Lên bản ngày mưa

Loáng thoáng sau ô kính những nếp nhà hắt hiu và lố nhố bọn trẻ trứng gà trứng vịt. Đứa nào đứa nấy thò lò mũi xanh, gương mặt nhem nhuốc nhưng đôi mắt trong veo. Tất cả chen chúc giữa những khung cửa hẹp và trống trải, nhìn lơ láo ra ngoài trời mưa. Thỉnh thoảng bên vệ đường lại có đôi ba đứa đầu đội trời chân đạp đất tíu tít chạy... Ngày mưa, chúng không còn niềm vui nào hơn thế!

Một ngày chớm hạ, đã thấy lẻ loi trong nắng đôi ba cơn gió Lào vu vơ thổi, nhà báo Huy Bình- Trưởng phòng Chuyên đề, đài Phát thanh- Truyền hình Quảng Bình gọi điện:

- Mai mình đi Lòm- Minh Hoá, Hiền đi không?

- Có chi mới à, anh?

- Đó là một ốc đảo! Và xa nữa, xa lắm... Nếu đi thì mai 5 giờ có mặt tại đài!

Vài lời ngắn gọn nhưng nhiều ẩn ý của nhà báo Huy Bình vô tình đánh thức một chút phiêu lãng nghề nghiệp đã ngủ yên trong tôi. Đúng hẹn tôi có mặt tại đài. Chiếc Landcriuzo và tay lái lãng tử Nguyễn Tiến Vinh đưa chúng tôi lên đường đúng vào lúc trời đất bỗng nổi cơn gió bụi và mưa... Từ đó chúng tôi đi trong mưa, khi nhặt... khi thưa.... Nhà báo Huy Bình vẫn vô tư cười nói như bản tính thường ngày của anh.

Chúng tôi đến ngã ba Pheo thì mưa nặng hạt, trong quán nhỏ ven đường 2 chiếc xe loại "chiến binh đường rừng" của Huyện uỷ và Hội đồng nhân dân Minh Hoá đã đợi sẵn. Trước khi xuống bàn bạc với lãnh đạo huyện, nhà báo Huy Bình củng cố tinh thần chiến hữu:

- Quyết tâm đi nhé! Lên trên đó trời sẽ tạnh thôi!

Chúng tôi nhất trí:

- Đi chớ, chẳng lẽ đội đàng non nước lên đây uống vài ly, nói vài điều rồi về thì mất công quá.

Lên bản ngày mưa - ảnh 1Hình như các vị lãnh đạo huyện cũng trong tâm thế ấy nên chỉ sau vài phút chào hỏi, Huy Bình đã hớn hở trở lại và cả đoàn xe với mười mấy con người tiếp tục rẽ màn mưa đi giữa những lèn, những núi. Anh thông báo vắn tắt:

- Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân huyện tổ chức một đoàn gồm nhiều cơ quan chức trách như: Tuyên giáo, dân vận, phụ nữ, y tế... lên khảo sát tình hình đời sống của bà con trên đó luôn. Lãnh đạo huyện có ông Đình Hội đồng, ông Định Huyện uỷ, tí nữa ghé đón đại diện xã Trọng Hoá nữa là đủ đội hình.

Lúc này cameramen Thái Phương đã tỏ ra ái ngại thực sự. Anh buột miệng:

- Trời mưa ri không biết quay cóp được chi không?!

Cái gạt nước "cán bộ đường lối" Nguyễn Tiến Vinh điều chỉnh cho quơ qua quơ lại liên hồi phía trước chẳng giúp Thái Phương xua đi tâm trạng ấy mà hình nhu còn làm anh nóng ruột thêm. Đây là lần thứ 2 tôi lên bản. Ngẫu nhiên cả 2 lần đều gặp mưa rừng. Lần đầu tiên chúng tôi đến bản của đồng bào Rục- xã Dân Hoá, mưa trắng trời. Con đường luồn dưới vòm xanh. Tiếng lá, tiếng mưa và tiếng chim lẻ thảng thốt rơi trong thinh không làm cho không gian vời vợi dài sâu và trầm buồn mênh mang... mênh mang... Một cảnh huống mà người tinh tế lắm cũng khó nói được những lời ý nhị hơn. Và hôm nay, dưới cơn mưa chuyển mùa, qua đại lộ Hồ Chí Minh hoành tráng, vào một lối rẽ từ đường 12A chứng tích thời đánh Mỹ, chúng tôi vượt ngầm Lơnong, qua Pachoong, qua Ramai, qua Si trong, Si ngoài... Mưa ràn rạt ngoài ô kính, ngước lên đỉnh đồi mây mù vương vít, ngó xuống thung sâu màu mưa nhuộm trắng lá rừng, lưng chừng núi thấp thoáng dáng vẻ nguyên sơ, đơn độc những nếp nhà sàn mái lá, phên tre bạc thếch thời gian... Cảnh sắc lắm hồn vía ấy vốn là lẽ tất dĩ đương nhiên của miền sơn cước ngày mưa nhưng sẽ gợi cho ai đã sẵn nhiều ẩn ức thêm một nỗi u hoài vô định- nỗi u hoài tinh khiết và nên có trong đời.

Trời vẫn đều đều mưa, hạt thưa... hạt nhặt...

*

Từ trung tâm xã Trọng Hoá lên Lòm trên xe chúng tôi có thêm một nhân vật đặc biệt - Hồ Phin, Phó bí thư đảng uỷ xã Trọng Hoá. Hồ Phin là "con tin" nhà báo Huy Bình bắt sống được tại Uỷ ban nhân dân xã để tranh thủ khai thác tư liệu trên đoạn đường gần 30 km từ đường 12A đến Lòm. Hồ Phin 40 tuổi, người Khùa, cán bộ đầu tiên của xã Trọng Hoá vừa tốt nghiệp lớp cao học chính trị tại Đà Nẵng về. Hồ Phin tỏ ra hoạt ngôn và khá lạc quan khi nói về thực tế quê hương của anh. Tuy nhiên những thông tin chung chung đầu tiên chúng tôi nắm được vẫn rất đáng ngại: Năm 2003, Trọng Hoá được tách ra từ xã Dân Hoá, dân cư phân bố ở 16 bản, 100% đồng bào dân tộc Khùa và các tộc người: Mày, Sách thuộc dân tộc Chứt. Hiện nay các bản dọc đường 12A đã khá hơn do giao thông thuận tiện, nhưng ở Pachoong, Ra Mai, Cha cáp, Si ngoài, Lòm... vẫn còn vô vàn khó khăn. Do đó xã Trọng Hoá thường xuyên bảo lưu con số hơn 80% hộ đói. Đặc biệt bản Lòm đang tồn tại trong hoàn cảnh thiếu đủ thứ. Không đầu, không cuối, với giọng nói đậm chất núi rừng và thiệt thà hết nỗi, Hồ Phin say sưa kể về đời sống của đồng bào Trọng Hoá: Hồi trước còn khổ hung, không đường sá chi, người mấy bản trong rừng muốn chợ búa bán chai mật ong, con chồn, con nhím... chỉ có rúc dưới cây men theo khe suối mà đi. Từ Lòm ra đến đường 12A có khi mất cả ngày, bán xong mọi thứ trời đã tối, gặp mô ngủ đó không thì mò mẫm trong đêm đen mà về. Nắng đẹp còn đỡ khổ, mưa thì không rừng rú chợ búa chi được, những lúc như rứa nhiều nhà ngồi ngó nhau nhịn đói. Bữa ni có đường chính phủ đỡ hung rồi... Anh bỗng chuyển giọng: Mà hôm ni trời mưa to ri e mình khó vô được Lòm, đường đang làm dở, lầy lắm, xe không chạy nổi... Gắng cũng đến RaMai là cùng...!

Nhà báo Huy Bình lo lắng nhưng cũng cố trấn an: Lúc nãy ở xã, các xếp bảo cố gắng "vào càng sâu càng tốt", chắc không đến nỗi nào... Chỉ sợ không có đường, có đường rồi xe đặc chủng của chúng ta sẽ qua cả thôi!

Trời đang mưa. Chúng tôi bắt đầu đi vào đoạn đường vừa lổn nhổn đá sỏi, vừa dốc, vừa trơn. Gã lãng tử Nguyễn Tiến Vinh không còn ngâm nga vài khúc tình ca uỷ mị nữa. Anh cầm chắc tay lái, dán chặt mắt xuống mặt đường, im lặng... Loáng thoáng sau ô kính những nếp nhà hắt hiu và lố nhố bọn trẻ trứng gà trứng vịt. Đứa nào đứa nấy thò lò mũi xanh, gương mặt nhem nhuốc nhưng đôi mắt trong veo. Tất cả chen chúc giữa những khung cửa hẹp và trống trải, nhìn lơ láo ra ngoài trời mưa. Thỉnh thoảng bên vệ đường lại có đôi ba đứa đầu đội trời chân đạp đất tíu tít chạy... Ngày mưa, chúng không còn niềm vui nào hơn thế!

Vượt khỏi ngầm Lơnong, chúng tôi qua bản Hà Nông- xã Dân Hoá, gần đến Pachoong người bạn đường chung thuỷ của Nguyễn Tiến Vinh bỗng trở nên trắc nết, rì rì được một quãng ngang lưng chừng dốc thì dừng hẳn. Phía trước 2 chiếc xe của huyện Minh Hoá đang liên tục lạng lách vỏng vẽo với vô chừng ổ voi, ổ trâu. Xem chừng các tay lái lụa của huyện đã quá quen với những con đường như thế này, còn Nguyễn Tiến Vinh thì ra sức uốn lượn từ bên này sang bên nọ nhưng chiếc xe vẫn ì ì đáp trả. Có vẻ bó tay, anh phán: "Xuống xe thôi!". Huy Bình, Thái Phương quần xắn móng lợn, để nguyên giày tất nhảy xuống ngay vũng lầy, ra sức đẩy. Bốn bánh của chiếc Landcruizơ chinh chiến trượt qua trượt lại mấy lần rồi đứng yên. Trời vẫn lắc rắc mưa. Với kinh nghiệm của mình, Nguyễn Tiến Vinh hô hào mọi người dùng đá sỏi của các đơn vị làm đường đang tập kết gần đó chống lầy cho xe... Hiệu quả rõ rệt, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Phía trước, con đường là một thử thách mới. Sự căng thẳng đã thay cho vẻ lạc quan yêu đời vốn luôn có sẵn trên gương mặt phong trần của Nguyễn Tiến Vinh.

Dù sao tất cả cũng đến hồi kết... Chúng tôi đành phải dừng chân ở Si Ngoài, cách Lòm non 10 cây số, trong sự tiếc nuối của nhà báo Huy Bình.

*

Si Ngoài là bản làng với gần 20 nóc nhà của người Mày. Khi chúng tôi đến trời cũng vừa tạnh mưa. Như bị cầm chân lâu ngày, lũ trẻ từ các nếp nhà sàn ào ra khoảng đất trống giữa bản, hò hét ầm ĩ. Như đã có một sự phân chia công bằng, đứa có áo thì thôi quần, đứa có quần thì thôi áo. Lũ lợn gà ướt lướt thướt đứng đờ đẫn dưới gầm nhà, bên chân cầu thang cũng bị khua khoắng, giật mình táo tác chạy. Như một trò đuổi bắt thú vị: Gà qué chạy trước, lũ trẻ chạy sau và sau nữa: Bầy lợn con thả rông. Đang náo nhiệt, cả bản trở nên ngơ ngác khi bỗng nhiên có liền một lúc mấy chiếc xe lừ lừ đỗ xịch ngay khoảng trống lũ trẻ đang đua nhau chạy nhảy. Bị chiếm mất chỗ chơi cả bọn kéo nhau trèo lên mấy hàng rào quanh đó, đứa đứng đứa ngồi, tóc tai chân cẳng bê bết như những chú gà con ướt mưa, co ro nghiêng ngó những kẻ xa lạ, mắt lấp lánh niềm vui hiếu kỳ. Bản Si Ngoài ở độ cao 600m so với mặt nước biển, là điểm cao nhất của xã Trọng Hoá. Quá trưa, bầu trời rạng hẳn, trên đỉnh những ngọn núi xung quanh Si, mây mù bắt đầu loảng dần. Mé đồi xa lấp loá những vạt nắng vàng và trong vắt. Bây giờ chúng tôi đã có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát khung cảnh đẹp như tranh thuỷ mặc cả một vùng bao la phía đông và dáng hình mảnh như lụa của con suối Cà-óoc cách xa hàng mấy cây số.

Suốt dọc con đường đưa chúng tôi lên Si Ngoài, rải rác trên triền đồi, gần khe suối và các thung lũng hẹp những bản làng của đồng bào các tộc người nằm chung trong hệ thống của dân tộc Chứt. Mỗi bản chỉ tập trung mươi, mười lăm nóc nhà đổ lại. Theo lịch sử dân tộc học Việt Nam: Dân tộc Chứt có thời gian cư trú ở nước ta ít nhất khoảng trên 500 năm và sử dụng tiếng Việt-Mường cổ, ngôn ngữ Môn-Khơme, ngữ hệ Nam Á. Cho đến nay hầu như các tập tục văn hoá, tín ngưỡng và ngôn ngữ của các tộc người này vẫn còn được bảo tồn và gìn giữ. Khi chúng tôi đến, người lớn trẻ con giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ riêng. Số người có thể sử dụng tiếng Việt phổ thông thành thạo không nhiều. Dưới mỗi nếp nhà sàn đơn sơ đến độ tuềnh toàng, những luật tục bất thành văn được thầm lặng trao truyền bền chắc qua nhiều thế hệ. Tại nhà Hồ Bằng, một người đàn ông chưa qua tuổi tam thập, một vợ 5 con, kiếm sống chủ yếu là vô rừng săn thú, xuống khe bắt cá và trồng sắn trên rẫy, chúng tôi được mời ngồi ở gian phía trái. Trong đời sống của dân tộc Chứt, gian trái là gian linh thiêng, chỉ dành cho khách quý, đàn ông và đặc biệt là nơi linh hồn người chết trở về, nơi người chủ nhà sẽ quay mặt vào góc để cầu trời khấn phật mong tìm thấy sự bình yên trong ngôi nhà của họ. Đàn bà trong gia đình tuyệt nhiên không được bước chân vào gian trái, đây chúng tôi đã thưởng thức món xôi sắn và nước cỏ máu. Hai đồ ăn thức uống thường ngày của đồng bào. Cá dưới khe, măng trên rừng... sẵn cả đó nhưng không phải bao giờ cũng có. Đó là những thứ thực phẩm xa xỉ. Họ chỉ có những bữa ăn ngon khi trong bản có ma chay cưới hỏi. Nhà có đám dù buồn hay vui, dù giàu hay nghèo vẫn chiêu đãi dân bản ăn uống linh đình ba ngày ba đêm ròng rã. Trong đời sống hôn nhân của một cặp vợ chồng ở dân tộc này đám cưới được tổ chức vài lần, như kiểu đám cưới vàng, đám cưới bạc, đám cưới kim cương phổ biến ở phương Tây. Nhưng mỗi khi nói lời giã biệt sự sống thì ngược lại, không hương khói cúng kỵ giỗ chạp như người Kinh. Sau ba ngày ma chay và chôn cất xong là không còn gì trong tâm thức người sống nữa. Mồ mả xác thân gửi lại núi rừng. Đối với người Chứt, quả trứng được xem như "ông thầy địa lý" chọn đất cát chôn người chết. Khi đưa ma đến một vùng định sẵn, người ta sẽ tung quả trứng ra xa, quả trứng vỡ ở đâu người chết sẽ được chôn ở đó, không kể dưới huyệt có cái gì. Thế mới có chuyện hai người nằm chung một chỗ do quả trứng vỡ ngay nơi trước đó đã có người chôn. Khái niệm cái chết và sự sống tồn tại đơn giản trong đời sống tâm linh của đồng bào các tộc người ở đây. Câu nói: "Không ưng sống nữa thì chết!" thực chất là một quan điểm nhân sinh. Trở lại với cuộc sống thực tại của người Mày ở bản Si Ngoài, ở nhà Hồ Bằng xôi được bới ra một chiếc chõ lớn. Chõ được sử dụng như chiếc mâm của người Kinh, mặt chõ to khoảng bằng cái mẹt sàng gạo của cư dân lúa nước, đặt trên một đế cao tựa như chiếc kiềng úp bát đũa của người vùng Nam Quảng trạch. Mọi thứ được đan bằng cật mây. Xôi sắn ăn với muối sống trộn ớt bột và mỳ chính. Lạ miệng nên ai cũng thưởng thức như một loại đặc sản. Còn dân bản: "Không ăn cái ni thì biết ăn chi?!". Ở đây sắn không thiếu nhưng gạo rất hiếm. Gia đình trồng được nhiều nếp nương nhất chỉ thu hoạch khoảng vài tạ mỗi năm. Không đủ ăn là cầm chắc! Một năm vài đợt hỗ trợ của Nhà nước như muối bỏ biển. Tuy nhiên điều lãnh đạo huyện Minh Hoá quan ngại không phải ở chỗ hỗ trợ nhiều hay ít. Ngày nay lo cho đồng bào đủ ăn là chuyện nhỏ của nhà nước ta, vấn đề là từ sự đùm bọc tuyệt đối ấy sẽ tạo ra trong đồng bào tâm lý trông chờ, ỷ lại. Chuyện rằng: Đồng bào thiếu lương thực thật! Vậy mà thông báo ra xã nhận gạo thì không ai đi. Hỏi: Vì sao? Trả lời: Xa, mình không đi. Xã đành phải tổ chức chuyên chở gạo vào tận nơi để cấp phát.

Thế nhưng khó khăn nhất vẫn là sự học. Các chiến sỹ đồn biên phòng RaMai cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng học với bà con năm này qua năm khác vẫn không ăn thua. Điệp khúc: Mù- xoá mù- tái mù tưởng làm nản lòng các cơ quan chức trách. Khi tìm hiểu về công tác xoá mù ở Trọng Hoá, tôi không quan tâm lắm đến những con số, dù biết rằng để có chừng đó lớp học, chừng đó con người chấp nhận ngồi yên một chỗ để nghe các thầy giáo biên phòng lên lớp, chính quyền xã, ngành giáo dục, bộ đội biên phòng phải trải qua biết bao khó khăn, dùng đủ bài dân vận. Theo tôi cái cơ bản chúng ta đang hướng đến là có được mấy người trong số đó hiểu ra rằng: Học để làm gì ở ngay trên cái bản làng đang thiếu đủ thứ của họ. Con trai đầu nhà Hồ Bằng sắp đến tuổi cập kê học đi học lại mãi vẫn chưa quen con chữ, trường lại xa nên nghỉ lâu rồi. Hồ Bằng giải thích: Học không được thì thôi, học làm chi?! Dù con đường đã mở, bà con vẫn không thiết tha hướng về phương mặt trời mọc. Ngoảnh mặt vào rừng chỉ một buổi... một ngày... sẽ có cái gì đó để ăn. Xuôi theo con đường đến trường, bước về phía có nguồn sáng văn minh, ước mong đổi đời còn vời vợi. Cái bụng đói thì cái đầu cần gì con chữ. Thôi đành quẩn quanh nơi đầu suối cuối rừng. Có cảm giác mục tiêu miền núi tiến kịp miền xuôi nhiều khi thật "hoang tưởng".

Ngồi trong nhà Hồ Bằng nhìn mung lung một lượt quanh bản và thương cho cuộc sống của đồng bào, tôi bỗng nhớ một câu chuyện vui anh em thường đùa cợt mỗi lần đi công tác. Kể xong cười rần rần cả bọn. Bây giờ ngồi ở nơi này trong lòng lại thấy thật thương. Câu chuyện không mới: Một anh chàng thành thị lên bản. Ngày đầu tiên, thốt lên thú vị: Chim kêu, vượn hót, oxy nhiều, khác chi đi du lịch sinh thái mô, sống ri mới ra sống chớ! Ngày thứ hai: Ri cũng được... đều hơi buồn! Ngày thứ ba: Văng tục. Sống ri mãi răng mà sống được, bây?!

Vậy mà người dân tộc ở Trọng Hoá, Minh Hoá và nhiều nơi khác đã sống như thế hơn 500 năm rồi đó!

*

Khi đoàn công tác của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân huyện Minh Hoá hoàn thành công việc khám bệnh cấp thuốc và phát quà cho bà con, trời đã ngã bóng. Vượt qua một chỗ lầy ngay đầu bản, chúng tôi trở về. Ông Đình Hội đồng có ý định dừng chân ở bản RaMai để kiểm tra việc dựng nhà mẫu trong khuôn khổ dự án xây nhà hỗ trợ đồng bào- món quà ân tình Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh tặng. Ngay cửa ngõ bản RaMai, một ngôi nhà sàn bê tông cốt thép, thưng gỗ, lợp tôn lạnh- loại tôn xanh đỏ tím vàng thường thấy ở mái nhà xưởng các khu công nghiệp. Bước lên cầu thang: vào nhà. Bước ra khỏi nhà: trời đất. Trị giá hơn 40 triệu đồng. Trong đoàn công tác có người thốt lên: "Nhà chi mà trụi thụi lụi như con gà côốc cụt đuôi, cụt cánh!". Ông Đình Hội đồng tỏ vẻ không vừa ý với mô hình này. Ông ấy có lý bởi ngôi nhà là nơi thể hiện hồn phách của cả một cộng đồng người. Hồn phách ấy là gì? Phong tục tập quán! Văn hoá truyền đời! Ý thức thẩm mỹ! Đối với người dân tộc đó còn là nơi giao hoà thân thiện với thiên nhiên rừng núi, nơi họ gửi gắm sự sống, nơi đùm bọc chở che họ trọn đời. Nhìn lại những ngôi nhà sàn mái tranh, phên liếp giản dị mà thân thiện với khung cảnh đã ấp ôm che chở cho đồng bào từ bao đời qua chợt nhận ra sự lạc lõng đến không chấp nhận nổi của mô hình nhà thử nghiệm mới dựng. Một bên cũ kỹ mà nặng hồn nặng vía, một bên màu mè mà lạnh lùng tách biệt. Một bên thấp nhỏ, mảnh mai mà khoáng đạt ấm áp, một bên cổ kim giao lưu, ngược xuôi trộn lẫn đến khó thương, khó mến. Đồng bào dân tộc lạc hậu đấy, chậm tiến đấy nhưng văn hoá truyền thống của họ là những gì sâu thẳm và vời vợi cao như trời xanh. Nắm bắt được không dễ! Muốn đến với họ lâu dài phải đi chung trên con đường văn hoá. Cho họ ngôi nhà phải là ngôi nhà được dựng lên trên nền móng văn hoá. Trị giá tiền bạc cao hay thấp, ngôi nhà to hay nhỏ không quan trọng. Một số nơi làm nhà cho bà con, bà con nhận mà không ở, đơn giản vì: "Mình không thích". Không thích do xa rời văn hoá bản địa, ly khai tập quán phong tục. Một bài học nhãn tiền! Là người gắn bó với đồng bào dân tộc nhiều năm, ông Đình thấu hiểu điều đó.

Nhìn ngược ngó xuôi, vô trong rồi lại ra ngoài, càng nhìn càng không ưng ý và không thể thay đổi ngay lập tức được, ông nói: "Thôi chúng ta về!" Nhưng trước khi lên xe ông dặn: "Mọi người về trước, tôi còn phải đi!". Ông tiếp tục vòng sang Dân Hoá để tham khảo mấy ngôi nhà cũng làm bằng nguồn hỗ trợ của UBND thành phố Hồ Chí Minh. Nghe nói nhà bên ấy trông được lắm! Chuyến công cán của ông Đình Hội đồng chưa kết thúc. Chuyến đi của chúng tôi mới được thực hiện quá nửa. Mấy vị chức sắc của huyện Minh Hoá trong đoàn thất vọng ngắn dài. Bản Lòm đang ở phía trước...

Nhà báo Huy Bình ra chiều quyết tâm :

- Mình sẽ phải đi thêm một lần nữa !

Vâng! Xin nhà báo Huy Bình yên chí! Hồi trước vào các bản Mòo, ồ ồ...của đồng bào Rục, mỗi lần đến nơi là một chiến công. Bây giờ vào đó cứ như một chuyến tham quan. Đi Lòm rồi cũng thế thôi. Đơn giản! Xe máy lạnh, đường rải thảm êm như nhung, đi đâu mà chẳng được!

Hy vọng thế! Hy vọng nhiều hơn thế...! Và một ngày nào kia anh chàng Phó chủ tịch Mặt trận Trọng Hoá sẽ phải nghĩ lại câu nói có phần chủ quan của mình: "Việt Nam nghèo nhất Quảng Bình, Quảng Bình nghèo nhất Minh Hoá, Minh Hoá nghèo nhất Trọng Hoá, Trọng Hoá nghèo nhất bản Lòm".

 

Vĩ thanh:

Mới rồi, các đồng nghiệp của tôi đã có một chuyến công du lên Minh Hoá. Họ đã được các vị lãnh đạo huyện mời thăm một số điểm nhấn quan trọng trong bức tranh kinh tế- xã hội huyện nhà sau 20 năm tái lập. Cửa khẩu Quốc tế Cha Lo. Đập thuỷ lợi Ba Nương. Lèn Bảng. Bản làng của đồng bào Rục... Và vì nhiều lý do, hành trình của họ phải dừng lại ở bản RaMai mặc dù nhiều điều thú vị vẫn còn đang ở phía trước... Như vậy có nghĩa là cũng như tôi, với họ... bản Lòm vẫn còn xa. Tuy nhiên, nghe nói con đường ngày ấy tôi qua nay đã êm ả hơn nhiều, những con phố nhỏ ở thị trấn Quy Đạt thì chẳng khác những con đường ở thành phố Đồng Hới là bao.

Ước gì tôi có thêm một lần nữa được trở lại Minh Hoá, để không chỉ “nghe con chim nó hót, nghe con suối nó trào”, để không chỉ được ngồi xổm nhâm nhi vị béo bùi của món bồi truyền thống và tận hưởng món cá mát ngọt tựa nước suối nguồn dưới mái nhà sàn đồng bào Rục như ngày nào, mà còn để cảm nhận sâu hơn về những đổi thay của vùng đất đậm đà bản sắc này./.

Ký sự của Trương Thu Hiền

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác