Người viết tiểu thuyết biển đảo qua tư liệu sách báo

 

(Toquoc)- Tiểu thuyết được bắt nguồn từ truyện ngắn là chuyện không lạ trong giới văn chương, nhà văn Bùi Việt Sỹ cũng vậy, ông phát triển từ truyện ngắn “Người đi giữ biển” thành tiểu thuyết “Dòng sông chối từ”. Nhưng cái lạ của Bùi Việt Sỹ là trên tất cả cái nền của truyện ngắn hay tiểu thuyết đó là vốn sống thông qua tư liệu sách báo chứ nhà văn chưa hề đặt chân đến các đảo, nơi những người lính biển đang ngày đêm canh gác giữ biển trời Tổ quốc.

 
Displaying Untitled-1.jpg

 

PV: Thưa nhà văn, ngay đầu tháng 5/2014, cả dân tộc ta chứng kiến những hành động bất chấp luật pháp quốc tế, cam kết quốc tế của Trung Quốc trên biển Đông. Bên cạnh các thông tin nóng hổi về diễn biến phức tạp đang diễn ra trên biển Việt Nam thì phần lớn các trang báo về văn nghệ cũng dành nhiều sáng tác hướng về biển đảo, trên các trang mạng xã hội cũng xuất hiện những bài thơ hướng về lòng yêu nước, tự tôn dân tộc với những xúc cảm vừa chân thành, ấm áp giản dị vừa thiêng liêng, cao đẹp… Dường như lòng yêu nước đang được lan toả mạnh mẽ. Trong khi đó, lâu nay có nhiều ý kiến cho rằng, các nhà văn, nhất là các cây bút trẻ không mặn mà với đề tài văn học chiến tranh. Vậy nhà văn có dự cảm trong tương lai văn học đề tài chiến tranh yêu nước sẽ nở rộ về số lượng và chất lượng?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Trong tương lai, mà có lẽ là tương lai gần, chắc chắn văn chương về đề tài yêu nước sẽ nở rộ về chất lượng và số lượng. Cũng giống như thời kỳ lịch sử khi dân tộc ta chống Pháp, chống Mỹ thì văn học chiến tranh yêu nước cũng nở rộ. Và, đặc biệt thơ sẽ tiên phong và có nhiều thành tựu sớm.

Còn văn xuôi, trừ những bài bút ký mang yếu tố thời sự nóng hổi, thì truyện ngắn và tiểu thuyết sẽ đi chậm hơn so với thơ.

PV: Được biết, cách đây ba năm, nhà văn Bùi Việt Sỹ đã có cuốn tiểu thuyết “Dòng sông chối từ” viết về người lính làm nhiệm vụ canh giữ biển đảo của Tổ quốc, để lại gia đình ở đất liền. Thế nhưng, âm mưu xâm chiếm đất của “người hàng xóm” luôn đe dọa cả gia đình người lính. Để đối phó với hàng xóm nham hiểm gia đình người lính đó phải dựa vào pháp luật, sức mạnh võ thuật, sự thông minh khéo léo và cả sự hỗ trợ của người vợ lai châu Âu gốc Việt. Cuối cùng, trải qua vô vàn biến cố, thậm chí cả tính mạng người mẹ,  mảnh đất đã không bị xâm chiếm, cả gia đình người lính đã được đoàn tụ và chọn đảo là nơi sinh sống, làm việc, góp công sức bảo vệ và phát triển biển đảo Tổ quốc. Xin hỏi thực ông, ông đã phải sống bao nhiêu lâu trên các hòn đảo thiêng liêng của Tổ quốc để có thể viết được cuốn tiểu thuyết đầy ẩn ý này?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Tôi chưa từng đặt chân đến các hòn đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà tôi luôn theo dõi diễn biến, cũng như đời sống của những người lính, những người sinh sống trên các hòn đảo đó qua sách báo. Có thể nói, biển đảo của Tổ quốc luôn sống trong tôi từ bao năm nay.

PV: Vâng, một thông tin rất bất ngờ, khi nhà văn tiết lộ chưa hề đặt chân đến các hòn đảo trong quần đảo của đất nước mà lại viết hẳn được một cuốn tiểu thuyết. Nhà văn khiến độc giả liên tưởng đến nhạc sĩ Hồng Đăng với nhạc phẩm “Hoa sữa”. Vậy có nguyên mẫu nào ngoài đời hay lý do nào thật đặc biệt, đủ sức hối thúc để ông viết một cuốn tiểu thuyết về gia đình người lính biển?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Có nguyên mẫu ngoài đời. Đó là thời gian khi tôi làm mảng thể thao cho báo chí, tôi có theo dõi các đoàn võ thuật Việt, gọi là “Việt võ đạo” từ nước ngoài đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh biểu diễn. Trong đoàn có một võ sư người Việt muốn tìm truyền nhân ở Việt Nam. Đặc biệt vị võ sư này từng ủng hộ nhiều cho đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Giải phóng Miền Nam họp bốn bên để ký kết hiệp định Pari năm 1973. Chi tiết thú vị này tôi đã ấp ủ định viết từ lâu, nhưng rồi phải đến tận mấy chục năm sau tôi mới viết được trong tiểu thuyết “Dòng sông chối từ”.

PV: Trong cuốn tiểu thuyết “Dòng sông chối từ” có một nhân vật độc giả khá quan tâm và tò mò; đó là Maria Huệ. Đây là một cô gái gốc Việt, sống ở châu Âu, vì tình yêu mà về làm dâu Việt Nam. Nhân vật này là một dự cảm về tính liên kết quốc tế trong cuộc đấu tranh, vậy xin hỏi ông, Maria Huệ sống cụ thể ở nước Nga, Mỹ… hay quốc gia châu Âu nào?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Trong tác phẩm của mình tôi chỉ nói Maria Huệ sống ở châu Âu chứ không cụ thể ở nước nào, vì thấy không cần thiết chi tiết. Và có độc giả, sau khi đọc xong cuốn tiếu thuyết đó đã nói với tôi rằng, nếu cô Maria Huệ được thay bằng cô Mơ, cô Mận nào của Việt Nam thì rất ít ý nghĩa. Vì cuộc đấu tranh bảo vệ biển đảo phải gắn với sự giúp sức của quốc tế, thậm chí quốc tế hoá. Thời trước, ông cha ta đánh lại giặc phương Bắc và giành được thắng lợi có thể không cần đến chi viện quốc tế, nhưng hiện nay khoa học kỹ thuật đã phát triển, rất khó nếu cuộc chiến diễn ra mà phải đơn thương độc mã đối đầu.

PV: Một tác phẩm có tính dự cảm là con dao hai lưỡi, nó sẽ thành công và được nhân lên khi điều dự cảm đó đúng, nhưng ngược lại, nó sẽ thất bại khi điều dự cảm đó hoàn toàn sai. Vậy khi viết một tác phẩm chứa đựng những dự cảm như thế, nhà văn có đắn đo, cân nhắc gì không?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Tôi quan niệm, một tác phẩm phải chứa đựng các yếu tố: Một là, phải phản ánh được cái hồn của hiện thực vào tác phẩm. Hai là, tác phẩm muốn có giá trị lâu dài phải đa nghĩa. Bà là, phải có dự cảm, dự báo, có thể đi trước mấy chục năm.

Dự cảm đúng hay không chính là thước đo năng lực của người cầm bút.

PV: Theo ông thì lý do nào có thể khiến văn học về đề tài chiến tranh yêu nước nở rộ về số lượng và chất lượng hơn là sự phụ thuộc vào những vấn đề thời thế đang diễn ra?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Để tác phẩm văn học có sức hút mà không phụ thuộc vào vấn đề thời sự thì phải phụ thuộc vào tài năng, bản lĩnh của nhà văn. Nhà văn tầm thường chỉ phản ánh sự kiện đơn thuần, còn nhà văn tài năng dự cảm được cái chưa xảy ra và sắp xảy ra trong tương lai. Một trong những chức năng của văn học chính là tính dự báo.

PV: Và vấn đề tiếp nhận của độc giả nữa, ông có cho rằng đó là một trong những động lực để người cầm bút chọn lựa đề tài văn học chiến tranh yêu nước không?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Tôi cảm thấy thời trước sự tuyên truyền, tiếp nhận của độc giả, của các nhà phê bình theo sát sáng tác, thậm chí còn “khuếch trương” được tác phẩm. Nhưng hiện nay, kinh tế xã hội… có nhiều thay đổi, việc đọc sách, thụ hưởng tác phẩm văn học nghệ thuật ít đi. Nhiều lúc tôi cũng tự đặt câu hỏi: không biết các nhà phê bình đi đâu?

Tuy nhiên, với tình hình phức tạp, nóng bỏng trên biển Đông hiện nay, có thể còn lan rộng ra cả châu lục thì văn học, kịch nói… về đề tài yêu nước, công cuộc giữ biển đảo sẽ thu hút sự quan tâm của cả độc giả và đội ngũ sáng tác.

PV: Vậy cá nhân nhà văn thì sao, ngoài cuốn tiểu thuyết “Dòng sông chối từ”, ông còn sáng tác mới hay những phác thảo mới nào về văn học đề tài chiến tranh, yêu nước từ các sự kiện đã và đang diễn ra những ngày vừa qua?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Ngoài cuốn tiểu thuyết “Dòng sông chối từ” tôi viết cách đây đã ba năm, tôi có tham dự giải thưởng Văn học công nhân 5 năm một lần (2009-2014) và được thông báo cuốn sách này đã đạt giải nhất, dự kiến tháng 7 này sẽ trao giải. Tôi còn có một cuốn tiểu thuyết nữa là “Chim ưng và chàng đan sọt” cũng đề tài chiến tranh, yêu nước và gửi tham dự cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam.

PV: Nhà văn có quan tâm đến những sáng tác về chủ đề biển đảo đã và đang xuất hiện trong thời gian qua không? Và ông đánh giá như thế nào?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Tôi có theo dõi những sáng tác đó và tôi nhận thấy, bên cạnh sáng tác mang tính sự kiện cũng có nhiều sáng tác vượt qua được tính sự kiện để “sống” được. Chẳng hạn, trong cuộc thi thơ về biển đảo, có bài thơ Mộ gió, tôi được biết, ban đầu ban tổ chức không định trao giải, nhưng chính nhà thơ Hữu Thỉnh thẩm định và nói rằng “đây mới là tác phẩm có giá trị”. Cuối cùng tác phẩm này được trao giải nhì. Đến giờ, càng ngày càng có nhiều độc giả thích và đánh giá cao giá trị của bài thơ.

PV: Với quan điểm của nhà văn, trước tình hình biển Đông phức tạp như hiện nay thì trách nhiệm của người cầm bút, cũng như bản thân nhà văn là gì?

Nhà văn Bùi Việt Sỹ: Quan điểm chung của nhà văn thì đã có sự lên tiếng của Hội Nhà văn. Còn cá nhân tôi, thì Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam về mặt pháp lý và thực tế lịch sử là không thể tranh cãi.

Mặc dù Trung Quốc có viện dẫn ông A, ông B thì cũng chỉ là cái “lý sự cùn”. Người ta không thể lấy cái không phải của mình. Tôi không thể mang Thiên An Môn cho nước Mỹ khi Thiên An Môn không phải của tôi. Cũng như tôi không thể mang tượng Nữ thần tự do cho Trung Quốc khi tượng Nữ thần tự do không phải của tôi.

Về mặt pháp lý quốc tế, những vấn đề đất đai, lãnh thổ… chỉ có giá trị khi Quốc hội của nước đó thông qua. Vừa qua, thông qua luật Biển, Quốc hội Việt Nam đã khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam rồi.

Còn trách nhiệm của người cầm bút, theo tôi, một người cầm bút tử tế, trước tiên phải có trách nhiệm với ngòi bút của mình, còn trách nhiệm công dân cao nhất là đối với đất nước, đặc biệt là vận mệnh đất nước. Có thể ở thời điểm này thời điểm khác có những vấn đề nhạy cảm cần cân nhắc thì phải tìm cách viết khéo léo, nghệ thuật…  để thể hiện trách nhiệm của mình.

* Cảm ơn nhà văn.

Hà Anh (thực hiện)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác