Nhật ký hành quân- Nhật ký thơ (Kỳ I)

Nhờ người khác bình thơ cho mình, đã là điều đáng buồn. Tự ý bình thơ mình, thì càng đáng buồn hơn. Đấy là những áp đặt không cần thiết, bởi lẽ từ số phận, sự từng trải của chính mình, mỗi người đọc sẽ có những cách đọc thơ riêng. Nếu quả thật là thơ, nó sẽ được hưởng sự lan toả như một môi sinh vô biên và vô cùng đáng yêu ấy.

Có lẽ kể cả giới lý luận phê bình văn chương, những học giả, những bác học của lĩnh vực này, phần lớn thành tựu của họ, với thơ, cũng thường được sinh ra trong sự lan toả tự nhiên ấy. Thơ đã quyến rũ họ, thức dậy trong họ niềm hứng khởi của cảm xúc và trí tuệ, sự công tâm trong thẩm định…

Vậy thì, ngoài những trang thơ, nhà thơ có thể nên làm… “thêm” những việc gì nữa cho bạn đọc?

Làm công dân. Làm những nghề khác để nuôi… thơ! Cũng có thể làm phê bình thơ nhưng nên là thơ của của… người khác! Càng khác thơ mình càng tốt! Và nếu có thể viết về mình thì chỉ nên viết về khung cảnh ra đời những câu thơ ấy- cuộc hành trình muôn đời từ những “Trang đời” sang những “trang thơ”, những chất liệu tham khảo mà hầu như chỉ riêng tác giả biết.

Sẽ có trường hợp khung cảnh thì tuyệt vời mà sao thơ mình lại… xoàng? Thì cũng là một bài học cho chính mình và các bạn thơ, về sự cân bằng giữa tài thơ và cuộc sống. Và rất có thể, với chất liệu sống thật và đẹp ấy, biết đâu sẽ giúp cho một nhà thơ tài lớn nào đó thay ta gửi tới bạn đọc những dòng thơ tương xứng tài hoa!...

Giữa những ngày tháng Tư lịch sử này, có lẽ không chỉ riêng tôi, đã nhiều lần mở lại những trang “Nhật ký hành quân- Nhật ký thơ” đầy những gạch, xoá, thêm, bớt, đã ố vàng sau hơn ba mươi năm.

Những ngày hè 1974 tôi và nhà thơ Văn Lê được tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng cử xuống Củ Chi, Trảng Bàng, Tây Bến Cát. Đấy là vùng “tam giác sắt”- vùng tranh chấp áp sát Sài Gòn, không giờ nào không có những trận đánh, những cuộc pháo kích và những đợt mưa bom.

Dù ở ngay căn cứ của Bộ Tư lệnh miền, nhưng thật tình chúng tôi chưa biết gì về tháng Tư lịch sử của ngay năm sau, 1975. Có lẽ cả nhà thơ Tổng Biên tập tạp chí Nguyễn Thành Vân (Nguyễn Trọng Oánh), nhà thơ Nam Hà, Thanh Giang, khi tiễn hai chúng tôi đi mặt trận cũng chưa biết gì hơn. Các anh vẫn nhắc: “Chỉ được ở dưới đó ba tháng, đến 15.7.1974 thì phải về cứ để phát rừng trồng lúa nương mùa khô; nuôi thêm gà, lợn và chuẩn bị hai số tạp chí cho Tết Tây và Tết Ta, đón 1975… Hai ông (Trần Ninh Hồ và Văn Lê) còn phải tiếp tục làm phóng viên thường trực ở sân bay trao trả tù binh Lộc Ninh nữa đấy. Nhớ không?”

“Nhớ chứ!- Văn Lê khẽ nói với tôi- Em với anh còn nợ nhóm chị Võ Thị Thắng rất nhiều rau tàu bay và nấm. Các vị ấy vừa ở tù ra, ai cũng thèm rau tươi mà mình thì mới hái tặng được hai lần. Còn nợ…” Hồi ấy Văn Lê còn rất trẻ. Hình như 24 tuổi. Vừa được điều từ một đơn vị chiến đấu lên. Đã từng được tuyên dương “Dũng sĩ”, bây giờ được cùng tôi trở lại chiến trường, cậu ta có vẻ khoái chí lắm. Lại được gặp đơn vị cũ, bạn bè và những gia đình vùng tranh chấp quen thuộc. Hình như cậu ta có một cô bạn rất thân ở Nữ đại đội sung cối Trảng Bàng, có chính trị viên Bẩy Hương anh hùng quân giải phóng. “Học gần hết trung học ở Tây Ninh, chị Bẩy Hương ra quân đội Trảng Bàng từ năm 1968. Viết được truyền đơn binh vận tiếng Anh… Rất yêu thơ… Và đặc biệt là sẽ cho anh biết thế nào là rượu đế Trảng Bàng, chắc không kém Vân Hương Mỹ tửu quê anh!..”

Chẳng rõ thật hư đến đâu, nhưng mới vào mặt trận, lại lớ ngớ như tôi mà có chàng thổ công Văn Lê “hộ tống” thì khác gì được… “phong Vương!”.

“Lương khô đủ ba cân. Màn, võng, tấm đắp, quai dép… Mỗi người ba băng đạn sung ngắn K54… Tiền nguỵ. Giấy tờ- Và anh biết hai gói gì đây không?- Văn Lê chìa cho tôi hai gói bọc ni-lông to bằng hai cái mũ cối- Hai túi vải.. liệm và bông băng, thuốc men! Hi, hi!- Cậu ta cười- Vải liệm đủ 12m này, xuống đó mà đem đổi mì tôm và sữa con chim, thuốc lá Ara, thì cứ là no say xòe cánh nhạn! Đã đời!...”

Tôi phải suỵt cho cậu ta bé mồm lại. Ông Nguyễn Trọng Oánh mà nghe thấy thì liệu hồn. Vải liệm với chả mì tôm!...

Đúng là “thả hổ về rừng”! Sau hơn sáu mươi cây số đi bộ liền trong ba ngày, sau khi được chính trị viên Bẩy Hương cùng đơn vị tiếp cơm, mắc cho cái màn, tôi ngủ như chết một mạch dưới hầm từ 8giờ tối đến 3giờ sáng thì Văn Lê đã mò sang trung đoàn 16. Đêm ấy trừ vài loạt pháo kích địch bắn vào núi Bà Đen, còn là khá yên tĩnh, tôi có thể ngủ liền đến lúc mặt trời lên, nhưng Văn Lê đã trở về lúc 3giờ sáng đánh thức tôi dậy dể… nghe thơ!

Thật là một cực hình tra tấn! Tôi đang định nổi cáu thì nhận ra trong quầng đèn pin, cả gương mặt Văn Lê ướt nhoè nước mắt. “Tiếng gọi bò. Tiếng gọi bò khản đặc cả trời đêm!...”. Cả bài thơ “Tiếng gọi bò” mới viết trong đêm, (có thể cùng viết với tiếng gọi bò đang tức tưởi của các em nhỏ, các mẹ già vùng tranh chấp trên những cánh đồng bạt ngàn thép gai và cỏ Mỹ sau mấy trận càn hôm trước), cũng tức tưởi nghẹn ngào tràn ngập căn hầm…

Tôi ôm lấy Văn Lê và cũng không nén được nước mắt. Tôi khóc về những tang thương của chiến trường, tôi còn khóc về tấm tình của người lính trẻ. Tấm tình ấy đã sinh ra thơ! Một thứ thơ nồng nàn từ sự sống!...

Sau đúng ba tháng đi chiến dịch Tây Bến Cát, vừa bước chân về căn cứ rừng Lộc Ninh thì chúng tôi được ngay tin: Chùm thơ Văn Lê 5 bài, trong đó có bài “Tiếng gọi bò” gửi qua đường giao liên đã được Tạp chí Văn nghệ Quân đội ngoài bắc in và trao Giải Nhất cuộc thi thơ năm ấy!

Với chùm thơ đầu tay, ai đã biết Văn Lê là ai? Viết trong hoàn cảnh nào? Những người lính quân bưu nào đã vận chuyển nó qua Trường Sơn?... Sau này gặp và hỏi từng nhà thơ một trong Ban Giám khảo cuộc thi mới biết tất cả những câu hỏi trên, họ đều không hề biết. Chỉ biết đấy là thơ! Thơ hay nhất, dẫu chỉ là trong một cuộc thi thơ, thì nó vẫn cứ đến cái vị thế mà những thật-thơ sẽ đến!...

Ngày ấy cũng nhờ nhà thơ trẻ Văn Lê đưa tôi đi sát các trận đánh, nhất là khi được sống với những chiến sĩ trinh sát sư đoàn 9- những người lính nhiều huyền thoại nhất trong những người lính trận, đã giúp tôi có được hai ghi chép thơ trước khi bước vào cuộc Tổng tấn công giải phóng toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 30.4.1975!

Tôi xin được chép tặng báo điện tử Tổ Quốc nguyên vẹn như khi nó được ghi chép trong “Nhật ký hành quân- Nhật ký thơ” từ 35 năm trước. Cả hai ghi chép thơ này tại mặt trận Tây Bến Cát- Đông Bắc Sài Gòn- Vùng “Tam giác sắt”.

“Ghi chép thơ 1:”

Phía này. Phía kia

Diệt xong chốt giặc rồi, tôi đi tìm thằng Lê(*)

Phía nó đánh lên bom rơi nhiều quá!

Phút tìm bạn, ai cũng thành người lạ

Mày ở đâu rồi. Lê ơi(*). Mày đâu?

*

Nó ôm lấy tôi. Nắn tay. Xoa đầu

Nó bảo: Phía anh(*) bom rơi nhiều quá

Hai đứa cười mà lệ ràn lên má!

Ai cũng nghĩ phía bạn mình bom rơi nhiều hơn!

(Mặt trận Tây Bến Cát- 4.1974)

(*) Khi được in Văn nghệ Quân Giải phóng Đông Nam bộ, “Lê” đã được sửa là “Nhâm” và “anh” đã được sửa là “mày”, cho nó đỡ “cá nhân”, và lính hơn.

“Ghi chép thơ thứ 2:”

Tổ Quốc

Gửi tiểu đội trinh sát F9 (Sư 9) Tây Bến Cát 1974

“Ở hậu cứ giờ này hẳn mít-tinh xong!...”

Tiếng ai đó cuối hàng quân bỗng nhắc

Tiểu đội trưởng

Dừng lại bên đường

Bóc phong lương khô cuối cùng

Chúng tôi

Ăn mừng

Hai mươi chín năm ngày Độc Lập!

Không có báng súng ghép làm bàn

Lính trinh sát toàn tiểu liên báng gấp

Mũ tai bèo đâu

Ngả ra!

“Hà Nội giờ này đang bắn pháo hoa…”

“Cô bạn ấy chắc nhớ mình lắm đấy!...”

Giữa những chuyện thì thầm trong đêm

                        chúng tôi chợt thấy

Ùa về

Như nắng

Bao nhiêu gương mặt người thân nơi gần nơi xa!

Ơi những người thân nơi gần nơi xa

                        mà chúng tôi thương nhớ thiết tha

Giữa giờ khắc thiêng liêng càng thương nhớ!

Tiểu đội tôi chiều nay

Vừa vẽ xong sơ đồ

Mai sư đoàn tấn công

Sẽ giành về

Một miền quê mới nữa!

Một miền quê thân yêu!

Lại thêm một miền quê thân yêu giải phóng!

Lính trinh sát chúng tôi

Sẽ ghép những sơ đồ

Cho trọn vẹn

Một bản đồ Tổ Quốc!

 

Nhà thơ Trần Ninh Hồ
(Bộ đội Giải phóng Đông Nam bộ 1971-1975)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác