Ngoại ô Hà Nội trước năm 1945 (*)

Ngày ngày dòng người xe cứ kiên trì nối nhau triền miên không ngừng trên những con đường, khu phố sầm uất Đại Cồ Việt, Bạch Mai. Trong dòng người ngược xuôi đông đúc ấy, liệu có mấy người tự hỏi: Ngày xưa, nơi đây như thế nào nhỉ?

Ngoại ô Hà Nội trước năm 1945 (*) - ảnh 1
Hà Nội qua tranh của Bùi Xuân Phái
(ảnh: Internet)
Có lẽ những lớp người thế hệ 6X về sau, khó mà trả lời được câu hỏi ấy- nếu chưa đọc hai tiểu thuyết Ngoại ôNgõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp. Có thể gọi đây là một bộ tiểu thuyết liên hoàn gồm hai tập. Ngoại ô chủ yếu xoay quanh gia đình bác Vuông bán dầy giò, Ngõ hẻm chủ yếu là câu chuyện gia đình Nhớn (con rể bác Vuông) làm đồ tể. Trước ngưỡng cửa một nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, chúng ta hãy trở về với ký ức vùng Bạch Mai, Ô Cầu Dền qua những trang viết của một nhà văn Hà Nội đã từng sinh ra và lớn lên tại đây và đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

Trước Cách mạng Tháng Tám, phố Bạch Mai là vùng ngoại ô ẩm thấp lầy lội trong những ngày mưa gió. Chỉ sau một trận mưa là “Phố ô lầy lội gớm chết. Mặt đường lõng bõng những nước, một thứ nước sánh đặc như bùn”. Nếu mưa kéo dài vài ngày thì “từ bên này hè nhà hàng phố sang bên kia hè, nước mênh mông như một con sông rộng”. Mùa hè, trời nắng gay gắt như đổ lửa thì đường phố bụi ngập mắt cá, trông trắng xoá tựa hồ một bãi cát nóng. Rất nhiều ngày những đoàn xe cam nhông chất đầy xác người chết vì dịch bệnh vụt qua, “bụi của đường phố bay lên dầy đặc như một lớp sương mù buổi sớm”.

Vùng ngoại ô ấy là nơi ngự trị của vài trăm nóc nhà tranh chen chúc bên những ao bèo tụ đọng, những hố nước đen ngòm. Tất cả đều giống nhau ở chỗ tạm bợ, chật chội và rách nát. Đây là nhà bác Phở Mỗ- gian thứ năm trong “dãy nhà lá lụp xụp… nhìn thẳng ra một cái ao bèo”. Gọi là nhà nhưng thực chất đó chỉ là những lán tạm, mỗi gian được ngăn cách bởi những tấm vách liếp mỏng manh. Không cần sang nhà nhau chơi, mọi người vẫn có thể nói chuyện với nhà bên kia một cách dễ dàng. Gia đình bác Vuông có sáu người chui rúc trong cái nhà lá rất thấp, rất hẹp, “tựa hồ một cái nón úp xuống mặt đất” trong xóm hàng Mã, lưng tựa bờ hồ Bô - một cái hồ rộng nhưng nông choèn choèn, quanh năm đen sì, ngầu những váng và một mùi hôi thối. Ấy thế mà căn nhà lại còn chia cho ba gia đình ở: vợ chồng bác Vuông, bác bán thịt trâu, bác Mão cũng làm nghề giò chả. Mỗi khi mưa xuống thì phố ngập, nhà nhà bị ngập. “Nhà bác Vuông cũng bị ngập”… Con người sẻ chia với đủ loại cóc nhái, sâu đất, giun, gián và muỗi những khoảng không chật chội. Sau này Khuyên và Nhớn - con gái, con rể bác Vuông cũng sống trong căn nhà lá nhỏ hẹp “ánh sáng yếu đuối quá, âm u quá…”.

Đó là không gian sinh tồn của biết bao hạng người lao động từ bán hàng cơm, buôn thúng bán mẹt, làm hàng phở gánh, hàng giò, bán quà rong, bán hàng nước, hàng rau, hàng thịt, mổ lợn thuê, đến đạp xích lô, đẩy xe bò, thầy lang, thợ nhà máy, thậm chí trộm cắp, lưu manh, đâm thuê chém mướn, gác sòng bạc… Họ sống mòn mỏi, bấp bênh trong thế giới tăm tối, bùn lầy nước đọng dành riêng cho người nghèo bên cạnh Hà thành hoa lệ. Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Đình Lạp, chúng ta biết có một ngoại ô không ngủ. Khoảng đêm khuya gần sáng thì ngay cổng Vạn Thái tiếng rao vẫn cất lên inh ỏi: Phở… ơ!... Cháo gà!... Cà phê ô lê!... Sa, lục tào sa!... Giò bánh dầy!... Y!... Tiếng rao làm vang động cả một góc phố. Phố xá mỗi lúc một huyên náo hơn, tấp nập hơn. “Trời còn lâu mới sáng hẳn. Nhưng bọn người cần lao đã tề tựu đủ mặt cả rồi. Dẫu chưa có khách mua nhưng họ phải đến sớm để chiếm lấy một chỗ dọn hàng”. Trong đám đông cần lao ấy khổ nhất có lẽ những người làm hàng giò chả, bánh dày như gia đình bác Vuông. Họ phải thức khuya, dậy sớm, giã giò, làm bánh mà cuộc sống thật “điêu đứng, rõ thật khốn khổ”. Sự cùng quẫn, nỗi hoảng loạn luôn đeo bám, ăn sâu vào tiềm thức con người. Những giấc mơ của các nhân vật chính thường là những cơn ác mộng hãi hùng- kết tinh của những đau khổ dồn đuổi tác động vào cõi tâm linh mà con người không kiểm soát được… Trong mơ bác Vuông bị một người gày đét như bộ xương mắng và “bóp chặt lấy cổ bác”. Dường như bàn tay thần chết đã chạm vào bác nhưng rồi lại buông tay để bác lại trên cõi đời trong sự điên loạn ở nhà thương Vôi. Những giấc mơ đầy chết chóc, máu me ghê gớm cứ trở đi, trở lại mỗi khi bác ngủ. Cơn ác mộng của Nhớn cũng đầy ấn tượng. “Đàn chuột xúm xít đầy trên giường. Chúng cắn tai, cắn mũi, cắn ngón tay, ngón chân, rứt ra từng mảng tóc Nhớn (…), đục ra một lỗ sâu rồi chui thỏm ngay vào trong bụng. Một làn máu đỏ trào ra, ồng ộc toé xuống chiếu…

Công việc đã vất vả lại thêm bấp bênh bởi những luật lệ hà khắc, vô lí. Lệnh quan đốc lý cấm các hàng giò chả ngoại ô không được vào thành phố bán, lệnh đuổi các hàng rong xuống chợ gây ra đợt sóng mạnh mẽ cuốn đi nốt chút bình an trong cuộc sống những con người dưới đáy Hà Nội.

Cuộc mưu sinh là vấn đề tối quan trọng của mỗi người dân nghèo ngoại ô. Họ luôn gắng gượng, nỗ lực bươn trải nhưng vẫn không thể “thoát khỏi con đường lầy lội của cái nghèo”. Dù có cần mẫn ngày đêm, ngược xuôi vất vả nhưng cuộc sống những con người nơi đây vẫn quanh năm túng thiếu, đầy khổ đau, bất hạnh. Cái nghèo cứ đeo bám, truyền từ đời này sang đời khác như gia đình bác Vuông: “Cha mẹ bác nghèo lắm, nghèo một cách cơ cực là nghèo”. Tất cả gia tài của cha mẹ bác đã để lại cho ba chị em bác là cái đèn chai. Cháy lòng họ là câu hỏi buông ra không có lời giải đáp: “Bao giờ trời mới mở mày, mở mặt cho mình?” Nỗi uất hận khổ đau làm đổ vỡ cả niềm tin vào thánh thần. Bác Vuông oán giận cả ba bậc thánh hộ mệnh của mình: “Ha ha… Láo, láo cả. Chúng mày nếu có linh thiêng thì đã chả làm tao khổ thế này!”. Còn gì đáng thương và còn gì đáng sợ hơn khi con người không còn niềm tin, hi vọng. Nỗi đau cực điểm đã huỷ diệt trí tuệ, đưa con người vào cõi điên loạn.

Tiểu thuyết Ngoại ô khép lại với câu nói của Huệ: “Cũng một kiếp người”. Và có lẽ đó chính là tình cảm xót thương trĩu nặng mà Nguyễn Đình Lạp dành cho tất cả những người dân nghèo của khu vực ngoại ô, ngõ hẻm Hà Nội. Kết thúc tác phẩm Ngõ hẻm, Nhớn “mơ hồ thấy cái cảnh yên vui của gia đình hắn mong manh và bất trắc lắm”.

Ngoại ô Hà Nội trước năm 1945 (*) - ảnh 2
Một con phố ở Hà Nội (ảnh: Internet)

Bên cạnh những trang viết cảm động về cuộc sống cùng quẫn của dân nghèo, người đọc tìm thấy trong hai tiểu thuyết Ngoại ô, Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp những trang viết sắc sảo về những nét sinh hoạt phong tục, tập quán, tín ngưỡng ăn sâu trong mỗi gia đình, mỗi con người ở xóm lao động nghèo ven đô vùng Bạch Mai, Vạn Thái, Ô Cầu Dền. Những phong tục tập quán mang trong nó cả mặt tích cực cũng như tiêu cực của lề thói cổ truyền.

Gắn với nghề nghiệp của gia đình bác Vuông là nghệ thuật giã giò, giã nếp làm bánh giầy, gói bánh chưng.

Ngòi bút của Nguyễn Đình Lạp cũng tái hiện rất tự nhiên và chân thật những truyền thống đạo lý tốt đẹp của con người Việt Nam từ ngàn xưa. Chẳng hạn tình cảm vợ chồng, tình cha con, tình mẫu tử, tình bạn bè khăng khít, tình yêu mộc mạc, chân thành, tình làng nghĩa xóm tắt lửa tối đèn có nhau. Chìm trong cuộc sống tăm tối, ngập trong bùn lầy nhưng con người vùng ngoại ô, ngõ hẻm vẫn toả sáng tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau khiến người ta cảm động. Họ luôn sẵn lòng giúp nhau trong lao động (bạn bè như Nhớn, Sẹo, bác thịt trâu xúm vào làm giúp bác Vuông), khi túng thiếu (bác Vuông cho cô đầu Huệ vay tiền mua thuốc), lúc khó khăn, hoạn nạn (Bưởi, Sẹo, Tin, bà Toan, ông Ất giúp khi con Khuyên ốm), thậm chí còn hi sinh vì nhau (ông Ất nhận tội giết người thay Khuyên). Độc giả đặc biệt xúc động trước tình bạn của vợ chồng Nhớn và vợ chồng Sẹo. Một tình bạn “đã thắt chặt bằng nước mắt, bằng máu đào…”. Tinh thần tương thân tương ái - nét đẹp trong đạo lí dân tộc đi vào cuộc sống nơi đây thật giản dị, tự nhiên: “Ồ! Chỗ bạn nghèo với nhau thì mình phải cưu mang nhau trong những cơn hoạn nạn chứ!”.

Mặt khác, nhà văn cũng ghi lại những hạn chế của thói tục. Chẳng hạn quan niệm hôn nhân truyền thống theo tinh thần Nho giáo cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Bác Vuông ép gả con gái cho Pháo- Một anh chàng quá xấu “khuôn mặt rỗ nhằng nhịt, cặp mắt lờ đờ hầu như chỉ có lòng trắng, cái dáng điệu chậm chạp và vụng về…” vì tình bạn với bác Mỗ. Hoặc những hủ tục, nếp nghĩ lạc hậu mang tư tưởng trọng nam khinh nữ dẫn tới nạn đa thê. Trong đời sống tinh thần của nhiều gia đình, sinh con trai là vấn đề vô cùng hệ trọng. Phụ nữ ngày nay có lẽ vẫn khó có thể hiểu vì sao biết bao người vợ xưa phải chôn chạy đáo tìm vợ lẽ cho chồng như bác Vuông gái. Điều quan trọng nhất là để cho chồng “kiếm được đứa con trai”, sau nữa là thêm người làm vì “nuôi người ở thì vừa mất tiền công, vừa không được chắc chắn”.

Nguyễn Đình Lạp cũng tỏ ra rất am hiểu tâm lý, tín ngưỡng của những người dân nghèo. Có lẽ những năm tháng sống ở xóm Cầu Tre, gần chùa Liên Phái, đình Tô Hoàng giúp ngòi bút Nguyễn Đình Lạp thể hiện một sự am hiểu sâu sắc qua những trang miêu tả hết sức sống động sự sùng tín của người dân nơi đây. Làm ăn thua lỗ- cúng. Ốm đau vì dịch bệnh- cúng. Bị oan ức- cúng. Thất tình- cúng. Không phải chỉ một vài nhà mà có khi cả một làng, một phố.

Có những nhà văn cúi mình xuống, ban ơn chút tình thương hại cho những kẻ bần cùng. Đôi khi ta bắt gặp trong tác phẩm Tôi kéo xe một tia nhìn khinh bạc qua lời tự trách của chính Tam Lang: “Quân cu li, cu leo ấy! Nói làm gì… Ngài với tôi, ta cùng khinh bỉ họ, khinh bỉ những thằng mình ngồi cho chúng nó kéo…” Với cái nhìn nghiệt ngã về cuộc đời, Vũ Trọng Phụng đã tổng kết khái quát: “Loài người chỉ là một lũ ăn cắp và hiếp dâm” (Giông tố) còn Nguyễn Đình Lạp có cái nhìn trân trọng đối với dân nghèo. Ông ca ngợi tình mẫu tử, tình cảm vợ chồng thuỷ chung, tình yêu tự do, nghĩa cử cao đẹp của những người cùng khổ. Khó tin và xúc động nhất là hành động ông Ất nhận tội giết người thay cho Khuyên. Nguyễn Đình Lạp gọi nhân vật của mình là “một vị anh hùng đã hi sinh cả đời mình để giữ cho một gia đình khỏi đổ nát”.

Như vậy xuyên suốt hai tiểu thuyết Ngoại ôNgõ hẻm là hiện thực cuộc sống của những người dân nghèo thành thị và tình cảm nhân đạo nhà văn dành cho họ. Với Ngoại ô Ngõ hẻm, chúng ta hoàn toàn có thể gọi Nguyễn Đình Lạp là “Nhà văn của dân nghèo ngoại ô Hà Nội”. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, Hà Nội đã đổi thay rất nhiều. Những khu nhà ổ chuột, những ngõ hẻm đã được thay thế bởi những khu phố sầm uất, những toà nhà cao tầng, sang trọng, cuộc sống người dân dễ thở hơn nhưng những vấn đề Nguyễn Đình Lạp đặt ra trong tác phẩm vẫn còn mang tính thời sự. Trong những ngày mưa to, dài ngày, Hà Nội mùa này phố cũng như sông. Cuộc sống mưu sinh để con cái được học hành đầy đủ vẫn là gánh nặng quá lớn đối với những người dân nghèo thành thị. Cho đến tận bây giờ tâm lí thích sinh con trai, tập tục mê tín dị đoan đâu phải đã chấm dứt. Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Lạp đem đến một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về một Hà Nội của Ngoại ôNgõ hẻm, khác Hà Nội ba sáu phố phường trước Cách mạng, đồng thời khơi gợi trong người đọc khát vọng làm gì cho Hà Nội hôm nay!.

Nguyễn Thị Tố Nga

(Văn nghệ)

Nhà văn Nguyễn Đình Lạp (bút danh cũng là tên họ khai sinh) sinh ngày 19-9-1913, quê gốc phố Bạch Mai, Hà Nội.

Xuất thân từ một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng (ông nội là chiến sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục, chú ruột là Nguyễn Phong Sắc, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương), Nguyễn Đình Lạp sớm viết báo từ năm 1937, viết phóng sự cho nhiều báo ở Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Đoàn Văn nghệ Nam Tiến, vào bộ đội chiến đấu rồi được điều động làm công tác văn nghệ trong lòng Hà Nội tạm chiến, sau đó sang Ty Công an Hà Nội rồi mất ngày 24-4-1952 tại Thanh Hoá.

Những tác phẩm chính: phóng sự Thanh niên truỵ lạc (1937); Chợ phiên đi tới đâu? (1937); Những vụ án tình (1938); Cường hào (1938); Hai tiểu thuyết Ngoại ô (1941) và Ngõ hẻm (1943).

-----------------

(*) Qua tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Đình Lạp

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác