Hành hương Phủ Dầy với người cầu phúc

Phủ Dầy Vân Cát - Tiên Hương, nơi tôn thờ vị thần chủ Thánh Mẫu Liễu Hạnh của đạo Mẫu Việt Nam trên quê hương giáng sinh của Người, được Nhà nước công nhận là khu di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia từ năm 1975. Lễ hội Phủ Dầy cũng được Nhà nước chính thức cho phép mở lại từ năm 1997. Thật vinh hạnh cho quê hương đã sinh thành vị Tiên chúa "Trinh, từ, hiếu, thuận" được lịch sử văn hoá dân tộc tôn vinh là quê hương của bậc MẪU NGHI THIÊN HẠ.

Tìm hiểu sự tích Thánh Mẫu, dõi theo lộ trình đằng vân giá vũ của Người suốt từ Lạng Sơn cho đến Sòng Sơn, Phố Cát, Tây Hồ... những nơi nhân dân lập đền, xây phủ tôn thờ đều có một điểm chung trong tâm thức. Đó là niềm tôn kính vị Thánh đất Việt vừa là người, vừa là tiên, vừa là bậc siêu thoát thanh cao, vừa là người mang khát vọng yêu đương nơi trần thế. Tiên phật thánh thần và cốt cách người phụ nữ Việt Nam đức hạnh làm nên hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Cảm ơn Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1748), người sinh sau Tiên chúa 148 năm, đã chép sự tích "Vân Cát thần nữ" trong cuốn Truyền kỳ tân phả truyền cho hậu thế. Phải chăng, cốt cách siêu phàm vị Tiên chúa phổ vào ngọn bút Hồng Hà nữ sĩ để truyện "Vân Cát thần nữ" từ thế kỷ XVIII trở thành giai phẩm của văn học cổ điển Việt Nam? Trong tác phẩm truyền kỳ bất hủ này, phẩm cách thi sĩ Thánh Mẫu Liễu Hạnh có thể xếp vào hàng đệ nhất Tiên thi nước Việt "riêng chiếm một bầu trời" thơ giáng bút:

             Vân tác y thường, phong tác xa

            Triêu du Đâu Suất, mộ yên hà

            Thế nhân dục thức ngô danh tính

            "Nhất đại sơn nhân ngọc Quỳnh Hoa"

(Chữ nhất với chữ đại là chữ thiên, chữ nhân đứng với chữ sơn là chữ tiên)

Dịch nghĩa:

Lấy mây làm xiêm áo, lấy gió làm xe

            Buổi sáng đi chơi vùng trời Đâu Suất (1)

            Buổi chiều ngao du mây khói

            Người đời nếu muốn biết tên họ của ta

            Ta đây là người tiên trên trời tên là Quỳnh Hoa

 (Theo bản dịch "Vân Cát thần nữ" của Vũ Ngọc Khánh và Phạm Văn Ty)          

Hành hương Phủ Dầy với người cầu phúc  - ảnh 1Ngày xuân trẩy hội Phủ Dầy, tôi lại đi trên con đường thơ Nguyễn Bính ngày nào."Đường lên chợ tỉnh... ", lối các cô, "các chị trong làng đi bán lụa", mùi hương nhu trên mái tóc thiếu nữ, mùi cỏ nõn gót chân son với hương lúa xuân mơn mởn dậy thì. Hội hè là khoảng thời gian xanh biếc để ta được chút thảnh thơi giữa hai vụ lúa, là phút bước chân trận mạc của người lính đứng bên ngưỡng cửa trời đất thanh bình. Hội hè là lúc ta trở lại cội nguồn trên đôi cánh của tâm tưởng. Và đây Thiên Bản -Vụ Bản cờ quạt dăng hàng, mây đang bay từ phía làng Vân lên núi Tiên Hương vấn vít.Một người bạn thơ hẹn tôi ở đây- một nhà giáo từng làm hiệu trưởng trường trung học cơ sở xã Kim Thái nhiều năm. Anh là người gốc Vân - Hương, bút danh cũng là tên khai sinh Trần Minh Ân. Anh yêu thơ từ thuở "Đội đầu chung một lá sen tơ" học sinh trường huyện. Ngay từ bài thơ đầu tay,Trần Minh Ân đã được nhà thơ "Chân quê" Nguyễn Bính dìu dắt, được thừa hưởng truyền thống văn hoá một vùng quê khai sinh "Sáu sự lạ đất Thiên Bản" (2), những bậc danh sĩ, danh thần, các nhà khoa bảng, những nhà khoa học, văn nghệ sĩ hàng đầu của đất nước. Chùm thơ mười bài tôn vinh đức Thánh Mẫu Phủ Dầy của Trần Minh Ân (3) đưa ta vào vùng văn hoá tâm linh, cái nhìn "xuyên thời gian" để thấy Kẻ Dầy - Phủ Dầy thiên tạo, nhân tạo:

            Trên hai cồn cát như mây

            Hiện ra quần thể Phủ Dầy uy nghiêm.

            Nơi thờ Mẫu của trăm miền,

            Một thiên huyền thoại cổ truyền nên thơ...

Trong lễ hội ngày xuân, có bao nhiêu niềm náo nức, ước vọng chân thành, người của trăm miền quê tìm về đây. "Con về lễ hội", câu thơ lục bát có một cách nói tâm tình thật đáng yêu:

            Con về lễ hội cầu mơ

            Một mình tâm niệm ngẩn ngơ một mình...

Đến với Trần Minh Ân, gặp vẻ điềm đạm, ân cần, cái nhìn nhân văn một vùng lễ hội từ các ngả đường quê thướt tha khăn chầu áo ngự với má đỏ môi hồng, nam thanh nữ tú ríu ran dưới trời xuân sắc:

            Phủ Dầy lễ hội tâm linh

            Phủ Dầy hội của nhân tình thế gian

Phải rồi, "Hội của nhân tình thế gian"! Đó là chỗ đặc sắc của lễ hội Phủ Dầy. Việc tế lễ từ xưa đến nay cầu cho "Quốc thái dân an", cầu mong những điều tốt lành cho cuộc đời này thêm mãi những niềm vui, vợi hết những khổ nghèo, cơ nhỡ, oan khuất, bạc phận. Trong sự ao ước cho mình còn có sự cầu chúc cho mọi người, vị kỷ và vị tha nhân ái. Tôi thật nể trọng khi đọc lời thỉnh cầu cảm động trong thơ Trần Minh Ân khi anh thành kính nói được cả chữ tình, chữ nghĩa:

            Người người cầu lộc, cầu tài

            Riêng con cầu phúc cho người mình thương

                                                 (Con về lễ hội)

Phủ Vân Cát, phủ Tiên Hương - hai toà chính trong quần thể di tích lịch sử văn hoá Phủ Dầy được tôn tạo từ nhiều thế kỷ qua.Vẻ uy nghi của hai công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn phong cách cuối Lê đầu Nguyễn này "nối trời với đất", mang dáng dấp của "tinh hoa văn hoá bốn phương". Đây phủ Tiên Hương, nhìn vào bái đường trầm hương nghi ngút, mông lung, tượng thờ toả chiếu anh linh Thánh Mẫu qua nét vàng son, toà cửa võng. Phủ Dầy Tiên Hương có từ hơn bốn trăm năm trước, xây dựng từ đời vua Lê Thế Tông cuối thế kỷ XVI, đựợc trùng tu theo kiểu kiến trúc "trùng thiềm điệp ốc" nguy nga tráng lệ. Trùng điệp câu đối, hoành phi, đại tự ca ngợi công đức Thánh Mẫu. Tiếng dặt dìu sênh phách câu hát chầu văn, lời thơ ghi tạc kỳ tích của Người "tâm hồn như ngọc", từ cõi ảo huyền về đây:

            Cứu nhân độ thế bao dung

            Dấu chân Mẫu có mọi vùng giang san

            Ba lần thay đổi thân vàng

            Tâm hồn như ngọc, vẹn toàn hiếu trinh

                                                 (Phủ Tiên Hương)

Viết về đức Thánh Mẫu Phủ Dầy, Trần Minh Ân chọn lối diễn tích, phục hiện huyền tích với những địa danh thiêng liêng. Tiên Hương cựu quán cũng là quê đấng phu quân Trần Đào Lang. Ở đây, Tiên chúa có những tháng ngày hạnh phúc bên chồng, bên con, với song thân một lòng hiếu thuận trong đạo nghĩa làm người:

            "Mẫu nghi Thiên hạ" văn minh

            Tiên Hương cựu quán nặng tình yêu thương

                                                (Phủ Tiên Hương)

Ngước nhìn "mây hồng đỉnh Thái" đang bay, thơ đưa ta về Phủ Vân "linh thiêng huyền tích" trên đất thiêng Kẻ Dầy, nơi khai sinh "Sự tích nhà Nam thánh nước Nam", nơi khí thiêng đất trời hội tụ, Tiên chúa cất tiếng khóc chào đời từ chiếc nôi của gia đình hiền đức rực sáng ánh trăng đêm rằm trung thu và mùi hương đất trời thơm nức. Phủ Dầy Vân Cát có từ trên bốn trăm năm trước, được tôn tạo từ thế kỷ XVII đời vua Lê Cảnh Trị, lồng lộng uy nghi nhìn ra núi Tiên Hương qua biển lúa bồng bềnh. Bên tả có đền thờ đức vua Lý Nam Đế, bên hữu có chùa Long Vân, Phủ Vân với "Thuỷ đình", với Lầu mây "Vân Lâu":

            Vân Lâu lộng gió bốn phương

            Mấy tầng cao vút hồi chuông la đà

            Thần tiên ngắm Nguyệt Du qua

            Văn chương đàm đạo như là thiên cung

Phủ Vân với:

            Cung Đệ Nhất rực hào quang

            "Phòng văn" hay "Quán cỏ vàng" dấu nôi

            Sinh từ nguyên khí đất trời

            Giáng Tiên, tâm Mẹ truyền đời nhân gian

                                                (Phủ Vân Cát)

Phủ Mẫu cũng là Phòng văn; ở đây muôn thuở dấu xưa nhà cũ: Vạn cổ trạch; đây ngôi đền thờ nơi Người sinh ra:Giáng sinh từ; còn đây quê cũ của người Tiên: Tiên nhân cựu quán... thành một Phủ Vân danh thắng lưu truyền.

Thơ của "người cầu phúc" Trần Minh Ân đưa ta đến với Lăng Mẫu, một công trình tuyệt mỹ thể hiện ý tưởng, tâm nguyện của các vị hằng tâm, chủ xướng cùng các nghệ nhân tài hoa đã kiến tạo một thắng tích khiến du khách xiết bao cảm phục:

            Vào lăng, du khách sống trong mơ...

Lăng Mẫu được tôn tạo trên gồ Bà Chúa, có mộ Thánh Mẫu. Xưa gồ này cây cối rợp bóng, những người đi lễ Mẫu thường đến đây thắp hương, xin lá cây về làm thuốc. Trên cánh đồng Mả Quan, xứ Cây Đa, lăng Mẫu toạ lạc giữa giáp Ba Tiên Hương và làng Xuân Bảng. Công trình đá khởi công từ năm 1934 đến năm 1938 hoàn thành do công đức của các vị đệ tử Đào Chi ở Huế tiến cúng. Đá xanh núi Nhồi Thanh Hoá chở về chế tác ở ga Gôi rồi chuyên chở về đây lắp ráp. Theo soạn giả Bùi Văn Tam trong sách Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh, lăng Mẫu "chạm khắc theo quẻ Dịch, tượng trưng vũ trụ càn khôn che chở cho Thánh Mẫu". Ở đây có trên 50 câu đối ca ngợi công đức Thánh Mẫu và thắng tích Phủ Dầy được chạm khắc tinh xảo cùng với 60 nụ sen đá màu hồng nhạt. Lăng Mẫu như một vùng sen trổ hương. Du khách sống trong mơ, cảm giác thanh thoát, gặp thơ, gặp hoạ, cùng cảm nhận nét huyền vi trên mỗi nét hoa văn đá tạc:

            Tạo hoá... văn bia dấu chẳng mờ

Ở đây đá núi thành sen ngát, nhưng Trần Minh Ân lại "vĩnh cửu hoá" loài sen cao quí thêm một lần nữa khi anh viết "sen thành đá":

            Muôn nụ sen thơm dù hoá đá

            Một bầu sữa Mẹ chảy thành thơ

                                                 (Vịnh lăng Mẫu)                                             

Có một đôi câu đối cổ "bắc cầu" cho sự hài hoà giữa khung cảnh thiên nhiên lăng Mẫu với ngôi đền có tên đẹp như cung Quảng Hàn trên trời xa- đền Nguyệt Du Cung:

            Thiên Bản địa linh lưu thắng tích

            Nguyệt Du thuỷ hoạt tố nguyên tiên

 Tạm dịch:

            Thiên Bản đất thiêng lưu dấu Thánh

            Nguyệt Du theo bước dõi nguồn Tiên

(Bùi Văn Tam dịch)

Đền Nguyệt Du Cung thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh còn gắn với một huyền tích. Khi đã hoá thân về trời, bởi nhớ trần gian, những đêm trăng sáng, Mẫu thường ngự xuống đây cùng với các tiên nữ quây quần bên gốc đa múa hát trong ánh trăng. Dân làng cho là việc thần ứng linh dị nên đã lập miếu thờ Mẫu bên gốc đa cổ thụ. Từ đó có tên đền Cây Đa Bóng, cũng gọi là Phủ Bóng, tên chữ là Nguyệt Du Cung, chốn dạo gót chơi trăng của Tiên chúa trở lại nguồn Tiên:

            Bóng đa lồng bóng vô hình

            Bóng quần tiên ngự tắm mình cùng trăng

            Du sơn du thuỷ xa xăm

            Nhớ quê hương, Mẫu về thăm mộ phần...

            ... Đền Cây Đa hoá cung Tiên

            Du Cung - Trăng cũng ảo huyền đêm đêm

                                                (Thăm Nguyệt Du Cung)

Trong ánh ngày lên, du khách sánh bước bên triền núi Tiên Hương phấp phới cờ hoa, lên tới đền Thượng lễ Mẫu Thượng Ngàn. Theo tín ngưỡng tứ phủ, Mẫu Thượng Ngàn có liên quan mật thiết với Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Tương truyền, Mẫu Thượng Ngàn nguyên là La Bình công chúa,con gái của đức Thánh Tản Viên Sơn. Bà là vị nữ tướng "Tài sắc vẹn toàn, anh linh diệu pháp", cai quản ba mươi sáu châu rừng cõi trời Nam, dạy dỗ chim muông, có công khuông phù đất nước, từng hiển linh giúp các vua Trần, Lê chống giặc ngoại xâm, được phong là "Lê Mại đại vương". Thánh Mẫu Thượng Ngàn còn có các vị thuộc hạ: Diệu Nghĩa Thiền Sư giúp việc trông coi ghềnh thác suối ngàn; Đông Cuông Thánh Mẫu, Bắc Mục Thánh Mẫu cùng Thập nhị Sơn trang Cô nương cai quản các xứ rừng đại ngàn cõi Nam Giao.

Lên lễ đền Thượng, du khách có dịp phóng tầm mắt bao quát một vùng cảnh trí hữu tình. Cảnh trí ấy được miêu tả thật có hồn trong thơ Trần Minh Ân:

            Khói sương đỉnh Thái mơ màng

            Hiện dần đền Mẫu Thượng Ngàn trong mây                               

            Gió ào lay động rừng cây

            Giật mình chim sáo cả bầy hót vang

            Hồi chuông ngân chảy chiều vàng

            Gió như ngừng thổi cây ngàn thôi reo

            Hồi chuông ngân chảy trong veo

            Xuống dòng Ba Sát lượn theo chân đồi

                                                (Mẫu Thượng Ngàn)

Thơ mượn khói sương để bao quát cảnh trời, nhờ dư ba tiếng chuông để nói chiều vàng đang chảy tràn xuống dòng sông Ba Sát trong veo uốn lượn ở chân đồi. Trong khám thờ, Mẫu Thượng Ngàn áo ngự màu xanh, sắc điệu của muôn trùng cây lá. Có lẽ Người đang ngưỡng vọng về đỉnh núi Tản xa mờ trong cõi huyền không, lắng nghe giọng thác ngàn đang trổ thanh âm ngút ngát xứ Đà Giang. Đền Thượng trên núi An Thái, có từ đời vua Lê Thế Tông (1578-1599), tại đây cũng có ban thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. 

Từ đền Thượng về qua Phủ Bóng, du khách có dịp vào thăm đền Giếng, còn gọi là Thuỷ Tiên Từ, để dâng lễ trước ban thờ Mẫu Thoải. Nơi đây, từ xưa, có Giếng Găng nước mạch trong mát, gắn bó lâu đời với dân Giáp Ba và cả Kẻ Dầy. Cũng từ xưa, dân ở đây lập đền thờ "Đông Tỉnh đại vương", cứ ngày mồng hai Tết hàng năm, nhiều đền, phủ ở Kẻ Dầy rước kiệu đến lấy nước Giếng Găng đem về dùng vào việc cúng lễ. Phủ Tiên Hương lấy nước giếng này chứa vào thống sứ, rước về Phủ, làm lễ "mộc dục" tượng Thánh Mẫu. Sau đó, làm lễ cáo yết, mở hội Phủ Dầy vào ngày mồng ba tháng Ba. Khi tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển, đền được mở rộng thành Thuỷ Tiên Từ, thờ Thánh Mẫu Thuỷ Cung (Mẫu Thoải) ở chính điện. Tương truyền, Thánh Mẫu Thuỷ Cung là công chúa Tam Giang, con gái thứ ba của Long Vương ở hồ Động Đình. Nàng kết duyên với Kinh Xuyên, con trai một vị thần ở Long Cung. Kinh Xuyên mê đắm người thiếp là Thảo Mai, ruồng rẫy công chúa Tam Giang, lại cùng với Thảo Mai sắp đặt mưu gian, gieo vạ cho công chúa, bỏ mặc nàng vất vưởng suốt mười năm không chút đoái hoài. May nhờ có thư sinh Liễu Nghị trên đường đi thi qua đó chuyển thư, giúp công chúa Tam Giang giãi bày nỗi khổ với vua cha Long Vương. Long Vương hiểu rõ sự tình, ra lệnh trừng phạt Kinh Xuyên. Long Vương giao cho công chúa Tam Giang trông coi các miền sông nước Thuỷ Cung. Thánh Mẫu Thuỷ Cung cũng có nhiều thuộc hạ, họ được giao coi giữ các cửa bể, các sông hồ, làm mưa chống hạn, rút nước ngăn lũ, giúp cho mùa màng phong đăng hoà cốc. Lúc thảnh thơi, Mẫu Thoải thường bơi thuyền tiên dạo chơi ba mươi sáu động Thuỷ Cung. Thuỷ Tiên Từ còn bức hoành phi bốn chữ đại tự "Thiên địa giao thái", cầu mong trời đất giao hoà, nhân gian yên ổn, thịnh vượng. Cũng có nhà nghiên cứu giải thích:"Trời đất giao hoà ở An Thái", quê hương Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nghe dập dìu nhịp dô khoan chèo thuyền, rộn ràng điệp khúc sông quê trong mỗi dòng thơ lục bát viết về "Huyền tích Mẫu Thoải":

            Coi miền sông nước mông lung

            Làm mưa cứu sống những vùng cạn khô

            Tháo lui nước úng ngập bờ

            Điều hoà nguồn nước sông hồ trần gian

            Tiêu dao dưới ánh trăng vàng

            Mái chèo nhộn nhịp dô khoan... du thuyền

            Ba mươi sáu động cung Tiên

            Khuya về Mẫu ngự trong đền Giếng Găng

Thật là thần kỳ trong tín ngưỡng dân gian, công tích các vị Thánh Mẫu:

Người cứu nhân độ thế, Người coi sóc đại ngàn, Người chăm lo sông bể ...

Các bà Mẹ nhân từ có lòng vị tha bao dung hết thảy để ta vững bước làm người, về đây thành kính nhớ ơn!

Đường về Phủ Nội Tiên Đình, nơi thờ phụng các vị Tổ tiên sinh ra Thánh Mẫu. Thiết nghĩ, sao có thể quên công đức các bậc sinh thành vị Thánh:

            Phủ thờ Cao Tổ Phúc Tiên

            Trần - Lê dòng họ lưu truyền xưa nay

Tâm đắc như Trần Minh Ân đã chiêm nghiệm trên mỗi bài thơ anh viết, trong phép tu thân, nếu có chính tâm ắt sẽ có giác ngộ:

            Cảnh Tiên nào có đâu xa

            Muốn tới được đó phải là chính tâm

                                                 (Tiếng chuông Phủ Nội)

Các cụ ta xưa dầy công xiết kể để chính danh một tín ngưỡng, kiến tạo cả một hệ thống đền, phủ, miếu, chùa... trong quần thể di tích lịch sử văn hoá Phủ Dầy. Đây đền thờ vị Quốc sư triều Lý Nguyễn Minh Không, người có pháp lực siêu phàm, chữa "bệnh hoá hổ" cho vua Lý Thần Tông, người được tôn vinh là vị Thánh Tổ của nghề đúc đồng, tương truyền Ngài đã lên phương bắc quyên giáo đồng về đúc nên "tứ đại khí" nước Nam: Tháp Báo Thiên, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông chùa Phả Lại, đỉnh Phổ Minh. Kẻ Dầy là nơi lưu dấu chân vị Thánh Khổng Lồ, thơ đưa Ngài về với cội nguồn đời thường lam lũ thuở xa xưa:

Tục truyền xưa Khổng Minh Không

            Làm nghề đơm đó cửa sông một thời

            Dầm mưa dãi nắng mọi nơi

            Kẻ Dầy có dấu chân Người, chợ xuân

                                                 (Đình thờ ông Khổng)                                   

Tương truyền dấu chân Người xưa là hồ nước nhỏ bên đình hôm nay. Chợ xuân đây chính là chợ Viềng, Phủ Dầy, xưa Người bán cá ở đây. Xưa Người về Tống Xá, Ý Yên dạy nghề đúc đồng, lại truyền cho dân các làng học nghề rèn sắt. Bởi vậy trong hội chợ Viềng mồng tám tháng Giêng hàng năm, chợ mở trước sân đình ông Khổng. Các làng rèn, làng đúc trước khi bày bán hàng cho khách thập phương, đã làm lễ tế đầu năm ở đình này. Đồ đồng, đồ sắt... thứ mấy trăm năm, cái mới ra lò còn rộn ánh kim giữa cơ man sản vật các vùng, miền gần xa họp về đây, mở ra cơ hội buôn may bán đắt, làm ăn tấn tới, tiền của như nước, tài lộc không bao giờ vơi.

Theo lệ làng xưa, bốn giáp Tiên Hương mở hội từ mồng sáu đến mồng chín tháng Giêng, rước chư vị thánh thần thờ trong làng, từ đức vua Lý Nam Đế ,Thành hoàng Tả Lôi Công đến Hữu Sơn thần, Tả Sơn thần, Đông Tỉnh Đại vương và cùng rước Mẫu về đây tế lễ, mở hội chợ xuân vào ngày mồng tám. Mồng chín lễ tạ, lại rước chư vị thánh thần võng, kiệu hồi loan.

Tôi đi theo người thơ qua các cung bậc cảm hứng, lộ trình hành hương viết về lễ hội Phủ Dầy, chợt dừng chân trước một triền hoa tím: hoa sim! Hoa sim trên đất thiêng Kẻ Dầy, nơi huyền thoại nở hoa hay hoa nở vào huyền thoại? Phải chăng, ý nghĩa nhân bản ở đây là niềm ao ước đến khát khao cuộc sống trần gian, muốn được ở trong cõi người, để được sống yêu thương, khổ đau và hạnh phúc. Ai đó mới chỉ là mảnh hồn, chiếc bóng hiện hình trong thinh không, muốn ký thác vào hoa cả nỗi lòng:

            Trên đỉnh Đa Đôi có nàng Tiên Ngọc

            Đêm trăng thanh thường múa lượn như chim

            Khao khát trần gian, gieo mầm thêu gấm vóc

            Phủ kín đồi màu thương nhớ, hoa sim!

                                                (Huyền diệu hoa sim)

Ôi, cõi Tiên xa vời là của những người Tiên, nhưng điều kỳ diệu xem ra lại ở cõi người! Cảm ơn Đấng Toàn năng Tạo hoá đã cho con người tài năng siêu việt, trí năng "bao quát sáu cõi, nghĩ suốt nghìn đời" (4). Thi ca từ ngày nào đã bắc cầu nối cõi Tiên về với cõi người, cho dù đó là vùng trời Đâu Suất hay chốn Bồng Lai. Cả tôi và nhà giáo Trần Minh Ân cùng lâng lâng vẳng nghe Thiên Thai, khúc nhạc Tiên của nhạc sĩ thiên tài Văn Cao, một người con của quê hương Vụ Bản. Văn Cao! Có phải ông đã từng cầm chèo khua sóng Đào nguyên để viết nên những dòng tuyệt bút: "Thiên Thai, ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian... "? Nhìn mây đỉnh Thái, nhìn sóng nắng vàng Côi Sơn, Hổ Sơn, lắng trong thanh điệu chiều quê Kim Thái, nhã nhạc ảo huyền nơi Phủ Mẫu:

            Thanh trầm thấm xuống Thuỷ Cung

            Thanh cao bay vút chín tầng mây cao

                                                 (Phủ Tiên Hương)

Và:

"Những khi chiều tà trăng lên

... tiếng ca còn rền trên cõi Tiên... "

(Thiên Thai)

Đây Thiên Bản - Vụ Bản! Cõi tục, cõi trần gần như một hơi thở nhẹ trong vòng tay nhân ái. Nàng Tiên Ngọc trên đỉnh Đa Đôi mơ cuộc sống làm người để được như bao chàng trai cô gái hẹn nhau trẩy hội mùa xuân, về với lễ hội Phủ Dầy, cầu mong những điều tốt lành cho cuộc đời nở hoa kết trái.

Tôi yêu chùm thơ tâm linh, tôn vinh đức Thánh Mẫu Phủ Dầy của Trần Minh Ân. Là người biết tiếp nhận và trân trọng tinh hoa văn hoá truyền thống quê hương, người con trai Vân Cát-Tiên Hương này được các bậc lão trưởng trong làng tin cậy, cung cấp tư liệu. Với vốn kiến văn của một nhà giáo Cử nhân Sư phạm, nhiều năm làm hiệu trưởng trường quê, anh có điều kiện thuận lợi tìm hiểu cặn kẽ hơn các công trình biên dịch, sưu tầm, khảo cứu, chuyên luận của các giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Vũ Ngọc Khánh; những đóng góp quí của các nhà nghiên cứu sử học, văn hoá dân gian, dịch thuật: Dương Văn Vượng, Lê Xuân Quang, Bùi Văn Tam, Hồ Đức Thọ... qua các ấn phẩm được xuất bản, các tư liệu gốc lưu trữ ở Bảo tàng Nam Định, Hà Nội và trong cuốn Tiên từ Phả ký của làng.

Thơ Trần Minh Ân được nhiều người ở Vân Cát,Tiên Hương khen ngợi. Tôi biết, với lòng yêu quí di sản văn hoá quê hương, tác giả đủ tự tin để có thêm những bài thơ tâm đắc ca ngợi công đức Thánh Mẫu Phủ Dầy, vị thần chủ anh linh của đạo Mẫu Việt Nam, vị thánh bất tử trong tâm thức dân gian Việt Nam. Thật đáng trân trọng mỗi lời tâm nguyện cầu chúc cho sự thịnh vượng muôn vẻ mọi nơi, "cầu phúc" cho những người thân yêu trên các nẻo đường đất nước về lễ hội Phủ Dầy hàng năm:

            Phủ Dầy - lễ hội tâm linh

            Phủ Dầy - hội của nhân tình thế gian...  

Phạm Trọng Thanh


-------------------------------------------

Chú thích
:

(1) Đâu Suất thiên: Nơi ở của Thái Thượng Lão Quân.

(2) Sáu sự lạ đất Thiên Bản (Thiên Bản lục kỳ):Thần Tam Ranh Sừng Sỏ Sắt, đời vua Hùng Thuận Tông; Cường Bạo đại vương, đời Đinh Lê; Trạng nguyên Lương Thế Vinh, đời Lê Sơ;

Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Bà chúa Thông Khê, Điền Quận công chống thuỷ quái, đời Lê Trung Hưng.(Chú dẫn theo Thiên Bản lục kỳ, huyền thoại đất Sơn Nam của Bùi Văn Tam).

(3) Con về lễ hội, thơ Trần Minh Ân. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

(4) Mượn ý trong câu: "Nếu không có con mắt nhìn xuyên sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời, thì làm sao có được bút lực ấy" của Mộng Liên Đường chủ nhân viết về đại thi hào Nguyễn Du và Truyện Kiều.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác