Hương sắc xuân Ninh Hoà

Hằng năm mỗi dịp xuân về, hoa đào hoa mai đua nở, người dân cố cựu Ninh Hoà như thấy thiếu vắng một số hình ảnh quen thuộc trong ngày Tết cổ truyền dân tộc, trước đây đã từng tồn tại qua nhiều thế kỷ. Ngày xuân, người viết xin nêu một số nét chính diễn ra trong dịp đón năm mới xưa ở Ninh Hoà.

Đến nửa tháng Chạp, người người, nhà nhà đều chộn rộn lo việc Tết nhứt. Trẻ nhỏ trông ngắn trông dài cho mau tới Tết, người lớn càng lo đủ lo thiếu lễ vật đón xuân. Bắt đầu rằm tháng chạp hầu hết các làng quê Ninh Hoà nhà nào cũng lo chế biến rim mứt bí đao, mứt gừng, mứt khoai lang, mứt dừa v.v… Thời xưa đó chỉ ở vùng biển ngư dân mới mua mứt bán sẵn dưới chợ, chứ dân nhà quê thì không. Dù giàu hay nghèo, nhà nào cũng tự chế biến các món ăn ngày Tết. Ngoài trừ đường cát, các thứ trái, củ… làm mứt không phải mua mà nhà nào cũng gieo trồng dự bị sẵn.

Người ta dùng cây xăm mua dưới chợ Ninh Hoà xăm các thứ bí đao, gừng hay gọt xắt khoai lang, ruột dừa khô… Sau nhiều công đọan tỉ mỉ sẽ thành rim mứt. So với sản phẩm bán ở chợ ngày nay thì rim mứt của người Ninh Hoà ngày xưa làm ra không bắt mắt nhưng chất lượng lại tuyệt hảo. Món nào ăn cũng ngon cũng thơm không hề có một chất gì độc hại. Ở làng quê Ninh Hoà thời ấy ngày xuân nhà nào cũng nấu xôi chè trộn với gừng và in cốm nếp. Những nồi bánh tét được nấu chín trước đêm giao thừa, ngọn lửa cháy bập bùng, nước trong nồi bánh sôi sùng sục, có những đứa nhỏ cố thức mắt nhắm mắt mở chờ cha mẹ vớt cho đòn bánh tét con con, để sáng mai mùng một Tết mặc áo quần mới cầm đòn bánh tét mừng tuổi cha mẹ anh chị. Một không khí đầm ấm đặc sắc tình quê làm sao!

Những món ăn phụ được làm sẵn qua ngày 23 tháng Chạp. Thời đó ở làng quê Ninh Hoà nhà nào cũng có món dưa cải làm chua, được trồng trước đó hơn một tháng. Người ta nhổ cải hăng đem rửa sạch phơi vừa héo và cắt ra từng đoạn dài khoảng hai ba phân. Sau khi trụng nước sôi để vừa ráo, cải dằm nước muối pha ít nước cơm vo gạo. Ngày ấy dưa cải chua mà chấm với nước hầm thịt ba chỉ gọi là thịt nhừ ấy cũng là hương vị ngon ở đồng quê Ninh Hoà.

Trẻ con có lệ cắt tóc trong những ngày áp Tết, để ngày đầu năm cái gì cũng đều mới, từ áo quần mới, dép mới, đầu mới (hoặc chừa ổ cu hay chừa mỏ át, đứa lớn hơn đến thợ cắt tóc thật ngắn gọi là hớt tóc ca-rê). Sáng ngày mùng một Tết trẻ nhỏ người lớn ra đường, áo quần mới toanh xanh vàng trắng hồng chen nhau, hiện rõ sắc xuân làng quê địa phương. Ngày nay những hình ảnh ấy chỉ còn lại trên bài văn và tranh vẽ.

Ấn tượng nhất của ngày xuân xưa là tiếng pháo, cây nêu, tiếng trống làng đón xuân, câu đối Tết, hát bội, hô đánh bài chòi… Tất cả âm thanh hình ảnh ấy càng làm cho lòng người đi chơi xuân thêm phấn chấn, tin tưởng những điều may mắn trong năm mới.

 

1. Cây nêu.

Ngày nay nếu có dịp đi về các làng quê ở gần núi, thỉnh thoảng ta còn nghe vài bà cụ già nằm tòn teng trên chiếc võng đưa cháu bằng điệu hát ru Ninh Hoà thật khoan thai tha thiết:

Cu kêu ba tiếng cu kêu

Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè

Chè gì chè đỗ chè khoai

Bắt tôi giã nếp canh hai chưa rồi.

Với các câu hát ấy luôn làm cho cây nêu hồi sinh hiện hữu lại trong ký ức. Cây nêu là một trong những biểu tượng thiêng liêng của ngày xuân cổ truyền dân tộc.

Ngày xưa ở Ninh Hoà từ đầu nguồn cho đến bờ biển, nhà nhà đều lo dựng nêu đón Tết. Nếu gặp điều kiện khó khăn chi đó trong năm, gia đình đón xuân có thể chịu eo hẹp phần vật chất, thế nhưng không thể dựng cây nêu qua quýt chiếu lệ, mà phải chọn sao cho cây nêu ít ra tương đối vừa ý mình được ý người. Bởi vậy thời xưa ấy đất Ninh Hoà có câu tục ngữ: Nêu cao hơn pháo nổ, pháo nổ hơn cỗ đầy.

Sau năm 1945 trở lại đây tục lệ dựng nêu đón xuân từ từ bãi bỏ thì người ta đã sửa câu tục ngữ trên thành: Nêu cao không bằng pháo nổ / Pháo nổ không bằng cổ đầy.

Thông thường vào nửa tháng Chạp ai cũng lo tuyển chọn cây nêu nhà nào có trồng tre người ta đã chọn tre nêu trước đó nhiều tháng, những nhà không có tre phải đi đặt mua hay xin nhờ nhà có tre. Cây tre làm nêu là loại tre đực dày ruột ,to bằng bắp tay, thân tre phải thẳng thớm và kiêng kị cụt đọt. Không ai dám dùng cây trảy để dựng nêu, bởi vì loài trảy rổng ruột ngày đầu năm rủi có gió chướng cây nêu bị gãy, thì có thể trong năm bị xui xẻo.

Ngày ấy các làng xã gần biển ở Ninh Hoà, như từ đèo Bánh Ít làng Hà Thanh trở xuống khu vực Hòn Khói, khoảng giữa tháng chạp người ta thường lên cái tổng xã vùng trên đặt mua tre nêu. Từ đó đã thành thông lệ, năm nào cũng vậy trên nông thôn những nhà trồng nhiều tre, gặp tháng chạp thiếu thì ngày 27 Tết tre nêu được chặt xuống trảy nhánh, sang canh tư ngày 28 têt, thôn dân mắc bò vào xe kéo xuống Hòn Khói để bán. Với các vùng gần biển có sông ngòi lưu thông được thì chở bằng ghe xuống.

Giá cả tuỳ theo tốt xấu, hoặc mua bán bằng tiền hoặc trao đổi bằng cá tôm… Đúng ngày cận Tết 29 hay 30 tuỳ theo tháng thiếu hoặc đủ là thủ tục dựng nêu bắt đầu. Trên đọt nêu treo một cái giỏ nhỏ đan bằng tre hay dây dang giống như cái mồm bịt miệng con bò, trong đó đặt những trầu cau thuốc dún đã têm quấn sẵn, có nhà còn cho vào thêm những bánh mứt đường tán. Lại thêm một khổ giấy hồng đơn to bằng bàn tay viết 4 chữ Thần Sầu Uất Luỹ tên 2 vị thiên thần mua nơi các cụ đồ. Theo truyền thuyết dị đoan thì đúng sáng ngày đầu năm, trên nhà trời có hai loài thiên cẩu trốn xuống trần gian phá phách lê thứ nhà nào có viết danh hiệu của 2 vị thiên thần ấy treo trên đọt cây nêu, lũ thiên cẩu kia trông thấy phải sợ mà tránh xa, không dám lai vãng gây tai hoạ.

Dựng nêu xong là phải có lễ cúng xôi chè trong nhà và cả ngoài sân, bởi thế ngày xưa kia có câu hát ru: Trông mau tới Tết đựng nêu ăn chè.

 

2. Tiếng trống làng mừng xuân

Lễ tục này được thống nhất trong khắp mọi làng quê ở Ninh Hoà ngày xưa. Kể từ sau năm 1945 đến tháng 4-1975 đa số các làng còn duy trì tục lệ này, tuy nhiên một số tình tiết trong lễ tục được giảm bớt, chỉ còn lại hồi trống làng khởi lên mừng xuân mới. Lễ tục diễn ra như sau:

Trời vừa hừng đông sáng ngày mùng một Tết, vị lý trưởng (thôn trưởng) phục sức chỉnh tề áo dài khăn đóng, cùng gia nhân bưng ra hương xá( nhà làng) một mâm lễ vật gồm có: một con gà cồ giò luộc chín tréo cổ bỏ trên lưng ít muối hột, chè xôi, trầu cau, rượu… và hai câu đối viết trên giấy đỏ. Trước tiên vị lý trưởng lấy hai câu đối mừng xuân dán lên hai bên cửa chính ra vào, nếu 4 câu thì dán thêm hai câu trên hai cột bên trong. Tiếp theo trần thiết lễ vật trên bàn và thắp hương khấn vái cầu nguyện cho quốc thái dân an, sang năm mới xóm làng người người hạnh phúc thạnh vượng. Vị lý trưỏng khoan thai khởi đánh trống hồi ba (ba hồi chín tiếng), nghe tiếng trống làng mừng xuân ai cũng cảm thấy phấn chấn.

Trường hợp làng có tổ chức hát bội, hay hô đánh bài chòi, khi nào nghe trống làng đã khởi thì mới được phép giục trống chiến trống chầu theo. Nếu năm đó ngày xuân lý trưởng bị bệnh, ban hương lý phải cử người đại diện làm thay thủ tục đó.

Những câu đối dán ở đầu làng có thể mỗi năm thay khác, hoặc vẫn giữ từ cú y câu cũ mà chỉ viết lại bằng giấy hồng đơn mới. Ý nghĩa của các câu đối này không ngoài mục đích cầu cho quốc thái dân an xóm làng nhân dân thạnh vượng. Dưới đây là một số câu sưu tầm được tại Ninh Hoà:

Gia tường thế diễn vô cương khánh

Quốc thái thiên hoà bất lão xuân

Dịch là:

Nhà vui đời đẹp mừng no ấm

Nước thạnh trời yên xuân mãi tươi.

Hoặc cầu mong cho năm mới xuân về hoa nở, làng xóm đều gìn giữ thuần phong mỹ tục, nhân dân mạnh khoẻ sống lâu:

Hoa khai thôn lý thuần phong trị

Xuân đáo lương dân phước thọ trường

Dịch là:

Hoa nở xóm làng gìn tục tốt

Xuân về dân chúng tuổi càng cao.

 

3. Câu đối trong nhà

Người xưa cho rằng, ngày xuân dán câu đối lên cột là để cầu vận may năm mới. Vì thế trên nửa thế kỉ trở về trước người làng quê có tục dán câu đối mừng Tết. Những người dốt chữ họ cũng xuống chợ mua tượng trưng hai câu, không cần biết đó nghĩa là gì miễn có chữ nho là được, hoặc mua ngay trong làng nếu có cụ đồ viết chữ liễn. Nhà giàu hay những ai rành chữ nghiã thì ngày xuân dán nhiều câu đối trên các cây cột trong nhà, cột ngoài thềm và câu liễn bốn chữ dán trên cửa cái.

Ngày xuân mà có những câu đối ấy càng làm thêm sự long trọng ấm cúng trong nhà, như cũng để giữ gìn lại bao nề nếp thuần phong mỹ tục và điểm xuyến cho hương sắc xuân.

Câu đối cũng là một thể thơ, nếu xuất tứ sẽ thành một bức tranh đẹp thể hiện đầy màu sắc xuân như:

Xuân dung lệ nhật oanh thanh hoạt

Hoa diễm trùng môn yến ngữ thanh

Tạm dịch:

Nét xuân soi bóng oanh ca hót

Hoa đẹp cài song yến líu lo.

Xuân mỗi năm mỗi đến, hoa luôn cười đón xuân trong cảnh tuyệt vời ấy người người đều cầu mong mưa thuận gió hoà, gái lịch trai thanh giao hoà tình cảm:

Xuân tự hà xứ lai, xuân phổ phong điềm giai lãng tịnh

Hoa khai thử nhật phát, hoa hân trúc lục cộng đào hồng.

Dịch:

Xuân từ đâu mà đến, xuân toả làm gió yên sóng lặng

Hoa cười ngày nay nở, hoa vui thấy trúc với đào xinh.

Cũng có những nhà dùng câu đối tập cổ (câu đối cũ), không cần tứ ý diễm lệ hoa mỹ mà chỉ cần thực tế trời yên đời thịnh phước nhà:

Thiên tăng thế nguyệt nhân tăng thọ

Xuân mãn càn khôn phước mãn đường.

Tạm dịch:

Trời thêm năm tháng người tăng thọ

Xuân khắp đất trời phước mọi nhà.

 

Hương sắc xuân Ninh Hoà  - ảnh 14. Hát bội và đánh bài chòi

Thời ấy hầu như vào các ngày đầu xuân, làng xã nào ở Ninh Hoà nếu không hát bội thì cũng hô đánh bài chòi.

Tiếng trống khai xuân của làng vừa dứt, tức thì trống chiến trống chầu của hát bội khởi lên tại đình làng. Lòng đám trẻ nhỏ đều nôn nao, chỉ cần cha mẹ cho phép là chúng củn cởn trong bộ áo quần mới cõng em níu anh chạy ra đình liền. Với không khí tưng bừng lễ hội đón xuân ấy, tại Ninh Hoà vẫn còn các bà cụ già nơi miền quê hát ru bằng hai câu vè:

Tai nghe trống chiến trống chầu

Cõng em chạy bộ cho mau tới đình.

Trống chầu đã đánh thùng thình

Cho con chạy bộ một mình dú ơi!

Thuở ấy gần như mọi làng xã đều có tiếng trống hát bội hoặc tiếng trống hô bài chòi, nhìn nơi nào cũng thấy xuân, sắc xuân trên ngàn cây nội cỏ, trên gương mặt e ấp tươi rói của các cô thô nữ, trên áng mây trôi lờ lững trong ánh ban mai.

Vị được dân làng đề cử cầm roi chầu khai lễ hát bội phải thiện thủ ngón chầu, thông tuồng tích hiểu từng câu hát. Biết khen thưởng đúng tài năng của đào kép đang diễn xuất, tiếng trống biến tấu theo câu hát bi thương hay hùng tráng, kèm theo trống chầu đó là thẻ thưởng tiền. Người giỏi đánh chầu sẽ làm cho người sành điệu nghe chầu dù ngồi ở nhà gần đó, vẫn biết là tuồng hát đang diễn xuất đoạn nào, nam ai hay nam xuân hoặc tẩu mã…

Ngoài hát bội, ngày xuân ở các vùng quê Ninh Hoà còn có các hội chơi bài chòi. Người chơi ngồi trên chính chòi (1 chòi cái, 8 chòi con), sau những cần rút ra các con bài trong ống bài của anh  Hiệu- Người hô tên con bài, ai được đủ 3 cặp bài thì người đó thắng cuộc chơi và nhận tiền cùng cờ của làng thưởng. Phía ngoài hội chơi, một sân khấu gỗ được dựng lên trong một khoảng đất trống, nơi đây đoàn hát bài chòi sẽ diễn phục vụ dân làng với các vở diễn cổ xưa có sự pha trộn giữa hô bài chòi với những câu Nam ai, Nam xuân nữ hoặc Hát khách của sân khấu hát bội. Các vở được dân chúng tán thưởng nhất là: Thoại Khanh- Châu Tuấn, Lang Châu Lý Ân, Phàn Lê Huê- Tiết Đinh San, Lưu Kim Đính- Cao Quân Bảo v.v…

Những hình ảnh, âm thanh, sự kiện diễn ra trong mỗi mùa xuân xưa ở đất Ninh Hoà như cây nêu, tiếng pháo, tiếng trống làng mừng xuân, câu đối, hát bội v.v… đã thể hiện một cảnh trí mừng xuân êm đềm như bức gấm, sinh động hớn hở như bức tranh kiệt tác, thánh thoát diu dàng như tiếng sáo câu thơ… Viết lại những cảnh trí này cũng để sưởi ấm lòng người cao tuổi đất Ninh Hoà ngày nay khi tiết xuân về.

 

Võ Triều Dương
(Tạp chí Nha Trang)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác