Một khúc sông quê

(Toquoc)- Nếu coi xứ sở mà ta sinh ra rồi lớn lên giống như một cơ thể người thì nơi con sông chảy qua chính là động mạch chủ, phần nhậy cảm nhất trên cơ thể ấy. Với tôi, đó là dòng sông Lô nhẹ trôi qua giữa hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ.

Con sông như dải lụa mềm, vừa thắt chặt mối tình Vĩnh - Phú, lại vừa như rẽ tách ra sự cách biệt Đông Tây. Thiên nhiên vốn dĩ vô tình mà lòng người thì luôn nức nở những buồn vui. Giống như mọi dòng sông khác, sông Lô cũng không khỏi se sắt những lở bồi và mang mang nỗi buồn năm tháng. Nào chỉ riêng tôi mà những ai đã từng tắm mát trên khúc sông này hẳn không nguôi thương nhớ về một miền quê xa vắng, đẹp lộng lẫy một nỗi buồn hoài niệm khi đứng nhìn dòng sông trôi về phía chân trời mờ mịt tràng giang. “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” - (Huy Cận) là thế chăng? Nói đến sông, ông Tú đất Vị Xuyên từng nuốt vào lòng tiếng cười trào lộng khi đứng trước cảnh “Sông kia rày đã nên đồng”. Và cái “Giật mình” của ông Tú thi sĩ khi thấy con sông đã bị lấp vùi cách nay hơn thế kỷ còn vang vọng mãi vào thời gian và không gian cho đến tận bây giờ.

Nhưng tôi đang nói về con Sông Lô quê với cái tên dân dã mà ta quen gọi. Theo sách Kiến văn tiểu lục của học giả Lê Quý Đôn, con sông này có tên chữ là Mã Giang, phát nguyên từ Trung Quốc.
Một khúc sông quê - ảnh 1
Sông Lô - Hà Giang
Đoạn sông bên ấy, người Trung Quốc gọi là Bàn Long Giang. Nếu tính từ xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, nơi Sông Lô chảy vào nước ta cho đến ngã ba Hạc thuộc thành phố Việt Trì trên đoạn đường 274 km, kết thúc một đời sông miên man tần tảo thì đoạn từ Đoan Hùng trở xuống là thơ mộng nhất, nó bỏ lại phía sau những thác ghềnh chật chội để mà ung dung hòa nhập. Trên khúc đoạn này, Lô Giang trở thành con sông của thi ca, từng ẩn chứa biết bao huyền thoại cùng với những âm vang của chiến công. Lòng sông mở rộng, bốn mùa xanh biếc ngô khoai hai bên bờ bãi, ôm lấy dòng nước biếc quanh năm lững lờ xuôi chảy. Dẫu là đất trung du, bóng người thưa vắng, nhưng không chút tàn phai. Không thấy đâu cái “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” như trong khúc ngâm Chinh phụ. Đứng bên tả ngạn lúc chiều tà, nhìn những cánh hoa gạo tháng ba tơi tả, tôi thấy mình như đứa trẻ đang đuổi bắt tuổi thơ khi cùng lũ bạn chăn trâu lặn hụp, mò trai bắt cá, hoặc hét hò chạy theo con tàu thủy đen sì của ông Bạch Thái Bưởi từ đầu thế kỷ trước ì ầm phụt khói rẽ nước chạy ngược cho đến khi khuất hẳn. Hoặc ngồi ngắm hoàng hôn nhuộm vàng lên những bờ bãi phía bên kia. Ở đó là làng Soi Rạng thuộc xã Vĩnh Phú, huyện Phù Ninh. À, thì ra cái tên Vĩnh Phú không phải đến năm 1968 mới có sau khi sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, mà có cách đây hơn nửa thế kỷ, sau khi làng Soi Rạng của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nhập vào làng Chanh của huyện Phù Ninh để thành cái tên xã Vĩnh Phú. Vĩnh Phúc và Phú Thọ đã tái lập tỉnh sau hơn mười năm. Nhưng Vĩnh Phú xã thì sẽ còn mãi với thời gian, với lòng người chung thủy, ấy cũng bởi tại sự biến thiên “Thương hải tang điền” mà người bên Vĩnh Phúc trở thành công dân Phú Thọ. Chẳng là mấy trăm năm về trước, dòng Lô ưu ái với thiên chức lở bồi đã ban cho cư dân bên tả ngạn một doi đất mỡ màu phù sa, trông giống như một con rồng đang bơi ngược. Người dân làng tôi bảo nhau lội ra cày cuốc trồng bí trồng ngô rồi lập thành thôn xóm. Lúc đầu có tên là thôn Soi Rạng, vì liên tưởng đến cái ánh sáng rạng rỡ của mặt trời vào lúc bình minh trên sông nước mỗi khi nhìn về làng chính bên kia. Lại còn một cái tên Long Châu là để nhắc nhau, mình được sống trên thân một con rồng đang nhả ngọc. Người Long Châu, người Soi Rạng không có lấy một thước vuông đất để cắm cây lúa nước. Họ sống bằng ngô vàng, bằng bí đỏ cho đến khi có thóc gạo bán ở thị trường, và bí, ngô bắt đầu có giá. ấy vậy mà trai gái thôn Soi Rạng người nào cũng thông minh khỏe mạnh, ngực nở, má hồng… Người thôn Rạng đi làm ăn khắp nơi, có người làm tướng, có người là ủy viên trung ương, bí thư tỉnh ủy, cử nhân tiến sĩ cũng không phải là hiếm. Từ khi sáp nhập với làng Chanh để thành xã Vĩnh Phú, tuy cùng một đơn vị hành chính cơ sở, nhưng hai làng cách nhau một con đê và một cây cầu qua sông Cái, vốn là dòng chính của sông Lô thu hẹp lại, như có sức mạnh thần kỳ nào đã kéo cái làng nhỏ bé ấy cho gần với núi thiêng Nghĩa Lĩnh, đất Tổ Vua Hùng. Đoạn sông hẹp bên kia cứ theo năm tháng mà rộng mãi ra. Con thuyền nan hai cắng thay chiếc cầu dải yếm cho những đôi trai gái gặp nhau cũng hóa thành diệu vợi.

Từ Soi Rạng trở xuống cho đến chỗ dòng trong dòng đục hòa vào nhau của hai con sông, kéo dài mũi đất đỏ au như gót chân tiên nữ vừa đặt xuống, nay thuộc phường Bến Gót của thành phố Việt Trì, chỉ vài thôi chèo của chuyến đò dọc. Qua Đức Bác, quê hương của anh hùng liệt sĩ Trần Cừ, nơi có đình Hát Đúm, hàng năm mở hội trống quân. Trai làng Đức Liệp, đeo trống ngang bụng vừa đánh trống vừa dắt tay các cô gái bên Phù Ninh trên đò cập bến, bước lên bờ sang hát xoan hát ghẹo. Tiếng trống chia đều nhịp bước của các ca nương vừa đi vừa hát nên mới gọi là trống quân vì thế.

Qua Đức Bác là đến Sơn Đông, quê hương của 12 vị tiến sĩ thời Lê Mạc. Sơn Đông, cái làng nằm kề bốt Toa Đen thời kháng chiến chín năm, không biết đã mấy lần giặc dùng cả thủy, lục, không quân mở những trận càn quét lớn để lập tề mà không nổi. Từ thời các vua Hùng đã có một vị lạc hầu lạc tướng nào đó về đây dạy dân làm nghề gốm. Tên nghề rồi thành tên làng. Vào thế kỷ thứ 13, thầy giáo Đỗ Khắc Chung từ Hiệp Sơn, Hải Dương đã lên làng Gốm ngồi dạy và mở ra cho làng này một nền văn hiến Nho học có một không hai của cả nước Đại Việt suốt mấy trăm năm. Đến thế kỷ 15, vua Lê đã hạ chỉ cho làng Gốm được mang tên làng Quan Tử. Làng Quan Tử trước đó là Trang Sơn Đông, thái ấp của Trần Nguyên Hãn, một vị khai quốc công thần triều Lê. Nhưng cuộc đời ông kết cục cũng bi thảm như cuộc đời người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi do sự hẹp hòi, đố kỵ của “Vua ta có tướng mạo Việt Vương”, chỉ biết nghe theo kẻ nịnh. Dòng Lô xanh trong chỗ ngã ba Hạc đột ngột rộng ra như mở lòng đón lấy Tả Tướng Quốc, vị đệ nhất công thần triều Lê mà công lao của ông góp phần quyết định vào chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang vang dội trong lịch sử, khi ông tự trầm vào ngày 27 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429) để khỏi rơi đầu một cách vô lý giữa kinh thành Thăng Long dưới lưỡi đao oan nghiệt của bạo quyền. 580 năm tròn, hôm nay xuôi theo dòng Lô qua bến Sơn Đông, nghe câu ca thời mở cửa “Sơn Đông trên bến đưới thuyền/ Nhấp nhô con sóng lan truyền vào nhau…”, mắt ngước lên nhìn hai ngôi đền cổ, một thờ thầy giáo họ Đỗ, người khai sáng nền học vấn thế kỷ 13, một thờ vị Tả Tướng Quốc anh hùng mà tai tôi vẫn như văng vẳng tiếng học bài mê mải của nho sinh, lẫn vào với tiếng xàn xạt mài gươm nuôi chí diệt thù của người trai thời loạn đất Sơn Đông. Và tôi càng hiểu thêm bản lĩnh và tiết tháo của cha ông mình, thời nào cũng vậy, luôn lấy thanh gươm và ngọn bút làm vũ khí giữ nước, giữ nhà.

Một khúc sông quê - ảnh 2
Cảnh sinh hoạt trên Sông Lô
Chỉ trên một khúc sông thôi mà có bao nhiêu là sự tích. Ngược thời gian ta gặp những lung linh huyền thoại. Ngược không gian lên Đoan Hùng, nơi Lô Giang nghiêng nghiêng dòng biếc đón nước sông Chảy, nơi ấy gọi là Đầu Lô. Đầu Lô trở thành thủy huyệt chôn vùi tàu chiến Pháp trong chiến dịch Thu Đông 1947. Mùa cạn, một phần xác tàu nhô lên khỏi bùn cát, tạo ra trớn nước nhấp nhô, âm âm như tiếng rên khắc khoải vọng lên của một cô hồn chết thảm vì tội lỗi, cố cất lời sám hối với thiên thu lịch sử của chủ nghĩa thực dân. Hơn 60 năm qua, xác giặc vẫn nằm đấy. Thì cứ để nó nằm đấy. Chúng ta thiếu gì sắt vụn. Nhưng có người nói, những chai rượu cô nhắc cất kỹ trong khoang tàu, nếu lặn xuống mà vớt lên được thì sẽ là thứ rượu tuyệt ngon, thiên hạ đệ nhất vô nhị tửu. Còn hơn cả rượu Hoàng đế Napolion chôn 100 năm dưới lòng đất. 10 tuổi, tôi là một đứa trẻ nghịch ngợm, chẳng biết sợ là gì, đã trốn nhà, không theo người lớn tản cư để chạy ra bờ sông, nấp trong bụi duối xem tàu giặc cắm cờ tam tài chạy ngược. Ôi chao là sự hùng hổ của kẻ ngạo cuồng, tự cho là mạnh, lấy vũ khí đè người! Nhưng qua Bến Then, đến Bình Bộ thì bọn ăn cướp đã gặp sức kháng cự quyết liệt của quân dân hai tỉnh Vĩnh Phúc - Phú Thọ. Hỏa lực được bố trí trên các gò đồi nằm sát bờ sông, bên kia là Bình Bộ của huyện Phù Ninh, bên này là Phương Khoan của huyện Lập Thạch, đồng loạt nã đạn vào tàu giặc. Là trận đầu thử sức, vũ khí lại thô sơ nên ta đành để chúng đi thoát. Nhưng dù thế thì trận đánh Phương Khoan - Bình Bộ cũng đã góp thêm những nốt chủ âm vào bản Trường ca Sông Lô của nhạc sĩ Văn Cao. Sau chiến thắng, người dân hai bên bờ sông lại “Vui hát ca hòa dân buông lưới, Phan Lương vui bóng thuyền. Lều dựng lên ven sông, bóng người sầm uất Bến Then…”.

Xuôi dòng Lô bên bờ tả ngạn, nhà thơ Trần Khoái của Vĩnh Phúc trong Trường ca “Chìm nổi làng quê”, lần theo di chỉ đá, anh đến xã Tứ Yên đứng ngắm nhìn hồ Điển Triệt trong “Thấp thoáng màn sương”, nơi người anh hùng dân tộc Lý Bí từng bày thủy trận giao chiến với quân Lương ở thế kỷ thứ 6. Đến làng Bạch Lưu, gặp “Những người thợ hút thuốc lào/ Uống chè xanh, ăn khoai ăn sắn”, ngày đêm đục đẽo, thổi hồn vào đá. Đến Bến Then, anh “Gặp tháp Bình Sơn chiều sông nước/ Hoa văn vờn một dáng mây bay”. Nơi đây vào thế kỷ 16 đã có hai anh em người họ Hà ở xóm Ghềnh, sát bờ sông, nhà nghèo nhưng học giỏi, đi thi đỗ tiến sĩ là Hà Sĩ Vọng và Hà Nhiệm Đại, hiện còn tên ở bia Văn Miếu. Cái Bến Then này với những con đò mong manh từng đưa những đoàn quân mũ nan, dép lốp ra trận. Có những chuyến đò đêm mịt mù sương trắng đè nặng dòng sông, chở các đồng chí lãnh đạo Trung ương như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt từ bên Hưng Hóa, Lâm Thao sang, rồi ngược lên Việt Bắc lãnh đạo kháng chiến. Nhạc sĩ Văn Cao viết Trường ca Sông Lô ở đâu thì có nhiều tài liệu khác nhau. Nhưng có người ở vùng này nói, Văn Cao từng nằm hút thuốc phiện và làm nhạc ở nhà ông. Văn Cao mê ả phiền - (cách nói của dân chơi thời đó) thì ai cũng biết. Có gì ghê gớm đâu. Cũng như các văn nghệ sĩ khác (Sao Mai, Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng Chương…), khi rời bỏ những tiệm hút, tiệm cao lâu, những xóm Bình Khang chốn thị thành đi kháng chiến, họ mang theo cả bàn đèn và dọc tẩu. Cái đáng để chúng ta khâm phục là họ đã tự “lột xác”, tự vượt lên chính mình để trở thành nghệ sĩ của nhân dân, phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến. Trên đường từ bến Phan Lương, cửa ngõ của A.T.K đi xuống, nơi tàu giặc vừa bị ta đánh chìm, Văn Cao đuổi theo sự rút chạy của quân Pháp bại trận để quan sát cảnh hai bờ sông Lô. Và cảm hứng của ông về một trường ca bất hủ trào lên từ đấy. Hình ảnh và sức sống của một con sông ở thời điểm hào hùng và lẫm liệt nhất đã đã đi vào âm nhạc qua trái tim của người nghệ sĩ tài hoa để rồi mãi mãi trường tồn. “Nhân sinh chi hữu hạn/ Nghệ thuật thị vô biên” là thế.

Miên man những câu chuyện về con sông quê không đầu không cuối, tôi như bị thời gian cuốn đi trong quá khứ vô định, nghĩ lại thấy mình là người hoài cổ, lạc lối cô liêu. Tôi bừng tỉnh giật mình, không phải cái giật mình “tưởng tiếng gọi đò” của ông Tú làng Vị Xuyên mà là tiếng máy nổ ầm ầm của các tàu lu, tàu xúc đang hối hả thi nhau moi vật liệu dưới lòng sông lên đổ vào những chiếc xà lan trông như những con gián, con rệp khổng lồ no phè cát sỏi, đậu san sát, có chỗ gần kín cả mặt sông đoạn từ Đức Bác cho đến Bến Then, nhất là vào mùa cạn. Bằng phương tiện máy móc hiện đại, người ta đang xả thịt con sông vốn hiền hòa và thơ mộng, con sông thi sĩ của muôn đời... Hãy chờ đấy! Chưa ai lường trước được sự nổi giận của sông một khi nó bị moi gan móc ruột. Bờ sông làng Soi Rạng bên kia, người dân đã phải xin tiền tỷ của Nhà nước để xếp đá làm kè chống lở, mong tránh khỏi tai ương có ngày xóa sổ cả một tên làng. Nhưng đặt kè bên ấy thì nó lở bên này. Đó là lẽ tự nhiên. Mà nói vậy thôi, biết làm sao, khi cả nước là một công trường, cả nước cần cát sỏi xây dựng?

Trong tương lai, từ Việt Trì đến Bến Then trên một đoạn sông ngắn sẽ có tới ba cây cầu bắc qua Sông Lô. Cầu Việt Trì thì đã có từ thời Pháp (Cầu hiện nay ta làm mới vào năm 1995). Cầu nối đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai đi Côn Minh (Trung Quốc) sắp khởi công xây dựng ngay cuối làng Soi Rạng. Cầu dân sinh nối thành phố Việt Trì với huyện Lập Thạch thay cho bến phà Đức Bác đã có trong dự án của tỉnh Phú Thọ, nhưng kém khả thi nên chưa thực hiện. Người dân hai bờ khao khát hình bóng những cây cầu được bắc qua sông để sớm tối đi về. Lúc ấy sẽ là cảnh “Phố phường tiếp giáp với bờ sông”, hẳn sẽ không tìm đâu ra bờ tre bụi duối và “Sóng ngàn lau thưa” để nghe vẳng lên “Tiếng cuốc kêu vỡ vụn đêm hè” - (Thơ Trần Khoái) ở phía bờ sông. Và biết đâu sẽ có vô số những tên sát thủ bức tử con Sông Lô này theo kiểu Vê-đan, Mi-uôn… Những chiều cuối năm, kẻ tha hương trở về với sông quê sẽ không tìm đâu ra con đò bến cũ, những cánh buồm nâu lộng gió… Và, riêng tôi đứng ngẩn ngơ, bất chợt vừa gặp câu thơ ai bỏ quên giữa dòng, đong đưa trôi dạt như lời hát buồn của nhạc sĩ Minh Quang trong bài “Sông Lô chiều cuối năm”.

Việt Trì, cuối đông 2008

Tuỳ bút của Nguyễn Anh Đào

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác