Kể tiếp một truyền thuyết

Có một ngày đẹp trời ngẫu hứng bất tử bám càng mấy anh lính Biên phòng lên rẻo cao Thượng Hóa, nơi cách mặt nước biển trên ngàn mét, chỉ có mây trôi và gió lượn, chỉ có núi thâm u và rừng đại ngàn sâu thẳm, tôi đã lặng người trước một ruộng lúa đang mùa gặt của đồng bào Rục, và câu chuyện truyền thuyết mẹ kể ngày ấu thơ tôi bỏ quên góc nào trong tiềm thức chợt bừng tỉnh…

Chuyện Vua Hùng: "Thuở xưa, nhân dân chưa biết cày cấy làm ra thóc gạo mà ăn, chỉ sống bằng thịt thú rừng, rễ cây, quả cây và các loại rau dại, lúa hoang nhặt được. Các vùng đất ven sông hàng năm được phù sa bồi thêm màu mỡ. Vua Hùng thấy đất ấy tốt mới gọi dân đến bảo tìm cách đắp bờ giữ nước. Vua thấy lúa mọc hoang nhiều mới bày cách cho dân gỡ hạt, gieo mạ. Khi mạ lên xanh thì đem cấy vào các tràn ruộng có nước. Lúc đầu dân không biết cấy, tìm hỏi Vua. Vua Hùng nhổ cây mạ lên, đem tới ruộng nước, lội xuống cấy cho dân xem. Mọi người làm theo. Từ đó dân ta mới biết trồng lúa, làm ra hạt thóc…"

Bắt đầu từ mấy ngàn năm trước, hôm nay truyền thuyết ấy vẫn chưa kết thúc. Lính biên phòng Quảng Bình cũng đang dạy dân trồng lúa.

Kể tiếp một truyền thuyết  - ảnh 1
Đồng bào Rục và Bộ đội biên phòng thu hoạch lúa


Đường Hồ Chí Minh. Đường 12A. Đường vào Rục. Và… một cánh đồng trong thung lũng. Tại đại bản doanh của “Bộ chỉ huy dự án giúp đồng bào Rục trồng lúa nước”- Đồn Biên phòng 585, Trung tá đồn trưởng Trịnh Thanh Bình kể cho chúng tôi nghe hành trình cây lúa miền xuôi lên miền ngược. Không phải đến bây giờ những người lính Biên phòng Quảng Bình mới nghĩ đến chuyện làm thế nào để có nguồn lương thực tại chỗ cho đồng bào dân tộc mà vào những năm 2000 đầu tiên đã có một người lính khi mang ba lô lên nhận nhiệm vụ ở Cà Xèng - Thượng Hóa, trong hành trang của anh còn có thêm những hạt giống được lấy từ đồng đất quê nhà. Đó là Thiếu tá Phạm Bá Tuyên- Đội vận động quần chúng đồn BP 585, người quê Quảng Tiên- huyện Quảng Trạch. Tuyên sinh năm 1966, đi bộ đội hơn 20 năm nhưng đã có quá nửa thời gian ấy ở Cà Xèng. Lực lượng Biên phòng luân chuyển thường xuyên, mới gặp nhau ở vùng biển dạt dào sóng vỗ ít lâu sau đã thấy thấp thoáng dưới những nếp nhà sàn vùng biển ải phía tây. Sao Tuyên cứ ở mãi trên này? Không lẽ chàng đã có một nửa của mình? Sau mới biết Tuyên ở lại là do ý nguyện tha thiết của đồng bào Rục “Không có bộ đội Tuyên e lúa không ra được óc (hột)”. Tuyên đã trở thành Thần nông của thung lũng Rục Làn. Trong hồi ức của đồng bào Rục, sự hiện diện lần đầu tiên của cây lúa nơi vùng đất này thật kỳ diệu. Khởi đầu là mảnh ruộng con con bộ đội khai hoang từ những vuông đất nằm ven suối Rục Làn. Như những nhà nông thực thụ, lính biên phòng cũng cày bừa, cũng be bờ đắp đập, cũng ngâm giống đổ ải, rồi cấy, làm cỏ, bón phân… Đồng bào thấy lạ rủ nhau ra xem: “Ui ui, bộ đội bẩn quá. Dân bản mình không làm, không làm mô. Mấy đời ni đi rừng làm rẫy quen rồi. Tổ tiên cho con mang, con nai, cho cây nhúc cây đoác rồi, đưa cây lúa về bản e tổ tiên không ưng, tổ tiên quở phạt dân bản đau như mấy năm trước dân bản theo bộ đội bỏ hang ra bản thì chết hết. Miềng sợ lắm mà!”. Nhưng, lúa đứng cái, làm đòng, chắc mẩy, uốn câu… và ngả vàng. Đồng bào dân tộc ngỡ ngàng nhìn cánh đồng mỗi ngày mỗi khác, không hiểu vì sao những cái cây nhỏ nhắn và mảnh mai còn hơn đám cỏ tranh bời bời trên triền núi mà bộ đội lại làm cho hắn mọc ra vô vàn óc vàng tròn căng nuôi sống dân bản mình. Ngày bộ đội ra đồng gặt lúa, cả mấy bản trong vùng rộn ràng như mở hội. Xã Thượng Hóa hiện có 94 hộ, 375 người Rục (tăng gấp 12 lần so với nửa thế kỷ trước, đây là con số ấn tượng chứng tỏ người Rục đang hồi sinh), định cư ở ba bản Ón, Yên Hợp và Mò O Ồ Ồ, nhưng vui nhất vẫn là ông Trần Trực - trưởng bản Yên Hợp, bởi ông được bộ đội giao cho đứng tên mảnh ruộng này. Dáng người thấp nhỏ đen đúa như một thân cây, ông Trực ngập trong vạt lúa gặt dở cười tươi như nông dân vào hợp tác những năm thập kỷ 60 thế kỷ XX, vừa gặt theo hướng dân của bộ đội vừa nói oang oang như để dân bản cùng nghe mà học tập. Tiếng ông vọng cả vào lèn sâu: “Khi Bộ đội Biên phòng họp dân để làm lúa nước, dân bản không ai hiểu cây lúa nước là chi, ai cũng sợ đưa cây lạ về bản sẽ bị tổ tiên trách phạt vì trái tục của người Rục. Bộ đội nói đây là cây lúa Bác Hồ, làm lúa là có gạo, không đói cái bụng nữa. Tổ tiên cũng như Bác Hồ mong cho người Rục no ấm. Miềng nghe, miềng ưng, miềng mần, chừ được to. Cả nhà miềng, vợ con miềng sướng cái bụng lắm. Bác Hồ với tổ tiên e cũng mừng cho miềng”. Đứng cạnh ông Trực, bà Cao Thị Thiện cười phô cả hàm răng đen nhánh “Nhờ ơn bộ đội Biên phòng nhà miềng mần được óc lúa ri là mừng lắm rồi. Thu hoạch xong miềng mần tiếp. Kêu cả bản cùng mần nữa…”

Cuộc đời tôi đã đi qua biết bao mùa gặt ở quê nhà. Đồng đất ấy, cây lúa ấy, hương đồng ấy, tôi quen mà không chán. Điệp khúc mùa vàng hiển nhiên sống thân thuộc trong tiềm thức tôi. Tôi không nghĩ lại có một ngày chính cây lúa an lành ấy lại có thể làm tôi choáng ngợp và phấn khích như một đứa trẻ. Dưới chân dãy núi hình vòng cung phía tây, màu vàng rực rỡ của lúa, màu xanh thăm thẳm của núi ngàn, màu lãng đãng mơ màng của không gian biên ải và mây ngàn trắng như bông lơ lửng phía trên cao đã tạo cho miền sơn cước khung cảnh vừa trữ tình vừa xa vắng. Tôi lội ào xuống ruộng cũng tíu tít, vồ vập như người chưa bao giờ thấy lúa. Lũ trẻ không ngại ngần lăn lê bò toài trên thảm vàng bộ đội vừa chất lên, những đôi mắt tròn xoe, trong veo sáng rực trên những gương mặt nhem nhuốc hình như lâu ngày chưa được mẹ rửa mà sao thật xinh, miệng nhâm nhi từng hạt lúa xem chừng rất thú vị. Vụ mùa thử nghiệm ấy, lúa trong thung lũng Rục Làn đạt năng suất 35 tạ/ha. Nhà Cao Trực tự giác không nhận lương thực trợ cấp của Bộ đội Biên phòng. Đó là vào năm 2009. 50 năm trước lính Biên phòng đưa người Rục từ hang đá tối tăm mông muội bước ra ánh sáng. 50 năm sau lính Biên phòng lại đưa người Rục từ cuộc sống đói nghèo bước sang no ấm.

*

Bắt đầu từ năm 1959, xưng danh tộc người Rục mới bắt đầu đứng vào cuối hàng tên các dân tộc Việt Nam. Người Rục - một nhóm thuộc dân tộc Chứt được xem là người em út lưu lạc trong đại gia đình con Lạc cháu Hồng. So với các dân tộc khác như Vân Kiều, Thái, Mường… đây là một thiệt thòi lớn. Khi đưa điều này ra bàn trong bữa cơm thân mật nhân dịp bộ đội 585 cùng bà con làm lễ xuống đồng gieo vụ mới trung tuần tháng Giêng vừa rồi, tôi đã nhận được sự đồng cảm của một người lính, đại úy Hà Văn Hải. Hải người Mường- Ngọc Lặc- Thanh Hóa, nhập ngũ là vào ngay Quảng Bình, lấy vợ rồi gửi rể. Gần 20 năm mang ba lô đi khắp các tuyến, Hải ở Cà Xèng đã 5 năm. Anh thổ lộ là sẽ cắm chốt luôn ở 585 cho đến ngày giải ngũ. Người Mường - một người anh em song sinh với người Kinh. 75% ngôn ngữ Mường tương đồng với ngôn ngữ Kinh, nên giọng Hải lơ lớ như một ông Tây sõi tiếng Việt. Được cái rất hay chuyện nên Hải tỏ ra là người đàn ông khá thú vị. Cũng như Thiếu tá Tuyên, Hải có mặt từ những ngày cắm cây mạ đầu tiên trên cánh đồng Rục Làn. Anh nói đồng bào Mường quê hương anh cũng thuộc dân tộc thiểu số nhưng không xa lạ với cây lúa như đồng bào Rục ở đây, bởi người Mường có tín ngưỡng thờ Thần Lúa. Vào mùa gặt người Mường làm những cái lều nhỏ trên các thửa ruộng thiêng để gọi thần lúa về đó trú ngụ (thường là những thửa ruộng gieo đầu tiên và gặt sau cùng). Hạt lúa ở ruộng thiêng được cất giữ tử tế và làm giống cho năm sau. Khi bước vào vụ trồng lúa mới, người ta lại chọn trong số lúa thiêng hạt to, mẩy, rước quanh đồng để hồn lúa bay ra "nhập" vào những cây mạ mới cấy, với hi vọng làm cho chúng nảy mầm, phát triển nhanh và cho họ những hạt thóc to khoẻ. Hải tâm sự: Hôm nay chỉ huy Đồn tổ chức lễ xuống đồng tôi nhớ quê tôi. Ngày còn sống mỗi khi vào vụ cấy và sau mỗi vụ gặt cha tôi đều làm mâm cơm tươm tất cúng ông bà tổ tiên. Đồng bào Mường- Thanh Hóa coi cây lúa là cây thần. Có lẽ với đồng bào Rục tâm lý ấy cũng đang len vào suy nghĩ mỗi người. Nhớ những ngày đầu tiên đưa cây lúa lên đây, đồng bào ai cũng nói “Bộ đội mần miềng coi thử cái đã”. Đúng là bộ đội chúng tôi mần để bà con coi. Bây giờ thì không cần vận động, thấy có lợi ích thực sự nên bà con đã tự giác. Từ một mảnh ruộng con con mấy năm trước, hôm nay trên thung lũng Rục Làn đã có hẳn một cánh đồng đúng nghĩa. Với dự án xây dựng đập nước Rục Làn tổng kinh phí 4,5 tỷ đồng, Bộ đội Biên phòng đã khai hoang để làm 10ha lúa nước cho bà con. Trong năm 2011, người Rục đã có 2 “mùa vàng”. Năm nay, vụ mùa mới đã bắt đầu. Lễ Tịch điền của đồng bào Rục được tổ chức ngày 16 tháng Giêng. Vị trí chủ lễ đã được bộ đội biên phòng chính thức giao cho trưởng bản. Hôm ấy đồng bào cả mấy bản nổi lửa từ khi mây mù trên mái nhà chưa tan. Bà con cũng nấu cơm dâng cúng tổ tiên và Bác Hồ trước khi ra ruộng.

*

Không hiểu vì sao trong mỗi chuyến đi theo kiểu người trẻ hôm nay gọi là “Phượt” như thế này, chúng tôi thường có những bữa cơm ngon miệng. Trung tá đồn trưởng Trịnh Thanh Bình cười đấy ẩn ý: “Ngon là điều tất nhiên. Vấn đề là bữa cơm hôm nay rất đặc biệt!”. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, nhìn mâm cơm điểm diện: Rau dớn xào tỏi. Cá khe kho nước suối. Thịt gà bộ đội nuôi. Rau dền bộ đội trồng. Ngon nhưng chưa hẳn đặc biệt. Trung tá Trịnh Thanh Bình tiếp: Cơm bộ đội mới làm được. Không đặc biệt à? Những người khách ồ lên thú vị còn lính biên phòng cười rất tươi. Chủ đề bữa cơm hôm ấy lại loanh quanh cùng cây lúa. Tôi kể lại cho mọi người nghe chuyện Vua Hùng dạy dân trồng lúa từ ngàn xưa. Trung tá đồn trưởng tự hào: Chúng ta là con cháu Vua Hùng mà. Và ông tuyên bố: Từ hôm nay chúng tôi, bộ đội biên phòng 585 và đồng bào Rục chính thức ra mắt một thương hiệu hàng hóa chất lượng cao: Gạo Rục. Rất hóm hỉnh nhưng hàm chứa nhiều thông tin. Và có lẽ đó cũng là thông tin mới nhất tôi muốn chuyển đến những người nội trợ Quảng Bình trong bút ký này: Hãy tìm trên thị trường thương hiệu Gạo Rục. Đó là sản phẩm giao hòa của hương đất miền xuôi với khí trời miền ngược. Thơm. Ngon. Và ấm áp tình người.

Bút ký Trương Thu Hiền

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác