Người “phu lục lộ nhân dân” (*)

Những năm cuối thập niên chín mươi của thế kỷ trước, khi còn công tác trong ngành Văn hóa, tôi được phân công về Trà Cú trực tiếp tham gia cùng quá trình xây dựng ấp văn hóa Con Lọp. Nghe cái tên ấp, dù là một người được bạn bè gán vui cho biệt danh “nhà Trà Vinh học” bởi những kiến thức tích lũy được về vùng đất sinh ra mình, tôi vẫn cứ ngơ ngác, lật bản đồ tìm mãi mà không biết nó nằm ở đâu.

Điện anh Nguyễn Văn Út, khi ấy còn là Trưởng phòng Văn hóa huyện, anh bảo nó thuộc xã Tân Lập. Tới chừng xuống ủy ban Tân Lập thì anh em sở tại lại bảo: Mùa này mưa gió, chỉ còn cách duy nhất là chạy vòng xe ra Phước Hưng, xuống Tập Sơn tìm nhà quen gởi xe, lội bộ chừng ba cây số là tới Con Lọp!

Ốc đảo Con Lọp - vâng, không còn thuật ngữ nào chính xác hơn để chỉ cái ấp mồ côi bé xíu, tách mình nằm biệt lập giữa cánh đồng mênh mông, mà giữa mùa mưa nước nổi muốn liên lạc với “thế giới bên ngoài” chỉ còn cách xắn quần lội bộ vượt mấy cây số đường vừa lầy vừa trượt - lần đầu tiên đặt bàn chân đến đã gây cho tôi không ít ngạc nhiên, thú vị. Toàn ấp có hơn một trăm hai mươi hộ dân mà số nóc nhà người Việt đếm chưa hết ngón trên một bàn tay, còn lại là đồng bào dân tộc Khmer. ở Con Lọp, người Việt được coi là “dân tộc thiểu số” nên nói chuyện bằng tiếng Khmer như “lặt rau” còn người Khmer nói tiếng Việt ngút ngắt như búa cùn bửa nhằm gốc mù u. Anh cán bộ văn hóa huyện Thạch Nhã đi cùng làm công tác tuyên truyền miệng mà câu nào cũng rọt rẹt nửa Việt nửa Khmer. Vậy mà, không biết bằng cách nào, trên cái ốc đảo chừng như biệt lập với nền văn minh thị thành ấy lại không hề có dấu hiệu tụt hậu như tôi vẫn tường. Những thửa ruộng đang trở mình vàng ươm cứ nối nhau chạy dài ra bốn phía chân trời. Trên chân giồng đất cát, cây bông vải, cây bắp lai, cây đậu phộng... vững vàng thế đứng hướng về tương lai. Tôi ngạc nhiên đến không tin được khi nghe kể lại công lao ban đầu đưa những giống cây trồng hiệu quả cao ấy về Con Lọp thay chân cho bụi tre gai, cho cây trâm bầu hoang dại lại chính là những chị phụ nữ chân yếu tay mềm. Càng lạ lùng hơn, những con lộ đất nhỏ nhắn vắt qua những phum sóc trong ấp lại khô ráo, người xe đi lại vui vẻ không tìm đâu ra vũng nước đọng hay đoạn đường trơn như con đường ban sáng tôi đã vất vả vào đây Cũng là những con đường đất thịt cứ gặp mưa là nhão lên thành bột, vậy mà...

Mấy ngày ở Con Lọp, dọc bên đường, khi thì đầu sóc lúc ở cuối phum, tôi bắt gặp và dần quen với hình ảnh một ông lão Khmer dáng người gầy guộc, quần áo hơi lem luốc, cùng chiếc cuốc đã mòn lẵn và chiếc ky cũ kỹ, lặng lẽ dấy cỏ, khai mương, đào đắp. Chúng tôi đi qua, ông lão dừng tay, ngước lên nhẹ nở nụ cười lành như đức Phật trên tòa sen rồi lại tiếp tục cần mẫn với công việc. Anh cán bộ ấp đi cùng giải thích:

- Bác ấy tên Kim Huyên, mấy chục năm ròng chỉ làm một công việc duy nhất là đào đắp, vá sửa những con đường trong ấp. Không có bác ấy, đám con nít đi học cũng cực mà người lớn muốn chở bao lúa đi chà hay mang con heo đi bán cũng khổ...

- Chắc là bác ấy có hợp đồng với ngành Giao thông huyện, thu nhập có khá không? - Tôi đo lòng người khác bằng cái bụng hẹp hòi thực dụng vốn có của mình. Anh cán bộ ấp làm tôi chưng hửng:

- Hoàn toàn tự nguyện! Hồn nhiên ăn cơm nhà, hồn nhiên lo chuyện lối xóm...

Thông tin về một ông lão Khmer suốt mấy chục năm ròng ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, tự nguyện làm anh “phu lục lộ” chăm lo cho những con đường đất Con Lọp lúc nào cũng khô ráo, sạch sẽ khiến tôi cảm thấy xúc động và khâm phục. Đêm đó, tạm gác bữa thù tạc mà chính quyền ấp dành cho anh cán bộ trên tỉnh xuống, tôi một mình lần đường tìm đến đối diện với ông lão. Thật kỳ lạ, ở cái ấp xa xôi biệt lập này, khi hỏi tên vị cán bộ lãnh đạo cao nhất của huyện Trà Cú, của tỉnh Trà Vinh hay những doanh nhận thành đạt vẫn xuất hiện thường xuyên trên các phương tiện truyền thông đại chúng thì người biết người không, còn hỏi nhà người đàn ông lặng lẽ với cái cuốc, cái ky trên những tuyến đường trong ấp thì ai cũng tường tận. Đám con nít còn tự nguyện làm hướng đạo viên đưa tôi vượt qua những lối nhỏ ngoằn ngoèo cứ đan xen vào nhau, dưới những tán dầu che khuất ánh trăng lờ nhờ. Không có chúng, tôi dám đoán chắc là mình đêm đó đi tới không được mà thoái lui chắc cũng chẳng xong.

Chúng tôi dừng chân trước một ngôi nhà, đúng hơn là một căn chòi, nhỏ và rách. Nghe tiếng ồn ào của bọn trẻ, ông lão cầm ngọn đèn dầu bước ra kèm theo một tràng líu lo tiếng Khmer, rồi những tràng cười vừa già vừa trẻ rộ lên, vui vẻ và thân tình lắm. Trong nhà có đúng một chiếc ghế đẩu mà chắc thường ngày ông vẫn ngồi ăn cơm nên tôi không còn cách nào khác hơn là cùng bọn trẻ chen chúc nhau trên chiếc giường tre nhỏ và cũ nhưng khá chắc chắn, được đóng một cách khéo léo, kỳ công. Ông không nói được tiếng Việt, còn tôi dù đã huy động toàn bộ vốn ngôn ngữ Khmer tích cóp được qua những chuyến điền dã dài ngày trong các phun sóc, cộng thêm phần minh họa bằng vẻ mặt, bằng cả đôi tay vẫn chưa đủ để làm cuộc đối thoại tay đôi. Cũng may, sự có mặt của bọn trẻ vốn mau miệng làm cầu nối giúp tôi tạm chắp vá lại câu chuyện. Ông kể:

…Hơn năm mươi năm trước có chàng trai trẻ nhà bên Ngãi Xuyên theo vợ về Con Lọp, đúng theo phong tục truyền thống của người Khmer. Ngôi nhà lá bé tí tẹo trống trước hụt sau không giữ được người vợ trẻ có đôi mắt bén như dao cau, trước những lời ngọt ngào quyến rũ của ông chủ đất ngoài Trà Sất. Mất vợ, mất luôn đứa con vừa bi bô chập chững, chàng trai Kim Huyên từ đó mất luôn cả nụ cười. Trả nhà lại cho bên vợ, anh thà ngủ chung với muỗi ngoài tha la chớ không dám trở về Ngãi Xuyên vì sợ mắc cỡ với bà con chòm xóm. Nghe lời lão Xếp Sao, anh vào lính “bảo an sóc”. Thôi cầm súng thì khỏi cầm cuốc, đàng nào cũng có cơm ngày hai bữa và có cái chỗ để ngả lưng. Mấy năm sau, anh nghe anh em trong lính nói Xếp Sao thành Đội Sao còn mình bây giờ là lính Khmer Sa rây. Rồi vài năm nữa, anh em lại nói mình đang mặc áo nghĩa quân và một hai gọi Đội Sao là ông Tổng. Thôi lính gì cũng được, cũng ban ngày kiếm chỗ ngủ, ban đêm vác súng đi vòng vòng trong sóc hoặc leo lên chuồng cu ngồi gác. Nói thiệt bụng, nhờ mấy năm đi tu bên chùa Kosla, nghe Phật dạy phải ăn hiền ở lành để phước cho kiếp sau nên mấy chục năm mặc áo lính mà Kim Huyên chưa dám bắt trói hay đốt nhà ai, dù thỉnh thoảng có nghe lời Tổng Sao rượt gà bắt vịt. Còn Việt Cộng... mãi đến sau ngày giải phóng, anh mới nhìn thấy để biết mặt mũi Việt Cộng đâu có giống lời mấy xếp nói. Có cán bộ người Việt, có cán bộ người Khmer mà ông nào ông nấy nhìn cũng y hệt như mình thôi.

Bảy ngày học tập cải tạo ngoài chợ Trà Sất, Kim Huyên nhận ra cũng có cái khác. Hồi đó, Tổng Sao mở miệng ra là chửi thề, là quát tháo anh em lính tráng bắt người này, trói người kia, cho dù đó cũng là người Khmer bà con trong sóc. Bây giờ, mấy ông cán bộ nhẹ nhàng bảo ban cho anh em thấy mình đã lỡ làm trật thì nay phải ráng làm lại cho trúng. Đi lính cầm súng cho giặc đã là trật với đất nước, còn bắt gà bắt vịt là trật với bà con xóm làng. Vậy, bây giờ thấy cái gì có lợi cho quê hương, phum sóc thì dù nhỏ dù lớn cũng phải ráng làm cho bằng được - anh cán bộ nói đó là ý của Bác Hồ! Kim Huyên nghĩ trong bụng, ý Bác cũng đâu khác lời Phật dạy, cũng biểu mình làm chuyện hay, chuyện tốt thôi...

Nhưng với một người không ruộng vườn, không nhà cửa, không vợ con như mình thì làm được cái gì có lợi cho bà con, cho phum sóc? Ý nghĩ ấy cứ giăng võng kẽo kẹt trong đầu Kim Huyên, không để ra ngoài được.

Tháng Bảy mưa giăng, Kim Huyên ngồi bó gối nhìn trời đất sụt sùi. Cả ấp Con Lọp vắng tanh, không ai muốn ra khỏi nhà bởi nhìn trước, nhìn sau chỗ thấp thì lầy như thau bột còn chỗ cao cũng trơn như có ai bôi mỡ. Nhìn mấy ông lão, bà lão lên chùa nghe kinh trượt té văng cả ốp nhang, giỏ bánh. Tội nhất là đám con nít tan trường về nhà mà quần áo thì bê bết còn cặp vở thì nhem nhuốc, lấm lem. Chuyện này mình làm được! Nghĩ vậy, chiều chiều cứ sau buổi đi làm thuê làm mướn cho có hột cơm bỏ vô bụng, ông vác cuốc ra đường, một mình khai mương rút nước, rồi gánh đất khô đắp vào. Một chỗ, hai chỗ, rồi nhiều chỗ... Ngày này chưa xong thì ngày hôm sau làm tiếp. Cứ vậy, từ xóm mình, ông đi dần lên phía ngôi chùa, xuống phía trường học. Đoạn đường cái khô ráo dần, ông lại vác cuốc đi về phía những con đường ngang, ngõ tắt... Nhìn những con lộ không còn lầy lội, nhìn người qua đường áo quần sạch sẽ, đi lại dễ dàng là trong bụng ông vui, thấy mình làm được theo ý Bác Hồ, theo lời Phật dạy.

Thực ra, ban đầu lỗ tai ông cũng nghe không ít tiếng chì bấc, dèm pha, kẻ nói ra người nói vào. Thậm chí vài thanh niên mới lớn chọc phá, chạy xe bắn nước vào người ông như với người thần kinh không bình thường, ăn cơm nhà mà rỗi hơi làm chuyện bao đồng. Nhưng nhiều lão ông lão bà từng suốt một đời khổ sở với những con đường lầy lội lại thương cho người đàn ông xứ lạ quê người mà có lòng với quê hương Con Lọp. Vậy là bà con biểu nhau, người ấm nước bình trà, kẻ củ khoai lít gạo... mang đến biếu ông. Khách qua đường, hiểu công việc và gia cảnh của ông, dừng xe dấm dúi vào túi ông vài trăm, vài ngàn đồng lẻ. Không ai cho gì thì ông cũng vui, cho ít cho nhiều ông đều nhận cả và luôn kèm theo cái chấp tay trước ngực, cúi đầu thật sâu, miệng nhẩm một đoạn kinh cầu phúc cho người hảo tâm tốt bụng. Bà con Khmer Con Lọp còn nghèo, củ khoai lít gạo hay và ngàn đồng lẻ tuy chẳng là bao nhưng với một người không rượu chè, không trà thuốc như ông cũng đủ để no cái bụng, lành cái áo qua ngày. Ông thôi không đi làm thuê làm mướn nữa, trở thành “người phu lục lộ nhân dân” sống bằng lòng hảo tâm của cô bác gần xa. Từ Con Lọp, với cái cuốc mòn lẳn và cái ky cũ kỹ trên vai, dọc theo chiều dài những con lộ, ông đi xa dần, xa dần mà chính bản thân ông cũng không phân biệt được đã vào địa phận của phum sóc nào, làng xã nào. Mà có cần thiết gì phải phân biệt cái ranh giới không có thực ấy, dù ở phum sóc, làng xã nào thì giọt mồ hôi của ông đổ xuống cũng giúp cho đoạn đường ấy sạch sẽ, khô ráo hơn một chút. Vài hôm trước, có người gặp ông trên con lộ đầy ổ gà bên Long Hiệp, Ngọc Biên, rồi mấy ngày sau lại thấy ông lui cui đào đắp phía Nhị Trường, Phước Hưng... Nhiều gia đình, vì lý do gì đó, chưa kịp đắp sửa đoạn lộ ngập nước trước nhà, sáng ngày thấy ông vác cuốc tới, trong bụng cũng thấy kỳ kỳ, thôi thì rủ nhau ra làm san sẻ gánh nặng và cho công việc thêm vui. Đến nỗi, nghe đâu người dân các xã vùng ruột Trà Cú, Cầu Ngang khi phát hiện có một đoạn lộ hư, một cung đường ngập nước thường tìm gặp ông chớ chẳng mấy ai đi báo cho chính quyền sở tại. Và, chưa bao giờ khi có người gọi đến, dù xa hay gần, dù mùa hè oi ả hay mùa đông lạnh giá, mà ông e dè từ chối.

Khi người con trai lớn lập gia đình, mang cha về chăm sóc, ông càng toàn tâm toàn ý với công việc lặng lẽ của mình hơn. Không chỉ đào đắp, sửa chữa đường, ông còn phát hoang bụi rậm dọc hai bên lề, làm cho những con lộ đất xuyên qua các phum sóc ngày càng sạch sẽ, phong quang hơn. Chuyện làm nhỏ nhưng ý nghĩa lớn. Không lẽ ở tuốt bên Sà Dần, Giồng Tranh, Căn Nom, Chông Bát... ông còn vác cuốc tìm tới mà vũng nước trên lộ ngay trước nhà, mình lại ngồi ngó! Một nhà làm theo ông. Nhiều nhà làm theo ông. Diện mạo phum sóc Con Lọp, rồi lan ra cả xã Tân Hiệp cứ vậy mà khang trang, sạch đẹp dần lên.

Bẵng đi một thời gian, tôi được chính quyền Con Lọp mời về dự lễ công nhận ấp văn hóa. Trong ngày vui của cả phum sóc, tôi dõi mắt khắp gần xa mà không tình thấy một người. Tôi hơi buồn trong bụng vì theo suy nghĩ của mình người có nhiều đóng góp cho sự khang trang của xóm ấp lại bị lãng quên. Có lẽ hiểu được ý tôi, anh cán bộ ấp đi cùng lần trước lên tiếng:

- Ấp có mời nhưng bác Kim Huyên bệnh, không về dự được!

Buổi chiều hôm đó, tôi lại cùng anh cán bộ ấp đến thăm ông. Những con lộ đất ngoằn ngoèo năm trước giờ là những con đường bê tông nhà nước và nhân dân cùng làm. Giao thông nông thôn tại Con Lọp giờ đây xem ra khá hoàn chỉnh rồi thì chắc người dân trong ấp ai cũng vui, nhưng người vui nhất đương nhiên là người “phu lục lộ nhân dân” Kim Huyên.

- Con Lọp có đường đal thì chắc bác Huyên “thất nghiệp”?

- Nhẹ nhàng hơn thì có chớ “thất nghiệp” thì không! - Anh cán bộ ấp khẳng định: Hàng ngày, bác ấy vẫn tay cuốc tay ky đi khắp nơi, đắp từng mớ đất cho chân đường thêm vững, dọn từng bụi cây dại cho lề đường thêm sạch. Bác vẫn rời nhà từ tờ mờ sáng và trở về khi mặt trời chen lặn. Cứ vậy, lặng lẽ, chuyên cần!

Căn chòi rách nát mà tôi từng ghé lại hơn năm về trước bây giờ cũng khang trang, lành lặn hơn nhiều. Ông lão Khmer trước mất tôi giờ gầy guộc hơn, mái tóc cũng trắng hơn và hình như đôi mắt cũng kém cõi hơn nhiều bởi mãi khá lâu sau, ông mới nhận ra người quen cũ. Câu đầu tiên, ông khoe với tôi bà con Khmer Con Lọp có cái bụng lành như đức Phật nên đã dành căn nhà “đại đoàn kết” đầu tiên trong ấp cho một người vô dụng như ông. Tuổi gần tám mươi, lần đầu tiên bước vào ngôi nhà thực sự của chính mình, ông lặng người đọc kinh cầu phúc cho bà con mà không cầm được nước mắt. Những giọt nước mắt vừa mừng cho mình hôm nay vừa giận cho mình ngày xưa nghe lời bọn quỷ dữ cầm súng rượt gà, bắt vịt của bà con. Trong câu chuyện, theo thói quen cố hữu của người ăn lương nhà nước, quen tìm số liệu qua những bản báo cáo, tôi hỏi ông có thử tổng kết trong gần ba mươi năm đã đào được bao nhiêu thước khối, đắp được bao nhiêu thước vuông đường. Ông lão Khmer không nói được tiếng Việt, cả đời chưa đặt chân đến thị xã Trà Vinh ấy chỉ cười và lắc đầu. Gặng mãi, ông trả lời chỉ vào chiếc cuốc mòn treo trên vách: Nó đã thay lưỡi hơn chục lần!

Ngồi trong ngôi nhà vẫn trống trước hụt sau, tôi hiểu được niềm vui của ông. Và một người suốt đời làm báo năm đồng bảy đỗi như tôi thấy mình cần có lời cảm ơn bác, cảm ơn bà con Khmer Con Lọp. Nhờ bác, nhờ bà con mà mãi đến hôm nay tôi mới phân biệt nổi trong ý nghĩa sâu xa, ngôi nhà “đại đoàn kết” khác với ngôi nhà “tình thương” như thế nào!

Thời gian gần đây tôi không có dịp về Con Lọp. Hỏi thăm thì nghe nói người “phu lục lộ nhân dân” ấy đã yếu đi nhiều. Mắt đã kém, tai đã lãng, chân đã run… Ông vẫn thường ngồi trên giường trông chừng đám cháu nội đang tuổi chạy nhảy. Vậy mà, ngày nào thấy khoẻ trong mình, ông lại vác cuốc, quảy ky lên đường./.

Bút ký của Trịnh Thị Phương

--------

(*) Tác phẩm đoạt Giải Nhì cuộc thi Bút ký Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ IV - năm 2010

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác