Mâm sáu bàn về văn chương Tân Mão

(Toquoc)- Sau một năm bận bịu lo toan, xuôi ngược mưu sinh cho cuộc sống, những ngày cuối cùng trong năm là thời điểm thích hợp nhất để các nhà văn ngồi lại bên nhau, tổng kết những việc đã làm được trong năm và nói về những dự định cho năm mới.

Trong câu chuyện với các nhà văn Việt Nam về nghiệp văn, về dự định và dự cảm văn học năm Tân Mão, một điều khá thú vị là nhiều nhà thơ đã “bỏ phiếu” cho văn xuôi, bên cạnh đó là văn học dịch sẽ có những bước tiến và nổi trội trong hành trình một năm tới.

Vì sao văn xuôi và văn học dịch lại khiến các nhà văn dành cho những dự cảm tốt đẹp đó? Sáu nhà văn Việt Nam cùng trò chuyện trong không khí ấm cúng của “mâm cỗ tất niên” hé lộ lời giải đáp cho những độc giả thân thiết của báo điện tử Tổ Quốc.


Mâm sáu bàn về văn chương Tân Mão  - ảnh 1
Sáu nhà văn tham dự bàn tròn: Dương Thuấn, Phạm Đức, Nguyễn Bích Lan, Bùi Tự Lực, Nguyễn Thuý Quỳnh, Nguyễn Hiệp


PV: Theo nhà văn thì những người làm công việc sáng tác (viết văn, làm thơ…) có cần phải lên kế hoạch sáng tác cho bản thân mình một cách nghiêm túc không, hay luôn phải trông chờ vào cảm xúc, cảm hứng sáng tác?

Nhà thơ Dương Thuấn: Theo tôi thì không cứ viết văn mà làm gì, dù có tài tử đến đâu cũng phải có kế hoạch. Lao động sáng tạo thì phải có từng thời điểm, từng chặng… không phải muốn làm gì thì làm, vì nếu thế thì sẽ khó làm được cái gì ra tấm ra món. Viết tiểu thuyết cũng phải có kế hoạch, cuốn này 3 năm, cuốn kia 5 năm. Trong quá trình viết đó nếu mình có dừng lại để nghiên cứu thì mình có thể viết cái khác hỗ trợ, hoặc đá ngang đá dọc sang báo chí chẳng hạn… Những kế hoạch cơ bản thì mỗi nhà văn, mỗi người cần phải có chứ không thể không có. Vì phải chấm dứt tác phẩm này mới có thể bắt tay vào tác phẩm khác. Còn cảm xúc, cảm hứng sáng tác thì rất bất chợt.

Nhà văn Nguyễn Hiệp: Theo tôi, cần phân biệt rõ ràng, thơ hay văn xuôi, lí luận phê bình hay dịch thuật. Thơ thì khó lên kế hoạch nhưng ở các lĩnh vực khác, nếu không huy động được cảm xúc cho một kế hoạch sáng tác thì khác nào ngồi chờ sung rụng. Trong làm ăn kinh tế, có trường hợp sung rụng vào miệng nhưng cũng ngàn năm một thuở, còn sáng tạo thì chỉ cách thức duy nhất là lặn ngòi ngoi nước, “lộc trời” văn chương không bao giờ trao vào tay kẻ chỉ biết nay đợi mai chờ. Lao động miệt mài, nghiêm túc trong từng ngày, từng đêm, phải có cái tâm thật sự với văn chương thì mới có tác phẩm. Đốt cháy chính mình trong nhu cầu đời sống đơn giản và kế hoạch làm việc tối ưu là phương pháp tốt nhất của người viết văn. Tôi thường nói vui đây là phương pháp hy sinh. Những tấm gương về đức hy sinh như vậy trên văn đàn thế giới nhiều không kể hết, tôi mê nhất là nhà văn Ohan Pamuk, tác giả của Lâu Đài Trắng, Tên Tôi là Đỏ, Tuyết, Sổ Đen… Ông đang viết tại nhà với một phương pháp tối ưu và một thái độ cực kỳ nghiêm khắc.

Nhà thơ Nguyễn Thuý Quỳnh: Tôi nghĩ là cần cả hai.

Kế hoạch sáng tác thể hiện sự chuyên nghiệp của nhà văn, nó là sản phẩm của thái độ nghiêm túc, tính kỷ luật trong lao động nghệ thuật, và phần nào tác động vào hiệu quả của quá trình lao động ấy. Còn cảm hứng thì không thể thiếu vắng, nhất là với người làm thơ. Cảm hứng thường lệ thuộc vào hoàn cảnh, và trạng thái tinh thần của người viết (không biết diễn đạt như thế chính xác chưa?). Tuy nhiên, theo tôi, người viết chuyên nghiệp vẫn có thể tạo ra cảm hứng, tùy vào việc họ quan tâm đến vấn đề gì trong cuộc sống, sự quan tâm ấy sâu sắc đến một mức độ nào đó thì tự nó sẽ khơi nguồn cảm hứng.

Nhiều nhà thơ, nhà văn mà tôi biết đã khiến tôi hết sức kính trọng về sự chuyên nghiệp trong lao động sáng tạo, bởi họ đã tự tạo ra cảm hứng từ cuộc sống mỗi ngày, cho dù viết văn hay làm thơ, như Trần Nhuận Minh, Nguyễn Quang Thiều, Cao Duy Sơn, Nguyễn Bình Phương...

Nhà văn Bùi Tự Lực: Cảm xúc là trạng thái tình cảm của con người, những rung động trong lòng do tiếp xúc với một sự việc. Cảm xúc hoàn toàn mang tính cá nhân, ẩn chứa bên trong của mỗi người; điều quan trọng là dù ít, dù nhiều sẽ cảm nhận được một điều gì đó khác biệt, gần gũi với tâm hồn, đồng cảm với tâm sự. Cảm xúc không thường trực trong tâm hồn mà thường đến bất chợt, có khi thoát khỏi sự kiểm soát của bạn.

Công việc của nhà văn là lao động trí tuệ, sáng tạo nghệ thuật và thành quả là tác phẩm, nên mỗi nhà văn cần phải có kế hoạch sáng tác cho riêng mình. Đối với nhà văn, nhà thơ hay bất cứ những ai làm công việc viết văn, cảm xúc có vai trò rất cao, ảnh hưởng đến đời sống nhà văn và quá trình sáng tạo nghệ thuật. Cũng rất may mắn là các nhà văn, nhà thơ có thể kiểm soát được cảm xúc của mình và hướng nó một cách đúng đắn, kết tinh vào tác phẩm. Nghệ thuật đó được gọi là Cảm xúc trí tuệ của nhà văn.

Nói đến Cảm xúc trí tuệ cũng có nghĩa là nói về chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân. Chỉ số này mô tả khả năng, năng lực, kỹ năng hay khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người. Nhà văn không thể ngồi chờ cảm xúc tự nó đến mà phải cất công tìm tòi, nhen nhóm, đánh thức dậy.

Nhà thơ Phạm Đức: Nhà văn, nhất là nhà thơ nhờ giây phút thăng hoa mà có thể tạo ra những sáng tạo độc đáo, bất ngờ. Cảm xúc ngẫu hứng làm gì dâng trào nếu trong con người sáng tạo không nhiều đau đáu, ngẫm ngợi về chính những gì tương tự như sản phẩm sắp có? Người sáng tác chuyên nghiệp phải có kế hoạch làm việc, dù theo kiểu gì, dù đơn giản hay chi tiết nhất và dù nó sẽ được thực hiện đến chừng mực nào, thậm chí bị biến đổi ra sao!

Có kế hoạch sáng tác là một tiêu chí để xây dựng thương hiệu nhà văn chuyên nghiệp. Có kế hoạch sáng tác, kế hoạch chuẩn bị cho sáng tác (Tới đâu? Đọc gì? Tiếp xúc với những ai?...) nhất định sẽ nảy nở thêm cảm xúc nhiều lần so với chờ đợi.

PV: Vậy nhà văn có kế hoạch sáng tác gì cho năm mới?

Nhà thơ Dương Thuấn: Tôi làm thơ, và tôi nghĩ làm thơ cũng vẫn phải có kế hoạch. Không phải cứ đợi đủ bài thì mới in tập. Kế hoạch cho từng chặng thì bắt buộc phải ép mình hoàn thành việc đó trong thời gian đã dự định. Có thể khi hoàn thành nó vượt thời gian dự định hay sớm hơn so với kế hoạch thì cũng phải rõ ràng để làm song song các việc khác. Với tôi sáng tác là công việc thường xuyên. Hiện nay tôi có 2 bộ sách đã hoàn thành phần bản thảo, có thể in được luôn, đó là 1 tập nghiên cứu và 1 tập thơ.

Nhà văn Nguyễn Hiệp: Tôi đang thực hiện hai kế hoạch song song: Vừa phải hoàn thành tập truyện ngắn vừa “chạy” tiếp quyển tiểu thuyết. Chuyện áo cơm đang “hành” tôi nên thời gian dành cho viết lách chưa được như ý muốn.

Nhà thơ Nguyễn Thuý Quỳnh: Tôi vẫn rất thiếu chuyên nghiệp, nên kế hoạch sáng tác đôi khi không mấy rõ ràng. Một tập thơ về cuộc sống với những thân phận nhỏ bé là điều mà tôi đang thực hiện, nhưng chưa biết năm nay có xong hay không.

Nhà văn Bùi Tự Lực: Tôi yêu văn chương ngay từ khi còn nhỏ; mới 5, 6 tuổi qua lời ru của bà nội đã thuộc lòng các tuồng tích Lục Vân Tiên, Thoại Khanh Châu Tuấn, ngày còn học phổ thông đã biết làm thơ. Nhưng tôi đặt chân vào làng văn hơi muộn, năm 45 tuổi mới in tập thơ đầu tay- “Mùa Hoa Bưởi”- NXB Đà Nẵng, 1999. Sau đó chuyển sang viết văn xuôi một cách tự nhiên và tập truyện vừa “Nội tôi” bất ngờ đoạt giải B Cuộc vận động sáng tác truyện cho thiếu nhi của Nhà xuất bản Kim Đồng (1999-2000), tiếp theo ngay sau đó là tập truyện vừa “trên nẻo đường giao liên”, cũng in tại Nhà xuất bản Kim Đồng, 2003; rồi trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam trong năm ấy.

Là một nhà văn, nhiệm vụ của tôi là phải đi, đọc và viết; khi viết được một cái gì đó là tự nhận thấy mình đang tồn tại trên văn đàn. Truyện ngắn được vài ba tập rồi, hai tập thơ và hai cuốn truyện vừa viết cho thiếu nhi; tôi đang tìm đường ra cho một tiểu thuyết “Kẻ bán mộ”, có sẵn hết rồi chỉ còn chờ thời điểm để in.

Hiện tại tôi đang cảm thấy tất cả những gì xung quanh mình đang cuộn chảy, đang có gì đó muốn vỡ bung ra, nhiều khi tôi thấy mình bị đánh văng ra khỏi cuộc chơi. Từ nhà ra phố đến cơ quan, từ góc chợ rìa đường đến cửa huyện, từ nhà thương điên, trung tâm từ thiện đến nơi chốn pháp đình… hình như không phải tồn tại như thế. Công chúng đang chờ đợi và hy vọng ở các nhà văn những tác phẩm mang hơi thở cuộc sống hiện tại, muốn hiểu thêm về quá khứ ở nhiều chiều bằng nhiều góc nhìn nhân bản hơn. Là nhà văn tôi còn nặng nợ với cái nghiệp đa mang của người cầm bút. Không còn cách nào khác là mình phải viết. Chắc có lẽ tôi sẽ quay lại đề tài chiến tranh cách mạng, cụ thể hơn là viết về tuổi thơ bị đánh mất của mình và của bạn bè tôi. Năm nay tôi 58 tuổi mụ rồi, càng về già tuổi thơ càng sống dậy! Còn việc viết được những gì thì không thể nói trước được. Tôi không có tham vọng gì hơn ở lứa tuổi này, chỉ mong sao viết được để giải tỏa cho chính mình.

Nhà thơ Phạm Đức: Tôi luôn có kế hoạch sáng tác ở mức độ khác nhau, tuỳ theo thể loại. Năm 2011 này, về thơ tôi sẽ tập hợp, bổ sung bà hoàn chỉnh tập “Phản biện” - tập thơ thứ 12 của mình. Hoàn chỉnh tập tản văn. Thêm tập chọn 18 bài thơ dành cho trẻ em của 18 tác giả.

Nhà văn Nguyễn Bích Lan: Trong nửa đầu của năm nay tôi sẽ có hai tác phẩm dịch ra mắt bạn đọc. Ngay trong tháng 2 này NXB Phụ nữ sẽ ấn hành tiểu thuyết do tôi dịch có tựa là “Bị bán”, một tác phẩm rất xúc động nói về một bé gái Nepal bị bán sang Ấn Độ làm nô lệ tình dục và là cuốn sách lọt vào chung kết giải National Book Award của Mỹ năm 2007. Vào quý II năm nay Nhã Nam sẽ cho ra mắt bạn đọc một tiểu thuyết khác của Mỹ do tôi dịch mang tên “Rời bỏ thế giới”. Đây là cuốn tiểu thuyết khá dầy dặn của tác giả “ăn khách” Douglas Kennedy mà tôi đã bỏ ra gần một năm để dịch.

PV: Nhà văn và các đồng nghiệp sẽ chọn khai thác đề tài nào?

Nhà thơ Dương Thuấn: Mỗi nhà văn sẽ chọn cho mình một đề tài phù hợp với sở trường của mình. Nhưng tôi nghĩ đề tài về con người bị tha hoá nhân phẩm, đạo đức và tất cả mọi mặt… sẽ được đề cập nhiều nhất. Vì hệ thống đạo đức, các quy chuẩn của xã hội giờ không được chuẩn như trước nữa. Những giá trị thật - giả trong đời sống và nghệ thuật bị đảo lộn.

Nhà văn Nguyễn Hiệp: Năm 2011, tôi sẽ cố gắng viết phản không tưởng. Đây là một đề tài văn học không mới mẻ gì. Theo xu thế mà tôi nhận thấy, có lẽ phải đến năm 2012, văn học xứ ta mới thực sự nở rộ đề tài, nhưng năm 2011 cũng đã bắt đầu “chớm xuân”, tức là các mầm mới đã đua nhau nhú ra đây đó, nhất là các nhà văn ở hai trung tâm lớn của đất nước. Sẽ xuất hiện vài quyển “hư cấu lịch sử- đốt đền giải thiêng”, vài quyển “lạ” lần đầu có ở xứ ta, vài quyển “chiến tranh- đa diện” và thậm chí có cả văn học phi lí hay phản không tưởng như đề tài tôi đang theo đuổi.

Nhà thơ Nguyễn Thuý Quỳnh: Cuộc sống với những dòng chảy đầy bất trắc, và số phận của những kiếp người bé nhỏ trong dòng chảy ấy. Tuy rằng, tất cả vẫn đang chảy về phía trước.

Nhà văn Bùi Tự Lực: Cả 3 mảng đề tài chính: Lịch sử, chiến tranh và sự nghiệp đổi mới đất nước đều có sức hấp dẫn với các nhà văn; mỗi nhà văn có năng lực và sở trường riêng và biết chọn đề tài cho mình. Theo tôi, đến nay mảng đề tài chiến tranh cách mạng vẫn có sức hút lớn cho các cây bút nhiều trải nghiệm. Có thể nói rằng đề tài chiến tranh cách mạng là một tầng quặn quí còn đang nằm sâu trong lòng đất, đòi hỏi phải có những nhà địa chất học có tay nghề, kì công khai phá và tinh luyện.

Qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ suốt mấy mươi năm, mất mát hy sinh máu xương mấy thế hệ, tận cùng tác tóc đau thương và tột đỉnh vinh quang chói lọi… nhưng đến nay hình như văn học về chiến tranh cách mạng chỉ mới chạm đến cái bên ngoài, với góc độ nhìn đơn phương một phía. Một dân tộc đã trải qua một giai đoạn bi hùng như thế, chừng ấy năm chiến tranh kết thúc với nhiều biến cố của lịch sử, mà văn học vẫn chưa đạt đến những tác phẩm xứng tầm thời đại, đỉnh cao của văn chương! Thế hệ nhà văn trưởng thành trong chiến tranh, vừa cầm súng vừa cầm bút, nhà văn là chiến sĩ, hơn ai hết chắc các anh là những người còn nhiều nặng nợ!

Hơn ba mươi lăm năm sau ngày đất nước thống nhất, chừng ấy thời gian để nuôi lớn lên vài thế hệ; cũng chừng ấy năm đất nước quê hương đổi mới từng ngày, thế hệ nhà văn nối tiếp lớp đàn anh hậu chiến hình như cũng chưa đủ sức vươn tới ngang tầm với cuộc sống, chưa đáp ứng được sự mong đợi của công chúng.

Cứ nói đến tác phẩm của thời đại, tác phẩm đỉnh cao, thì lại nhắc nhau kiên nhẫn chờ đợi. Sáu mươi năm sau chiến tranh thế giới mới xuất hiện bộ tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của Lép-tôn-xtôi! Không biết các thế hệ người Việt Nam ta phải chờ đợi bao lâu nữa!

Nhà thơ Phạm Đức: Tôi vẫn lưu ý tới tình cảm giữa con người, nhất là tình yêu.

PV: Thời gian gần đây có khá nhiều cây bút trẻ đang thử sức mình ở thể loại tiểu thuyết, vậy đây là tín hiện đáng lo hay đáng mừng cho văn học Việt Nam?

Nhà thơ Dương Thuấn: Theo tôi nghĩ, cái tuổi để viết tiểu thuyết ít nhất phải trên 40, phải có kinh nghiệm sống, tư duy về thời gian, không gian… nghĩa là phải thu nạp đầy đủ năng lượng thì mới có thể phát ra. Tất nhiên trong lịch sử văn học nước ta có nhiều nhà văn viết tiểu thuyết khi tuổi đời còn rất trẻ, như Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng… nhưng nếu giờ lấy những cuốn tiểu thuyết đó để đưa lên bàn cân tiểu thuyết của thế giới chẳng hạn thì ta thấy nó phù hợp với tâm lý Việt Nam thật nhưng nếu xét về mặt kết cấu thực sự thì nó vẫn còn đơn giản so với kết cấu tiểu thuyết chung của thế giới. Nghĩa là về mặt kỹ thuật ở ta còn đơn giản, chưa đạt đến độ tư duy tiểu thuyết của phương Tây. Người trẻ muốn viết hay, để khẳng định mình thì phải có vốn sống mới có thể hay. Vì thế, sự xuất hiện của các cuốn tiểu thuyết trẻ tôi không lo, cũng không mừng, tôi đang chờ những cuốn tiểu thuyết hay của tất cả người cầm bút.

Nhà văn Nguyễn Hiệp: Vừa mừng vừa lo. Theo tôi hiểu, viết tiểu thuyết tức là “bắn đại bác”, tiểu thuyết làm nên diện mạo chính của các nền văn học hiện đại. Nhiều người trẻ hay nhiều người già viết tiểu thuyết đều mừng vì đó là tín hiệu vui cho nền văn học nước nhà. Có lẽ do nơi tôi sống có một quan niệm ám từ lâu là “Văn chương không bằng xương cá mòi”, đa phần thờ ơ, xa lạ với văn chương nên tôi có tật thấy nhiều người viết, dù thể loại nào cũng quý, cũng mừng. Thời gian qua, tôi có đọc dăm “tiểu thuyết” của một số tác giả trẻ, hy vọng học tập ở họ những điều mới mẻ, nhưng chỉ một số ít là tiểu thuyết thật sự, số còn lại, tôi nghĩ gọi nó là tự truyện thì dễ chấp nhận hơn, cũng là khai thác những yếu tố gần gũi, nhỏ nhặt trong đời sống như tiểu thuyết hiện đại phương Tây nhưng thiếu hẳn tư tưởng, thiếu hẳn cái tâm đối với cuộc đời và giọng điệu thì rất xa lạ với người Việt, tôi nghĩ, chắc có lẽ cũng xa lạ với người Tây.

Nhà thơ Nguyễn Thuý Quỳnh: Mừng, chứ sao lại lo nhỉ? Tôi không thấy có gì đáng lo cả. Tôi thấy đất nước mình, nền văn học nước mình đang có một lớp trẻ ngày càng giỏi giang. Họ được đào tạo bài bản, có tri thức, ngoại ngữ, kỹ năng sống... Họ ngày càng tự hoàn thiện và rất có bản lĩnh. Họ không bị chi phối nhiều bởi áp lực thế hệ trước để lại, và chủ động lựa chọn những giá trị họ cho là tốt nhất, trong một thời đại mà cương vực lãnh thổ hay sự khác biệt về văn hóa các dân tộc không còn là rào cản con người tìm đến những tiếng nói chung. Họ ngày càng đông lên, và ở mức độ nào đó, đang dần dần chiếm lĩnh văn đàn đấy chứ? Tại sao chúng ta lại không đặt niềm tin vào họ?

Còn thì trên hành trình đi đến cái lớn, cái hay, phải chấp nhận cả những cái chưa lớn, chưa hay. Văn chương trẻ cũng vậy, phải chờ đợi thôi. Trong cái thời mà các hệ giá trị đang chuyển dịch một cách khó hiểu, văn hóa tinh thần bị chìm lấp trong thế giới vật chất... thì có bạn trẻ chỉ đọc thôi, chưa nói đến việc “dám” cầm bút viết tiểu thuyết, đã là đáng quý lắm. Tôi không kỳ vọng quá nhiều, về mọi điều.

Nhà văn Bùi Tự Lực: Đó là “những cánh chim báo tin vui”, một tín hiệu đáng mừng. Nhìn vào Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 3 của Hội Nhà văn vừa qua, những nhà văn bây giờ, được coi là trẻ thuộc lứa 7X, 8X đã có một vài tên tuổi từng gây chú ý trên văn đàn lọt được vào chung khảo, hy vọng một có những nét tươi mới cho giải thưởng chính thống trên văn đàn năm nay. Nhưng rồi, Nguyễn Đình Tú đã từng gây xôn xao với "Nháp", Đỗ Tiến Thụy với "Màu rừng ruộng", Nguyễn Văn Học với "Rừng héo", Kiều Bích Hậu với "Xuyến chi xanh", Đặng Thiều Quang với "Bóng giai nhân"… lần lượt rơi rụng, “Cái nụ tàn chưa kịp nở thành hoa”. Buồn!

Kết thúc cuộc, những nhà văn thuộc lớp U40, U30 đều rời cuộc thi với hai bàn tay không, nhìn cuộc thi khép lại với một giải A được trao cho Nguyễn Quang Thân; 3 giải B dành cho Hữu Phương, Nguyễn Quang Hà và Nguyễn Văn Thọ; 10 giải C được trao cho Nguyễn Bắc Sơn, Đỗ Thị Hiền Hòa, Bùi Bình Thi, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Khắc Phê, Y Ban, Trầm Hương, Thùy Dương, Nguyễn Một và Thiên Sơn.

Vì sao như vậy? Câu hỏi này, theo tôi, nên giành cho diễn đàn nhà văn trẻ sắp tới.

Tuy có hơi buồn, nhưng chúng ta không nên nhìn những nhà văn trẻ qua một cuộc thi tiểu thuyết, dù cuộc thi ấy kéo dài hơn 3 năm. Một thực tế dễ nhận thấy rằng, Văn học trẻ đang sôi động khi hàng loạt cây bút trẻ đã định hinh. Nhiều tác phẩm mới ra đời đã được bạn đọc đón nhận, góp phần tạo nên diện mạo cho dòng văn học trẻ hôm nay: Phan Hồn Nhiên, Trương Anh Quốc, Hà Thanh Phúc, Trần Thu Trang, Vũ Đình Giang….

Nhà thơ Phạm Đức: Tôi cho là tín hiệu đáng lo, vì tiểu thuyết đòi hỏi nhiều vốn sống, cao tay nghề và vững vàng bản lĩnh. Hậu quả là loạn sách và loạn ngộ nhận cũng như sự tâng bốc.

Hiền Nguyễn (thực hiện)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác