"Nghĩ đến Đoàn Văn Cừ là tôi lại nghĩ đến Tết..." (*)

(Toquoc)- Ngày còn sống, nhà thơ Đoàn Văn Cừ từng nói với chính mình bằng hai câu thơ: “Trong thơ góp một đường cày. / Nước non gieo hạt mong ngày nở hoa. “

Và theo như chính những gì “Cư sĩ Nam Hà” (Bút danh nhà thơ Đoàn Văn Cừ) ngày còn sống thì: “Trước cách mạng, tôi làm thơ nhằm mục đích tìm hiểu phong tục, tập quán, đời sống người nông dân lao động thời Pháp thuộc còn mang đậm dấu vết sinh hoạt người Việt cổ. Sau Cách mạng, có hoài bão xây dựng trên trang thơ mô hình một làng quê Việt Nam kiểu mới, văn minh, giàu đẹp, hiện đại…

Đoàn Văn Cừ sở trường về lối thơ miêu tả hiện thực mang đậm phong vị làng quê và lễ tết Việt Nam như Đám cưới mùa xuân, Đám hội, Đường về quê mẹ, Trăng hè...: tả cảnh, tả chân kết hợp suy tư, tưởng tượng, lãng mạn. Một lối thơ nhiều màu sắc, hình ảnh, hình tượng, nang các tính chất dân tộc và hiện đại, hiện thực và lãng mạn, bình dân và trí tuệ, phổ cập và nâng cao.

“Những bức tranh trong thơ Đoàn Văn Cừ không phải chỉ đơn sơ vài nét như những bức tranh xưa của Á Đông. Bức tranh nào cũng đầy dẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tươi vui. Mỗi bức tranh là một thế giới linh hoạt. Người xem tranh hoa mắt vì những nét những màu hình như rối rít cả lại; nhưng nhìn kỹ thì màu nào nét nào cũng ngộ nghĩnh vui vui.” (Hoài Thanh). Hơn thế nữa Đoàn Văn Cừ còn được xem là người là thi sĩ duy nhất ghi lại được hình ảnh một thời xưa của những phiên chợ Tết....

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,

Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh,

Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,

Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.

(Chợ Tết)

Ngày xuân trẻ bức tranh gà,

Cụ già quần nhiễu đỏ lòa sang nhau .

Đàn ông khăn nhiễu đội đầu,

Đôi giày da láng, khăn trầu đỏ loe…

(Chơi xuân)

Những vần thơ đầy màu sắc với những hoạt động sống động lắng sâu vào một cái tôi riêng nhưng lại tạo nên sự khác biệt với hầu hết thơ của nhiều tác giả trong phong trào thơ mới trước năm 1945. Xu hướng thơ Đoàn Văn Cừ giống một số thi sĩ cùng thời như Anh Thơ, Bàng Bá Lân và đặc biệt là Nguyễn Bính luôn hướng con người về với làng quê, với những vui buồn xen kẽ.

Trong những vần thơ mượt mà hướng về số đông ấy thơ Đoàn Văn Cừ ấm áp nhưng không phải không có cái ồn ào. Và một điều đáng trân trọng trong thơ Tết của Đoàn Văn Cừ là thông qua các biểu tượng cho những hoạt cảnh rộng lớn người ta có thể tìm gặp bằng cái nhìn khách quan, có thể đã được thu hẹp trong khung cảnh chật hẹp của gia đình. Tuy nhiên qua đó ông đã ký thác rất nhiều tâm tình:

Trời lất phất mưa sa

Giờ lâu tràng pháo chuột,

Đì đẹt nổ trên hè,

Con gà mào đỏ chót,

Sợ hãi chạy le te

Cây nêu trồng ngoài ngõ,

Soi bóng dưới lòng ao

Chùm khánh sành gặp gió,

Kêu lính kính trên cao

Từ khi ông tôi mất,

Bà tôi đã qua đời,

Tôi mỗi ngày mỗi lớn,

Nên chẳng thấy gì vui

Hay:

Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha

Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết

Con gà sống mào tham như cục tiết…

Thúng cắp ngang hông nón đội đầu

Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu

Trông u như thể thời con gái

Mắt sáng môi hồng má đỏ âu

Những thần sắc của Tết làng quê Việt Nam đã được ông phác họa có điểm nhấn vào bức tranh Tết mà chỉ một năm mới có một lần. “Và với những phiên chợ Tết trong thơ Đoàn văn Cừ, bức tranh quê Việt Nam trong lâu dài và chu chuyển của lịch sử bỗng trở lên vĩnh viễn” (Phong Lê)

Đọc thơ Đoàn Văn Cừ, nhất là những bài về Tết ai cũng nao nao nhớ đến ngày thơ ấu đang còn bám áo mẹ theo đi cả buổi chợ xuân để vòi vĩnh hết cái này đến cái khác. Thế nhưng đồng hành với nỗi nhớ tuổi thơ là những tiết tấu trầm buồn nhen lên trong tâm khảm mỗi người về thời dĩ vãng đã xa thấy ngày vui và cuộc vui ngắn quá.

Người đi xem nhiều bọn đã ra về

Trên đường vắng lá đề rơi lác đác

Ốc xa rúc từng hồi trong xóm mạc...

Thậm chí buồn đến nỗi:

Đời như mặt nước ao tù lắng

Gió lạ không hề thổi gợn tăm.

Không chỉ có những nỗi buồn “co cụm” trong một chừng mục nhất định mà những nỗi buồn trong thơ Đoàn Văn Cừ còn thậm chí kéo dài sang tận giêng, hai:

Người đi xem nhiều bọn đã ra về

Trên đường vắng lá đề rơi lác đác

Ốc xa rúc từng hồi trong xóm mạc...

Tuy nhiên cái buồn ấy trong thơ ông chẳng qua là do hồn thơ ông không khí hậu thời đại, của thời thế và của cả dân tộc những năm trước Cách mạng.

Thơ xuân của Đoàn Văn Cừ thực sự “bừng vui nhất” là vào thời kỳ sau khi đất nước giải phóng mà tiêu biểu là bài “Lá thư xuân”:

Thôn Vân yêu quý muôn đời,

Trong quân cờ lại gặp người năm nao.

Vẫn đôi mắt luyến trăng sao,

Bồ quân làn má, anh đào nét môi.

Hay trong bài “Màu hoa cà tím”:

Mưa phùn cà trổ đầy hoa,

Giêng hai, nắng ấm đã ra quả rồi.

Tương cà quen vị hôm mai,

Bữa cơm quê vẫn đợi mời người thân.

Ngai vàng bệ ngọc phù vân,

Văn chương trung hiếu, ngàn xuân vẫn còn.

Đọc những vần thơ này chợt lòng khách thơ nhớ đến Nguyễn Trãi với câu: "Cơm ăn chẳng quản dưa muối, áo mặc nài chi gấm là" hay “Ái ư vằng vặc: “trăng in nước, danh lợi lâng lâng: gió thổi hoa" của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Đoàn Văn Cừ từng viết trong Sách ước của mình:

Ước gì có phép tiên

Con người sống tuổi hoa hiên hai lần.

Yêu thơ, yêu nước, yêu đời mãi,

Bắt trái tim xuân chẳng được già.

Tuy nhiên, thi sĩ thôn quê hiền hậu tài ba này đã về với cõi vĩnh hằng nhưng những thi phẩm “Thôn quê” 1 - 2, "Việt Nam huy hoàng", "Trần Hưng Đạo anh hùng dân tộc", “Dọc đường xuân”, “Đường về quê mẹ”, “Tuyển tập Đoàn Văn Cừ”...viết theo bút pháp tả thực, sâu đẫm hồn quê tạo được sắc riêng không dễ mấy ai đã có thể đi vào. Và như thế tết Việt mãi đằm lại trong thơ Đoàn Văn Cừ như những mùa xuân vĩnh cửu.

 

YÊN KHƯƠNG

 

---------

(*) Câu của Hoài Thanh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác