Người có “nền tảng” sẽ thận trọng khi đổi mới [Kỳ 2]

 

(Toquoc)- "Việc thay đổi chính mình, thay đổi văn mình, luôn thấy mình đã cũ cũng là công việc của nhà văn. Nếu anh không tự đổi mới thì anh chẳng còn động lực để sáng tác và người đọc cũng sẽ bỏ rơi anh." Xin được tiếp tục cuộc đối thoại phần hai của các nhà văn, nhà thơ khi họ tự đánh giá bản thân và các cây bút trẻ hiện nay.

 Người có “nền tảng” sẽ thận trọng khi đổi mới [Kỳ 2] - ảnh 1
Các nhà văn, nhà thơ từ trái sang phải: Bùi Việt Mỹ, Tạ Văn Sỹ, Vương Trọng, Thái Bá Lợi, Phạm Việt Long



PV: Có bao giờ nhà văn, nhà thơ tự nhận thấy những sáng tác của mình đã cũ kỹ, cần phải thay đổi, làm mới mình?

Nhà thơ Vương Trọng: Về đề tài, thì có đề tài muôn thủa, đề tài thời sự lại bao gồm thời sự ngắn và thời sự dài. Như thời sự chống hạn, chống lụt là thời sự ngắn, về cuộc chiến tranh là thời sự dài. Nhưng thơ hay thì đề tài chỉ là cái bên ngoài thôi mà nó nói về con người. Cái gì nói về số phận con người thì không phụ thuộc vào thời sự.

Còn về hình thức thì theo tôi, từ thể thơ lục bát, thơ có vần, thơ không vần, thơ văn xuôi và cuối cùng là thơ tự do là đã đủ rồi, không cần phải có thêm thể thơ nào nữa, chỉ lo không có cái gì để chứa vào các thể thơ đó.

Tôi tự nhận thấy trong các tác phẩm của mình, có bài được bài không nhưng không bao giờ chạy đua tìm tòi của người khác. Bởi tôi tin tưởng ở bản thân mình có một nền tảng thơ ca mà nền tảng ấy đã được đúc kết và chứng minh giá trị theo thời gian.

Nhà văn Thái Bá Lợi: Lâu lâu tôi cũng đọc lại những gì mình đã viết, có đoạn cũng tự khen mình viết hay, nhưng phần nhiều thấy chán, thấy cũ, có thể sửa tốt hơn. Vậy mới có chuyện tiểu thuyết "Trùng tu" viết xong 1983 đến 2003 mới xuất bản. Việc thay đổi chính mình, thay đổi văn mình, luôn thấy mình đã cũ cũng là công việc của nhà văn. Nếu anh không tự đổi mới thì anh chẳng còn động lực để sáng tác và người đọc cũng sẽ bỏ rơi anh.

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ: Có! Tôi tự thấy rõ mình như thế. Nhưng, như đã nói là “tạng” thì khó mà khác quá! Không được mấy người cố làm mới, làm khác thơ mình mà không nghe có phần ngọng nghịu! Có cảm giác họ đã mất… “bản sắc”!

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ: Tôi nghĩ là khả năng của mình có hạn. Mình muốn hay hơn nữa, muốn nói được nhiều hơn nữa, muốn có nhiều độc giả hơn nữa, nhưng rất khó và khả năng, tài năng có hạn.

Công việc làm báo của tôi (Bùi Việt Mỹ hiện nay là Tổng Biên tập báo Người Hà Nội) hàng ngày đọc rất nhiều bài báo, sáng tác cũng bị chi phối, thậm chí làm cho bị “cùn”, “mòn” thi hứng. Vì báo và văn chương khác nhau, dù rằng báo của tôi là báo văn chương, nhưng đã là báo thì tính thông tấn vẫn nhiều.

Nhà văn Phạm Việt Long: Có, tôi cảm thấy mỗi giai đoạn sống phải có cách viết khác nhau, chứ không thể bằng lòng với một cách viết. Tuy vậy, để thay đổi, làm mới mình là điều khó khăn.

PV: Công việc làm báo như nhà thơ Bùi Việt Mỹ nói thậm chí làm cho thi hứng “cùn”, “mòn”. Nhưng chẳng lẽ công việc làm báo lại chỉ mang đến những điều không thuận lợi cho văn chương mà không giúp ích gì cho ông? Chẳng hạn như khi đọc các sáng tác thơ, truyện ngắn, lý luận phê bình… ông có cơ hội được tiếp cận, được biết thêm văn chương đương đại của nhiều tầng lớp, đối tượng, thế hệ?

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ: À, đúng thế. Tôi cũng thấy có những cái lợi là khiến cho tôi nhận diện các vấn đề sâu hơn. Và cũng có thể như thế khi tôi viết chắc tay hơn, hay hơn.

PV: Nhưng có bao giờ nhà thơ Bùi Việt Mỹ thấy “hoang mang” hơn, chẳng hạn, vì mọi người viết hay hơn, đổi mới hơn so với bản thân và tự hỏi không biết những cái mình viết từ trước đến nay độc giả có thích không? có hiểu được không?

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ: Cũng có thể có. Vì tôi từng chứng kiến, trước một tác phẩm của tôi mà người thì thích, người thì không. Người thích là người già, mà người trẻ lại chưa thích.

PV: Giả sử có độc giả nói rằng, họ không thể đọc tác phẩm của nhà văn, nhà thơ - các sáng tác mấy chục năm về trước thì các ông có buồn không, và nhà văn sẽ trả lời với họ thế nào?

Nhà thơ Vương Trọng: Tôi thực sự không đánh giá cao ý kiến khen chê của các nhà lý luận phê bình. Bởi ý kiến phê bình chỉ là ý kiến đánh giá của một cá nhân và nằm ngoài khách quan.

Tôi trân trọng những độc giả chưa từng biết mặt tôi, nhưng lại nhớ và thuộc thơ tôi.

Nhà văn Thái Bá Lợi: Đánh giá tác phẩm văn học chính xác nhất là thời gian và người đọc. Nhưng có người không đọc mình cũng chẳng có gì phải buồn. Trong gia đình tôi cũng có thành viên không đọc sách của tôi.

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ: Không buồn lắm, vì như tôi đã nói, đó là minh chứng cho cái sự thơ ta đã không còn có ích cho đời! Làm sao tự cho sáng tác của mình là thuộc về mọi thời đại? Có chăng chỉ thuộc về mấy anh hoang tưởng! Tuy nhiên cũng nên vận dụng cái… liệu pháp tinh thần một tí để tự an ủi, rằng “chín người mười ý”, biết đâu chừng, làm sao tất cả đều không còn thích như nhau!

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ: Tôi buồn chứ. Dù sao thì con người chứ có phải vật vô tri vô giác đâu. Hơn nữa, thơ đã không thể đọc được nữa rồi thì gần như nó không còn đường để mà đi nữa. Mà nếu có còn thì cũng chỉ còn ít lối đi. Nhưng may mà tôi thấy nhiều độc giả phản hồi cho tôi là thơ tôi còn “trẻ trung” lắm (Cười).

Nhà văn Phạm Việt Long: Nếu có độc giả nói như vậy, thì tôi cảm thấy buồn, nhưng tôi tôn trọng họ và không tranh luận. Tuy vậy, tôi chưa nhận được những ý kiến như vậy. Ngược lại, tôi rất vui khi đến bây giờ, còn những bạn trẻ đọc được tác phẩm của tôi. Có khi “lang thang” trên Internet bắt gặp một lời nói về tác phẩm của mình từ các diễn đàn tự do (chứ không phải trên báo chí), tôi cảm thấy rất vui. Có bạn trẻ ở Nam Định đã viết trên diễn đàn khen cuốn Bê trọc và giới thiệu cho các bạn khác đọc, đó là điều hạnh phúc đối với tôi.

PV: Nhà văn, nhà thơ có hay đọc những sáng tác mới mang tính cách tân của bạn bè văn chương, họ cùng thế hệ hoặc thế hệ sau? Đánh giá của ông?

Nhà thơ Vương Trọng: Tôi có đọc họ. Đọc để biết. Nhưng như tôi nói là tôi không bị ảnh hưởng từ họ. Còn các thế hệ sau, tôi không ủng hộ những gì gọi là “cách tân” mà tôi không hiểu được.

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ: Có đọc nhiều, có thích và có không thích. Thích cái mới, cái hay, cái “phá cách” mà vẫn giữ được hơi hướm nền nã của thơ ca dân tộc, cái “phông” văn hoá của người có học thức, nhưng không ưa một số “phá phách” thiếu nền tảng căn bản của người có văn hoá, có tư tưởng, chỉ thấy họ như những kẻ “đốt đền”.

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ: Tôi có đọc. Tôi cũng có biết có những người tuyên bố thơ không cần nhiều độc giả. Nhiều khi đó là cái “lỗi uy tín”. Chẳng hạn như tập thơ của Trần Dần hay Lê Đạt hiểu hết được cũng khó lắm. Nhưng mình phải coi đó là tác phẩm rất đáng trọng.

Có lẽ tôi cũng là người mắc cái “lỗi uy tín” đó, tức là nếu nhà văn lớn tuổi cách tân thì tôi rất nể trọng nhưng người trẻ cách tân thì tôi nhìn họ “kỹ lưỡng” hơn và thấy chưa chắc đó là cách tân, thậm chí đó chỉ là sự “hoắng” nào đó thôi. Nếu đọc mãi mà tác phẩm không “đọng” lại. Một tác giả cứ viết, cứ cách tân nhưng đọc xong phải đọng lại, chứ đọc xong mà vĩnh viễn mất đi, không lưu giữ, không muốn đọc lại thì không thể coi đó là cách tân vì tác phẩm chả có tác dụng gì.

Nhà văn Phạm Việt Long: Quả thực, tôi có đọc nhưng ít và không đều. Chính vì không thể đọc nhiều đến mức đủ có chất liệu để đánh giá khái quát cho nên tôi chưa dám nhận định một cách tổng quát như câu hỏi đã nêu. Với người cùng thế hệ, cũng có tác phẩm tôi thấy có sự đổi mới nhưng cũng có tác phẩm tôi thấy sự cách tân không phù hợp, tạo nên sự khó hiểu, khó tiếp nhận. Còn với thế hệ sau, qua một số tác phẩm tôi đã đọc, tôi thấy các bạn viết trẻ có lối viết tự nhiên hơn, góc cạnh và sinh động hơn, nhưng chiều sâu về cuộc sống thì chưa tới.

PV: Những cuộc tranh luận văn chương xảy ra trên văn đàn, theo nhà văn, nhà thơ là tín hiệu vui hay buồn, cần thiết hay bất thường?

Nhà thơ Vương Trọng: Tôi cho rằng, đó là điều bình thường, thời nào cũng có.

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ: Có trao đổi, có tranh luận, có phản biện là vui, là mừng chứ sao không, vì đó là tín hiệu của những cuộc “chuyển mình, chuyển dạ”. Không chuyển mình chuyển dạ thì không hạ sinh được gì. Ví dụ không có những cuộc đăng đàn nảy lửa của những Lưu Trọng Lư, của những Nguyễn Thị Manh Manh, v.v… trong thời “tiền chiến” thì làm sao có “Thơ Mới”?

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ: Tôi cho rằng, các cuộc tranh luận là cần thiết. Chỉ có điều, nếu tác phẩm đó không đọng lại trong tôi thì tôi thấy… buồn cười, tôi cũng không khó chịu.

Tuy nhiên, theo dõi các cuộc tranh luận tôi cũng học hỏi ở họ nhiều, ví dụ như một số cây bút trẻ có cách thể hiện rất thông minh.

Nhà văn Phạm Việt Long: Đó là tín hiệu vui. Một tác phẩm viết ra mà không ai quan tâm, một dòng văn học cứ lặng lẽ chảy trong đời sống, thế thì buồn biết mấy! Có tranh luận thì mới có sức sống cho văn chương…

PV: Theo nhà văn, nhà thơ thì vì sao mà văn chương lại có những cuộc đối thoại và cuối cùng không thể tìm được tiếng nói chung?

Nhà thơ Vương Trọng: Tôi nghĩ chưa hẳn là thơ ca hiện nay có những cuộc đối thoại mà không thể tìm được tiếng nói chung. Nhiều năm làm biên tập thơ tôi thấy, số tác giả làm thơ “lạ lùng”, khó hiểu là rất ít, tôi cho rằng chỉ khoảng hai chục người thôi. Rất nhỏ bé so với những người làm thơ hiện nay. Số đông vẫn làm thơ theo cách truyền thống.

Tôi cho rằng những nhà văn nhà thơ nào đọc kỹ Đông Tây kim cổ, có nền tảng, có vốn văn hoá sẽ thận trọng khi đổi mới, sẽ cân nhắc rất kỹ khi quyết định đổi mới. Còn ngược lại, không có nền tảng thì dễ dàng, ít do dự khi đổi mới. Giống như một cô gái quê ra chốn phồn hoa đô thị, nếu vốn hiểu biết văn hoá ít thì thay đổi nhanh lắm. Còn ai có nền tảng văn hoá, sự giáo dục vững thì khó bị thay đổi.

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ: Chị biết đấy, người ta chẳng phải đã bảo rằng mỗi nhà văn là một ông trời con đó sao! Nhân tiện cho nói thêm một tí: thói đời hay cho người già thường bảo thủ, cực đoan, nhưng tôi thấy trong những cuộc tranh luận vừa qua, người trẻ lại có vẻ… tung tẩy, cực đoan hơn thì phải! Xã hội không kỳ vọng vào thế hệ trẻ thì biết đặt niềm mong mỏi vào đâu? Chúc thơ trẻ vẫn nghiễm nhiên, đàng hoàng tiến bước trong sự dõi theo và ủng hộ của thời đại.

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ: Lý do mà có cuộc tranh luận, theo tôi, một là do sự chủ động của tác giả và một nhóm nào đó muốn giới thiệu tác phẩm mới đến công chúng.

Thứ nữa, đó là phản ứng thật của công chúng. Bên cạnh đấy một bộ phận còn cài “cá nhân” vào. Mặc dù họ cứ rào đón ngay từ những dòng đầu là tôi phải loại cái cá nhân ra, tôi không vì mục đích cá nhân. Nhưng chính bản thân họ nói như thế là cá nhân rồi.

Các cụ có nói núi sông có thể di dời nhưng bản tính con người không thay đổi và nhiều khi cái đấy là một việc rất quan trọng cho sáng tác. Tức là cái định kiến ấy khẳng định đó là họ, họ là như thế. Họ lại rất ghét cái gì đó chung chung mà phải thể hiện đúng bản lĩnh của mình, thể hiện cái riêng của mình. Nhiều khi những tác phẩm giá trị cũng được ra đời từ đó.

Nhà văn Phạm Việt Long: Những cuộc đối thoại trong văn chương là hoạt động bình thường, phải có. Chúng ta đang sống trong một xã hội đang chuyển động mạnh mẽ với nhiều biểu hiện trái chiều thì văn chương cũng đang trên đường vận động, chưa định hình, do đó sự chưa thống nhất trong các cuộc đối thoại cũng là điều dễ hiểu.

PV: Cách tân văn chương như thế nào thì nhà văn, nhà thơ có thể chấp nhận được và như thế nào thì sẽ không chấp nhận được?

Nhà thơ Vương Trọng: Đổi mới là cần thiết. Tôi chỉ chấp nhận những sáng tác đổi mới nào có ích, làm bồi đắp thêm, dày thêm giá trị cho văn chương nghệ thuật chứ tôi không chấp nhận những sáng tác nào mà nhân danh đổi mới phủ nhận sạch trơn giá trị trước đó. Thời gian gần đây cũng có nhiều đổi mới thơ, lạ lùng lắm. Lại được nhiều người tán dương. Theo tôi, những người ấy không hiểu cơ bản cái gốc của thơ nên viết ra không ai hiểu thế nào cả. Họ lại còn bảo thơ của họ không cần nội dung, không cần nhiều người hiểu. Tôi phản bác quan điểm đó. Thơ phải có nội dung. Thơ không có người đọc thể hiện sự bất lực của người làm thơ.

Trong một lần tham dự Hội thảo thơ tại Hải Phòng, tôi có kể chuyện là có một anh bị tâm thần cứ suốt ngày múa may, nói năng lảm nhảm, đi từ đường này ngõ kia. Những người sống quanh đấy họ biết thì cứ mặc kệ và đi qua không ý kiến gì. Nhưng một hôm có người từ nơi khác đến và hỏi người ở đấy: Cái anh kia nói gì? Đấy, đến người tâm thần mà người ta còn muốn biết anh ta nói gì huống hồ là thơ.

Nhà thơ Tạ Văn Sỹ: Theo tôi, người nào có nắm chắc thơ truyền thống thì là có cơ sở, có nền tảng văn hoá nhất định để mặc sức tung tẩy, cách tân, mặc sức “phăn-ta-zi”… mà không sợ chệch choạc. Anh nào “lỏng” cái vốn liếng căn bản ấy thì chỉ là ngẫu phát, khó thành công.

Nhà thơ Bùi Việt Mỹ: Trước đây, ở ta rất thích thơ lục bát và ảnh hưởng thơ Đường luật trong một thời gian rất dài, trong sáng tác cũng như với bạn đọc. Sau này, viết khác đi một chút và mỗi lần khác ấy lại dần được chấp nhận. Như vậy để thấy, sự thay đổi về câu chữ là rất cần thiết, rất nên ủng hộ cách tân nhưng không phải sự tân kỳ. Sự thay đổi về hình thức phải phù hợp với bản chất, với nội dung của bài thơ ấy. Chứ nội dung một đằng mà hình thức một nẻo thì không cần thiết. Tác phẩm cách tân phải cho người đọc thấy được một lối cảm. Mình đọc lần đầu mà thấy chưa cảm được theo cái lối mới, nhưng lại nhận ra, cái sự đổi mới này, nó là phương tiện kích thích cái đầu mình thì đó là sự đổi mới tuyệt vời, nó tránh lối mòn cũ lại hướng cái cảm thụ, tình cảm của tôi đã thay đổi. Sau khi đọc tác phẩm ấy thêm vài lần tôi thấy hay hơn lúc đầu, thấy thích hơn. Nếu mà cứ đọc vài lần chả thấy gì thì chỉ thấy tác phẩm buồn cười và vô bổ, chả cần thiết.

Nhà văn Phạm Việt Long: Tôi nghĩ, cách tân văn chương thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội và đặc tính văn chương của đất nước thì dễ chấp nhận. Tất nhiên có thể học tập bạn bè trên thế giới để làm cho văn chương nước nhà hiện đại hơn, nhưng tránh việc bắt chước, rập khuôn, thấy bạn bè viết kiểu gì thì lại gò mình theo kiểu ấy. Nếu như cách tân” theo kiểu hình thức chủ nghĩa, tạo ra những tác phẩm xa lạ với đời sống xã hội cũng như đời sống văn chương của nước nhà thì tôi khó chấp nhận.

PV: Thế theo nhà thơ Vương Trọng, vì sao những kiểu thơ cách tân “lạ lùng” như thế luôn xuất hiện và nhận được ủng hộ?

Nhà thơ Vương Trọng: Chị là người trẻ, và tôi đang định hỏi chị điều đó. Nhưng tôi thấy một thực tế thế này, giả sử một ai đó cứ viết thơ như thế nào, khi đưa lên mạng thăm dò thì cũng sẽ thấy có người hùa theo. Và đó là chuyện bình thường.

Ở lĩnh vực nào cũng thế, để nổi tiếng bằng năng lực thì khó chứ nổi tiếng kiểu “đốt đền” thì dễ. Có một nguyên tắc là cái gì có ích sẽ tồn tại, cái gì không có ích sẽ bị quay lưng lại.

Tôi vẫn cho rằng, những người làm thơ “lạ lùng” là do họ bất lực với thơ truyền thống, không thể làm cho hay hơn trước đây, khó nổi tiếng.

* Xin cảm ơn các nhà văn nhà thơ đã dành cho báo điện tử Tổ Quốc một cuộc đối thoại thẳng thắn và thú vị!

Hiền Nguyễn (thực hiện)

>>> Các thế hệ nhà văn có “đối thoại” được với nhau không? [Kỳ 1]

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác