Miền sáng trong trường ca “Sông Dinh mùa trăng khuyết” của Giang Nam

Trường ca “Sông Dinh mùa trăng khuyết” của Giang Nam (NXB Quân đội Nhân dân - Hà Nội, 2002) là một trong những bản trường ca viết về cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhưng khác với những trường ca xuất hiện trong những thập kỉ trước như Bài ca chim Chơ-rao của Thu Bồn, Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Đường đến những vì sao của Nguyễn Trọng Tạo... tập trung vào những sự tích anh hùng, những lịch sử chiến công thời chống Mỹ, trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết là miền sáng của kí ức, hoài niệm và cảm xúc về một dòng sông cụ thể, một con người cụ thể của vùng quê cụ thể trong một thời điểm cụ thể của cuộc kháng chiến chống Pháp…

Sông Dinh mùa trăng khuyết có 5 chương: Hơn 600 câu thơ với nhiều đoạn đối thoại, nhiều đoạn miêu tả, nhiều đoạn kể và nhiều đoạn tả cảnh ngụ tình tràn đầy cảm xúc, nhà thơ Giang Nam đã viết nên một bản trường ca khắc họa và ngợi ca một cách sâu sắc, đậm nét hình ảnh đất nước và con người trên một thị trấn phố huyện - huyện Ninh Hòa qua hình tượng dòng sông Dinh hiền hòa và người con gái anh hùng của quê hương trong cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù để giành lấy độc lập, tự do.

5 chương như năm khúc ca quyện chặt đầy chất tự sự và chất trữ tình; tự nhiên phóng khoáng mà trau chuốt gọt giũa; vừa mang âm hưởng ca dao dân gian vừa mang tính hiện đại của thơ ca đương đại.

Miền sáng trong trường ca “Sông Dinh mùa trăng khuyết” của Giang Nam - ảnh 1Ở chương 2,3,4 (Vĩnh Phú, những mùa trăng - Lời thề con gái- Gởi mẹ chiến công này) nhân vật trung tâm của trường ca được khắc họa đậm nét. Nhà thơ không dùng nhiều những từ ngữ, những hình ảnh cầu kì, cao xa mà chỉ bằng vào những chất liệu có thực, những chi tiết đơn giản, quen thuộc trong cuộc sống thực của xã hội lúc bấy giờ,của chị Trừ - nhân vật trung tâm, của cảnh vật làng quê yêu dấu nơi có dòng sông Dinh mãi chảy... Quê hương thanh bình với “dòng sông Dinh bóng tre râm mát”, với “ánh trăng xanh mát”, với “câu hát bài chòi quấn quýt”, với “những gương mặt thân quen theo suốt cuộc đời” đó, một khi đối diện với sự tàn ác của giặc thù đã đứng lên, đã chiến đấu kiên cường cho độc lập, tự do. Chị Trừ - nhân vật trung tâm của tác phẩm: “Và chị đến, chị Trừ ơi giản dị/ Như bông huỳnh anh vàng trước hiên nhà/ Nắng vùng ven đỏ bừng đôi má/ Nón che đầu, vẫn chiếc nón bài thơ”. Không thể để cho lũ giặc thù “bình yên”gây tội ác “Chị tìm đến anh, chị tìm đến Đảng…”  Ngày chị đến với Đảng “Người chỉ huy lặng yên nhìn cô gái/ Anh thấy cái trong xanh của dòng suối đầu nguồn/ Cái tươi mát của hạt mưa trên lá/ Cái ngọt ngào của hạnh phúc yêu đương”, nhưng lời thề con gái của chị theo chị vào trận chiến “Có trận đánh nào như trận đánh sáng nay/ Không thấy súng/ Không thấy quân/ Chỉ thấy ồn ào phố chợ/ Những quang gánh…./Như tiếng sét bất ngờ giữa trời quang/ Như đêm tối bỗng bừng lên ngọn lửa/ Tiếng nổ rung ngàn cánh cửa/ Địch bàng hoàng: Việt Minh, ôi Việt Minh…”, và lời thề ấy mãi mãi âm vang và góp phần thúc giục lớp lớp thanh niên quê chị lên đường quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh “Ôi dòng nước ấy xôn xao/ Đã in mái tóc, con sào, bến quê/ Đã truyền đi những lời thề/ Trăm năm nữa ai tìm về với sông/ Nhớ thương cái tuổi trăng tròn/ Trái tim mang cả quê hương nhọc nhằn/ Em qua Hòn Hấu, Hòn Xang/ Em qua Bến Quế, Đá Bàn, Đồng Gieo/ Vẫn đi dưới mái tranh nghèo/ Lời thề của chị trong chiều giặc đi…”. Chỉ bằng những nét phác họa thôi mà tất cả hiện lên sừng sững như tượng đài vững chắc qua thời gian mưa nắng trong lịch sử dựng và giữ nước quê nhà, và tất nhiên sẽ là một hình tượng nhân vật anh hùng trong văn học Việt Nam.

Riêng chương mở đầu và kết thúc trường ca, thật bất ngờ, đó chỉ là lời đối thoại giữa nhân vật trữ tình “Ta” với dòng sông quê hương, với người anh hùng sau 50 năm xa cách. Trong mở đầu ”Đối thọai với dòng sông”, người thì đau đáu nỗi nhớ niềm thương trong kí ức xa xăm lâu rồi bây giờ gặp lại: “Có thể nào tin/ Năm mươi năm/ Sông vẫn đó, màu hoa mua tím đỏ/ Ngày ra đi xanh sắc trời châu thổ/ Sông tiễn đưa xao động bến, con đò.”, “Năm mươi năm, mình lại gặp mình/ Ngược thời gian niềm đau nỗi nhớ/ Ôi dòng sông bên bồi bên lở/ Có những người đi mãi mãi không về”, “Câu hát mẹ ru đọng mãi bên lòng/ Như khói như sương mỗi chiều qua bến/ Sông Dinh ơi lá rừng trôi ra biển/ Lá có về với nguồn cội ngày xưa?” Sông đã lên tiếng. Tiếng nói sâu lắng, dịu dàng, thiết tha: “Cảm ơn người đã nhắc. Lòng ta/ Có giây phút nào không mưa nguồn chớp biển/ Bao cuộc tiễn đưa, bao lần hò hẹn/ Ta chảy giữa đời lưu giữ những buồn vui.” Và “Ta đã sống những đêm dài băng giá/ Giữa đôi bờ vách đá hoang sơ.”. Sông thì vẫn như xưa, đâu thể nào quên bởi một lẽ rất giản đơn là lúc nào lòng sông không mưa nguồn chớp biển, không chảy giữa dòng đời bao nỗi buồn vui, không ghi dấu tận tầng sâu lớp lớp nỗi niềm của bao cuộc tiễn đưa, bao lần hò hẹn, vẫn mây trắng trên trời, vẫn núi xanh và mặt trời đỏ. Và hơn hết, sông yêu người vì những con người đó sinh ra từ bão tố, người đã cùng sông biến hoang dại thành làng, rồi hơn nữa, những con người không hề tính toán với hạnh phúc đơn sơ giành lại tự do khi mà  “Cái ác đến bất ngờ như định mệnh/…/Lửa đã thiêu biết mấy căn nhà/ Máu đã thấm bao con đường cát bụi/ Người ngã xuống không thể nào nhắm mắt/ Người ra đi khẩu súng nặng bên lòng” và “Năm mươi năm ta đếm từng ngày/ Cái chớp mắt thời gian tưởng như vô tận/ Dấu dép nào còn hằn trên cát trắng/ Ôi cái buổi người đi, ta bật khóc một mình”. Biết sao được, con sông quê hương, con sông của tuổi thơ, con sông của mẹ, con sông của bè bạn, của tình yêu… Người về bật lên tiếng kêu thương: “Ơi sông Dinh,ta gọi sông Dinh/ Biết mấy yêu thương những ngày xa cách”. Có lẽ vì thế nên dù đi qua những đêm lửa Trường Sơn, Tháp Mười đất nẻ, Hàm Luông bên lở bên bồi, Cửu Long đỏ nặng phù sa, Vàm Cỏ dòng trong dòng đục, Đồng Nai xanh thác xanh rừng… nhân vật “Ta” cũng "... vẫn xốn xang một góc nhỏ của lòng/ Nơi vẫn chảy dòng sông Dinh rất nhỏ/ Nơi vẫn chảy dòng sông Dinh tuổi nhỏ/ Ở đó mẹ sinh ta trong rơm rạ, khổ nghèo ”, nơi mà “Đêm chị Trừ ra đi rộ lên tràng súng giặc/ Sông êm đềm bỗng nổi bão nổi giông” và khắc ghi một lời thề “Phải sống mà về với bến nước, dòng sông/ Phải sống mà về với mùi xôi nếp mới/ Ta biết Người vẫn thủy chung chờ đợi/ Phút này đây ta được khóc bên Người”. Còn sông vẫn yêu thương với tất cả niềm tin “Ồ, sao người lại khóc…Đừng quên/ Họ đang sống như đất trời muôn thuở/ Vẫn cái tuổi hai mươi sẵn sàng lao vào lửa/ Vẫn tình yêu chỉ một thuở ban đầu.” Năm mươi năm đi qua với bao niềm thương nỗi nhớ, với bao chiến công oanh liệt, với bao cuộc chiến đấu bất khuất, hy sinh đã xây nên một tượng đài vĩnh cữu với thời gian trên đất làng quê hương cũng như trong tâm tưởng con người: “Năm mươi năm, những mưa nắng dãi dầu/ Đã tụ lại thành tượng đài cao vút/ Người có thấy không, mái tóc dài đen mượt/ Cô ấy ra đi còn gởi lại trái tim mình…

Trong kết thúc ”Đối thoại với người anh hùng”, cũng phương thức kết hợp giữa tự sự và trữ tình, Giang Nam đã tiếp tục tô đậm hình ảnh quê hương bằng những chi tiết thật trong cuộc sống về đất, về người. Ai đã là con em của Ninh Hòa, ai đã từng đến và sống ở Ninh Hòa mà không biết đến tên đất, tên sông, tên đường, tên chợ … trong thị trấn này: cái chợ Dinh bên dòng sông Dinh nhỏ bé, hiền hòa chảy như dòng sữa mẹ bao năm trời nuôi sống đàn con; không biết đến “Ngã ba Ban Mê”, không biết đến cái “dốc Ga”, “gò Phước Lý”, bây giờ có thêm “Đập chị Trừ”... Và nữa, trong hai cuộc kháng chiến trường kì, ai không đã từng nghe, từng biết đến 2 người nữ anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam: Chị Nguyễn Thị Trừ  thời chống Pháp, chị Nguyễn Thị Ngọc Oanh thời chống Mỹ… Nhân vật “Ta” đã ra đi, đã vào Nam, ra Bắc trong 2 cuộc kháng chiến trường kì nay về lại, vẫn “còn đó chiếc cầu”, vẫn “Sông vẫn tím hoa mua lá rụng vàng trên bến” nay về lại đối thọai cùng “chị” - người nữ anh hùng - “Chị ơi bao cuộc vơi đầy/ Em lại về nơi chị và em đã sống/ Hàng mù u bờ sông soi bóng/ Em lắng nghe tiếng bìm bịp kêu chiều” ở cái gò đất nơi thôn làng Phước Lý “Nơi chị đứng những giây phút cuối/ Trước mặt bầy quỷ ác/ Trăng thượng huyền lặn bên kia cầu sắt/ Lời chị hòa với gió, với mây….” với nỗi đau thương quằn nặng. Nhưng không, chị không mất đi, chị vẫn còn đây, vẫn trẻ trung bên dòng sông Dinh những mùa trăng tỏa sáng ”Chị thanh thản đi xa để mãi mãi được gần/ Máu lại về tim, người lại về với đất..” “chị vĩnh viễn trẻ trung với đồng đội, bạn bè”, “Chị vẫn còn đây với đồng đội, quê hương/ Được cả đất trời sao em lại khóc…”. Đúng như thế thật, bởi tên chị được khắc trên bảng vàng bia đá, chói sáng như mặt trời, đẹp như câu ca dao …và “Chị Trừ ơi, em biết chị bên em/ Như núi Vọng Phu mây trời trùng điệp/ Như vầng trăng khi tròn khi khuyết/ Như dòng sông Dinh lúc cạn lúc đầy/ Đập mang tên chị em đến mỗi ngày/ Dòng nước mang đi hoa vàng, hoa tím/ Em nhìn xuống thấy lung linh kỉ niệm/ Thấy gương mặt tươi cười chị buổi xa xưa…”. Nhưng dẫu sao sông Dinh vẫn khuyết vầng trăng tỏa sáng, bởi đơn giản “Em thấy trăng về, ôi gương mặt thân quen/ Chính là chị của mùa trăng ngày cũ/ Em thiếp đi trong sắc màu rực rỡ/ Của dòng sông, của chị,của vầng trăng”...

Mở và kết của trường ca là cuộc đối thọai với sông, với người anh hùng, hay cũng chính là cuộc độc thọai nội tâm đầy tâm trạng của nhà thơ- nhân vật trữ tình… Tất cả đó là sự day dứt, quyện chặt, khắc nhớ, ghi sâu trong tâm thức nhà thơ như một miền sáng lung linh trong suốt cuộc đời, và nó lan tỏa, chiếu sáng vào lòng người đọc. Nhà thơ đã đưa vào trường ca những cái bình thường trong cuộc sống. Cũng chỉ là những chi tiết quen thuộc như dòng sông, cây cầu, gò đất, con người mà bất cứ nơi nào trên đất nước này cũng có. Nhưng dòng sông, cây cầu, gò đất, con người trong trường ca đều có tên, có địa chỉ rõ ràng, cụ thể nên nó trở thành cái riêng trong cái chung, trở thành riêng và chung hòa quyện. Cái bình thường thành cái anh hùng. Hình ảnh cụ thể của người con gái Ninh Hòa không còn là hình ảnh riêng mà là hình ảnh người phụ nữ anh hùng - người anh hùng thời đại, tiêu biểu cho cả những thế hệ phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất, trung hậu… trong 2 cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp, chống Mỹ; và dòng sông Dinh cũng như hàng vạn dòng sông khác “đều muốn hóa Bạch Đằng” đã trở thành hình ảnh dòng sông anh hùng, chứng kiến bao đau thương, hạnh phúc của đất và người...

Kết cấu của trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết đưa ta về không - thời gian quá khứ cách đây hơn năm mươi năm, nhưng cũng đưa ta về không - thời gian hiện tại và mở ra một trường không - thời gian trong tương lai tiếp tục cuộc hành trình giữ nước, như hình ảnh dòng sông Dinh và người con gái anh hùng mãi khắc sâu trong lòng người dân Ninh Hòa hiền hòa, yêu người, yêu quê, yêu nước dù đi đâu, ở đâu…

Nếu làm một phép chiếu giữa khái niệm trường ca, thi pháp trường ca, dễ nhận thấy rằng bằng chất liệu thực, bằng ngòi bút của một nhà thơ đầy trách nhiệm công dân và tình cảm tha thiết với quê hương, bạn bè, đồng chí, trong phương thức thể hiện của mình, nhà thơ đã kết hợp chặt chẽ yếu tố tự sự với yếu tố trữ tình, đặc biệt với bút pháp trữ tình, đã rất khéo trong những đoạn tả cảnh ngụ tình cùng những biện pháp nghệ thuật như sử dụng lối trùng điệp về ý, về lời, sử dụng phép tương phản, ẩn dụ, so sánh, sử dụng ngôn ngữ hình tượng v.v… tạo nên sự hài hòa giữa tâm hồn, tình cảm  con người với cảnh vật, tạo nên những hình ảnh phập phồng hơi thở tươi rói của một miền quê, của “một thời đạn bom, một thời hòa bình”...

Trong văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt từ những năm 70 của thế kỉ trước, nếu thể lọai trường ca với những trường ca đầu tiên xuất hiện rồi dần dần phát triển về số lượng cũng như chất lượng, tự khẳng định chỗ đứng của mình như những hạt ngọc lấp lánh trên văn đàn thì Sông Dinh mùa trăng khuyết của Giang Nam là một trong những hạt ngọc lấp lánh đó.

 

Tháng 6/2007

PHÙNG TIẾT (Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác