qua!...

Ngày ấy ngỡ xa lắm rồi.

Có chi đâu mà nhắc lại

Ta đi dặm đường mê mải

Bao nhiêu mùa mưa, mùa trăng?

Mùa trăng em qua thung lũng

Bóng em điệp với bóng cây

Tôi có vầng-trăng-trao-động

Qua thung lũng với ngàn cây

Mùa mưa em về hậu cứ

(Dốc cao đến thắt ruột mình!)

Dốc nào cũng làm tôi nhớ

Mùa mưa ơi. Nước trắng rừng!

Trắng rừng lạnh lùa cơn sốt

(Những cơn sốt chẳng chia mùa!)

Em đi. Tiếng cười trong suốt

Lung linh một trời sao khuya…

                                          (Ngày ấy)

Nhà thơ Trần Ninh Hồ
(Bộ đội Giải phóng Đông Nam bộ 1971-1975)



-----------------------

* Nhật ký hành quân- Nhật ký thơ (Trích đoạn I)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác