Người đánh thức kí ức những dòng sông

Ghi chép Trần Thanh Hà

Ở Huế, không mấy người là không biết ông, từ các chính khách, văn nghệ sĩ, trí thức, nhà báo, đến những anh xe ôm, chị vé số, những người thuyền chài lênh đênh trên các sông Huế, những người làm nghề lấy cát sạn…, ai cũng có thể, theo cách của mình, nói vanh vách về ông. Hơn ba mươi năm nay ông lặn lội khắp các hang cùng ngõ hẻm, các miền sông xứ Huế, sưu tầm đồ gốm, nghiên cứu, đọc sách, để… “có ai tới hỏi chi thì nói”. Ông là nhà Huế học “cái chi cũng biết”, như lời của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường: Hồ Tấn Phan.

Chúng tôi dừng hỏi ông trong một quán café, tình cờ nó là một café độc đáo ở Huế, café Cờ, bên vỉa hè đường Chi Lăng dưới chân dốc cầu chợ Đông Ba. Café rẻ bất ngờ, hai nghìn một ly đen đá. Trong khói thuốc dày đặc và những gương mặt lặng lẽ ưu tư bên những bàn cờ, rồi cũng có người ra để hỏi. “Ông Phan hả? Đi tút mút con đường ni, còn đi dài lắm”. Một cái khoát tay. Một cuốc đi dài nữa của chúng tôi đến cuối con đường dẫn tới khu Bãi Dâu cũ sâu dưới Gia Hội. Bấm chuông ở ngôi nhà được chỉ dẫn thì được chỉ qua ngõ bên cạnh, ngôi nhà âm sầm trong vườn cây không tường rào, không cổng, chỉ là lối đi mát mẻ xông mùi đất như những ngõ xóm ngày xưa trước khi dẫn lên những lối lát gạch đưa vào nhà trên, nhà dưới. Trong vườn, bên lối đi, trên hiên nhà, cơ man nào là hũ, bình, chén ấm…, những đồ gốm cổ cái lành cái sứt, mà phần lớn là sứt, để la liệt. Những màu cũ kỹ của gốm, sành, cùng đây đó vài tảng san hô lớn nhìn qua đã biết là hoá thạch của một đời nào đó vô cùng xa xưa, bất chợt bừng lên dưới nắng. Vợ ông, người phụ nữ tóc trắng nền nã rót cho chúng tôi chén nước, hương vị lạ, khi mở nắp ấm trà ra nhìn mãi những bông hoa cánh trắng mà không thể đoán là hoa gì, sau này mới biết là thứ nước uống pha từ hoa chè. Mùi vị này, sự yên ắng của ngôi nhà, vườn cây, đất đai ngoài kia, những đốm nắng nhảy nhót trên lối đi, người đàn bà nền nã đang đi lại đây, mọi thứ thân thuộc và nhẹ nhàng khiến chỉ muốn tựa lưng chợp đi. Đã bao lâu không được bình an thế này?

Ông Phan vồn vã đi ngược từ thành phố về sau khi được người nhà gọi thông báo có khách tìm. Thì ra buổi sáng rỗi việc, ông vừa chạy lên phố, vừa vào ngồi chưa ráo mồ hôi trong văn phòng báo Tuổi Trẻ. Cũng vồn vã, ông mở cho chúng tôi xem tủ đồ bày đầy đồ gốm cổ, rồi dẫn chúng tôi ra sân, ra vườn, tận tình chỉ cho xem những tiêu bản gốm. Nào nồi, bình, vò, chân đèn, ấm, bát, đĩa…, ông giải thích: đây là đồ tiền Sa Huỳnh, đây là đồ Chăm, đây là đồ Việt, đây là đồ Chu Đậu... Té ra, trong khu vườn yên tĩnh của ông là cả một di sản văn hoá, là xao xuyến tâm hồn của mấy nghìn năm, thế hệ này và thế hệ khác, bao nhiêu gửi gắm của con người lưu dấu trong từng thứ đồ được nung nặn từ đất. Hơn 10.000 cổ vật, lành ít bể nhiều, quả là những tiêu bản quý giá cho những người nghiên cứu lịch sử - văn hoá.

Tất cả những đồ vật này, ông Phan nói, đều vớt từ dưới đáy sông Hương và các dòng sông quanh Huế lên.

Nguyên do nào và bằng cách nào để lịch sử vốn đã chìm dưới đáy những dòng sông sâu giờ đây hiển hiện sống động trong khu vườn của ông giáo nghèo về hưu Hồ Tấn Phan?

Ông nói, là cái duyên cho một người mê đọc, mê nghiên cứu như ông. Đó là lần vợ ông đi đỡ đẻ cho một nhà thuyền chài trên sông Hương, lúc mẹ tròn con vuông, nhà chài không biết lấy gì tạ ơn bà đỡ, sẵn có mấy hũ sành vớt từ dưới sông lên, bèn đem tặng. Ngờ đâu mấy món đồ của nhà chài đã đánh thức trong ông giáo Phan nỗi tò mò về những dòng sông Huế. Nước chảy ngàn năm, nhưng dưới những sóng gió tĩnh lặng kia che giấu điều gì! Ông lân la những nhà đò, xin được thì xin, không xin được ông mua những đồ đất nhà chài lượm dưới đáy sông lên. Không bằng lòng với mấy món đồ ít ỏi, ông đi tìm những người lặn vớt phế liệu. Họ lặn dưới sông, lượm đồ sắt đồ nhựa đem bán. Còn đồ đất? Thấy hay mắt giữ cho con nít chơi, sau nhiều quá đem đổ đống bán bên vỉa hè, bán rẻ mà không ai mua. Thì ông Phan mua. Ông mua cả những đồ bể nát mà máy xúc cát sạn đào được dưới những tầng sâu của sông, vào những năm nhu cầu xây dựng hút bao nhiêu người phá vỡ sự bình an của sông nước bằng nghề khai thác cát sạn. Những người thuyền chài, những người lượm phế liệu, dần đã quen mặt ông, hễ lượm được đồ gì là mang đến ông, cái bể cho cái lành bán. Tiếc những di sản văn hoá nếu không sưu tầm, cất giữ, đến một ngày sẽ biệt vô tăm tích, ông Phan dốc hết những đồng lương ít ỏi của một ông giáo tiểu học về hưu để mua hết những đồ gốm có được. Một thời tồng tộc xe đạp, sau này với chiếc xe máy hiệu Cup cũ kỹ, ông lần mò dọc theo những con sông, giật mình nhận ra dưới những lòng sông này là một bảo tàng văn hoá vô cùng giàu có cất giữ di sản của hàng bao nhiêu đời. Đem những thứ lượm vớt dưới sông về trong khu vườn, ông tỉ mẩn đọc, tỉ mẩn so sánh với những tiêu bản từ các cuộc khai quật khảo cổ, càng giật mình hơn khi biết các mẫu vật mà ông có được có tuổi thọ hàng nghìn, hàng trăm năm. Sau này, khi tiếng tăm của ông giáo mê đồ gốm đã loang đi khắp trong Nam ngoài Bắc, thì ngôi nhà của ông thành một địa chỉ lui tới của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, nghệ thuật.

Ông Phan cho biết, đồ gốm dưới các dòng sông Huế có tính liên tục thuộc nhiều niên đại khác nhau, có gốm Đông Sơn, gốm Sa Huỳnh, gốm Chăm, gốm Đại Việt. Riêng gốm Chu Đậu (thế kỷ 13 -17) thì nhiều vô kể, chủng loại, kiểu dáng, hoa văn phong phú hơn gốm Chu Đậu khai quật được trên biển Cù Lao Chàm. Vì sao vậy? Di sản khai quật được trên biển Cù Lao Chàm là từ một mẻ nung để buôn bán, nhưng dưới các sông Huế, là đồ gốm của nhiều đời người Đại Việt đã kế tiếp nhau sử dụng, đã theo con người trên các nẻo lưu lạc, rồi vì một lý do nào đó đã nằm lại dưới lòng sông sâu. Có thể gốm Đông Sơn, gốm Lý - Trần…, theo người Việt nhiều nhất vào thời đi mở nước cùng Huyền Trân Công Chúa. Vô đây đất nước lạ lùng/ Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng run… Lũ lụt, giặc giã, không biết nguyên do nào mà những vật dụng đã gắn bó suốt đời một hôm lìa xa bàn tay người sử dụng! Nhưng giàu có nhất dưới các sông Huế là đồ gốm Chăm. Xứ Huế xa xưa vốn là đất của người Chăm. Người Chăm ra đi đã 700 năm, thì đồ gốm phải có tuồi thọ từ 700 năm trở lên, có cái có niên đại hàng nghìn năm. Tỉ mẩn với các tiêu bản gốm Chăm, ông Phan đã dần đọc được những phong tục tập quán, những cách sinh hoạt, ăn uống, giao tế… của người Chăm trên đồ gốm. Điều đó bổ sung thêm căn cứ cho những nghiên cứu về người Chăm, ngoài những nghiên cứu chủ yếu trên di sản kiến trúc (tháp Chăm) như xưa nay giới nghiên cứu vẫn làm.

Ông Phan hướng dẫn cho chúng tôi xem những đồ gốm Sa Huỳnh (cách đây 2400 - 3000 năm), gồm nhiều nồi, bình… rất đặc trưng. Ông nói ông có nhiều đồ Sa Huỳnh có hình thù và trang trí rất giống đồ Đông Sơn. Con người có mẫu số văn hoá chung, sự giống nhau trên những di sản đó là hiện tượng đồng quy văn hoá, không hẳn vào thời xa xưa đó con người đã có một sự dịch chuyển hay giao lưu. Việc phát hiện nhiều tiêu bản gốm Sa Huỳnh cho thấy xứ Huế cũng là một địa chỉ của văn hoá Sa Huỳnh, nghĩa là văn hoá Sa Huỳnh không phải chỉ tập trung ở miền Nam Trung Bộ như lâu nay vẫn quan niệm.

Tôi hỏi ông Phan, tại sao dọc dải đất miền Trung, chưa từng nghe nói có ai đó phát hiện đồ gốm dưới những lòng sông khác, sông Gianh chẳng hạn, hay sông Thạch Hãn, sông Thu Bồn ở Quảng Nam, sông Ba Phú Yên, v.v…, mà là sông Hương, sông Bồ ở Huế? Ông Phan nói, điều đó chứng tỏ rằng, có lẽ từ trước khi người Việt đến xứ sở này, vào thời của người Chàm, hay xa hơn nữa, Thuận Hoá - Huế đã là một trung tâm văn hoá. Kinh tế - văn hoá phát triển, thông thương nhiều, giao thông đường thuỷ phát triển, đã có nhiều thuyền bè bị chìm dọc đường giao thương, góp vào lòng sông những di sản - im - lặng chờ con người đánh thức, sông đầy thêm bởi những thứ đồ bể do tập quán của dân nơi đây, hễ cái gì bể là liệng xuống sông, lâu dần lòng sông biến thành một thứ bảo tàng vô ý.

Ngoài hàng hiên nhà ông Phan có mấy tảng san hô lớn, màu sắc và dấu vết của hao mòn cho biết nó không phải từ một thời nào gần đây. Nỗi tò mò của chúng tôi lại đánh thức bao nhiêu hiểu biết trong cái đầu nhỏ bé của ông già. San hô này, thiệt tình không ai tin là ở dưới sông Hương. Có ai nói sông có san hô! Nhưng có ai có thể nói, thời nào đó có thể cách chúng ta hàng triệu năm, xứ Huế không nằm trong một vùng biển! Những tảng san hô lớn này, thường chỉ có ở các vùng biển sâu. Nếu biển đã thành sông, thì cũng đã trải bao lấp bồi, sao những dấu tích của nó không phải đã nằm dưới những tầng sâu hơn là một đáy sông? Quả thực, tự nhiên và lịch sử có quá nhiều bí ẩn mà chúng ta dẫu đã cố gắng vô vàn vẫn không thể nào hiểu biết hết.

Quay lại với bộ sưu tập gốm của ông, hỏi ông sao không chơi đồ sứ, đồ men lam? Phải chi ông có nhiều đồ lành, hẳn ông đã có một gia sản khổng lồ về đồ cổ? Ông cười hiền: Nói thực, tui không có nhiều tiền để mua đồ lành. Thà nhịn một thứ đồ lành để mua một đò đồ bể, vì dù là bể thì cũng là tiêu bản quý để nghiên cứu. Còn tại sao không chơi đồ quý tộc? Tui mê đồ đất! Đồ đất gắn bó chặt chẽ với số đông dân chúng, nó gắn bó với cuộc đời con người từ quan hôn tang tế, sinh lão bệnh tử, cho nên hàm chứa lượng thông tin cao. Đồ đất là thứ dùng hàng ngày, mỗi khi tỉ mẩn nung nặn, vẽ, con người đã gửi gắm không phải chỉ những gì họ thấy, họ nghĩ trong hiện tại, mà nó bảo lưu hết tất cả vốn văn hoá của cộng động. Huống chi nữa, khi mình cầm những thứ đồ người ta đã dùng trên tay, là nắm những gì người ta từng thổi linh hồn vào, làm sao không xúc động… Ông nói, ánh mắt sáng lên trên gương mặt đã phôi pha năm tháng.

Nhưng ở Huế, người ta biết ông Hồ Tấn Phan không chỉ bởi công trình sưu tập đồ gốm của ông, mà trước khi say mê với đồ gốm, ông là nhà sưu tập sách nổi tiếng, với những bộ thư tịch cổ hiếm có được Viện Hán - Nôm và nhiều chuyên gia Mỹ, Nhật “chăm sóc”. Ông cũng là một trong những người tổ chức tạp chí Nghiên cứu Huế. Nhưng ông không phải là người dùng tri thức và hiểu biết của mình để thành một người viết nổi tiếng. Ông là một cuốn từ điển, một cái computer, ngôi nhà của ông là một thư viện, một bảo tàng, cho tất cả những ai muốn tra cứu, muốn biết…

Rời nhà ông Phan lên thành phố, ngồi với mấy người bạn nhà báo trong toà báo Tuổi Trẻ, nói những chuyện phiếm về lịch sử, một người lại bấm máy cho ông Phan để xác minh một chi tiết không ai chứng thực. Giọng ông Phan trong máy điện thoại: Chờ chút! Cái đầu tui nhỏ mà chứa nhiều thứ quá, chờ một chút để tui nhớ! Ông nói thế nhưng trả lời ngay, giọng hồ hởi, không cần rõ người gọi hỏi là ai, ở đâu. Hôm nào lại lên café ông Phan? Ờ, hôm nào… ông hẹn, giọng hồ hởi thế nhưng mà không biết hôm nào!

(Văn nghệ Quân đội)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác